Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Phong kiều dạ bạc – Một kiểu ngôn ngữ thơ

Khi nói về ngôn từ của bài “Buồn xưa” của Nguyễn Xuân Sanh (1), ông Đỗ Lai Thúy có nói đến “Cú sốc mà Buồn xưa gây ra, đó là sự phá vỡ tính liên tục của dòng cảm xúc và mạch liên tưởng trong thơ. Các con chữ, các hình ảnh đứng kề cận nhau, làm hàng xóm yêu của nhau mà rào dậu thật kín, tức dường như không có một quan hệ nào với nhau, trước tiên là quan hệ cú pháp. Chính sự đứt đoạn này là nguyên nhân của sự khó hiểu” và “Cả bài thơ như một sự ghép chữ, mỗi dòng thơ là bảy con chữ đứng cạnh nhau một cách ngẫu nhiên”.

Sau đó ông thêm:

Thực ra đọc thơ Đường đôi khi chúng ta cũng có cảm giác như vậy (2). Mỗi câu thơ gồm những cụm từ tạo thành mà chẳng thấy có sự liên kết nào:

Nguyệt lạc/ ô đề/ sương mãn thiên
Giang phong/ ngư hỏa/ đối sầu miên.

(Trương Kế, Phong kiều dạ bạc)

Tranh-minh-hoa---Phong-kieu-da-bac
Tranh minh họa Phong kiều dạ bạc. Nguồn: www.vuonghaida.com

Đọc những lời giảng giải ấy, tôi thấy phân vân! Không lẽ hai bài thơ ấy lại có cách tổ chức ngôn từ giống nhau? Thế thì vì sao bài Phong kiều dạ bạc là bài những người yêu thích thơ Đường hầu như ai cũng thuộc, cũng thích. Trong khi bài “Buồn xưa” thì rất hiếm có người thích vì cả đến các học giả, nhà văn cũng không hiểu nổi? Có điều gì phải lý giải ở đây?

Ông Đỗ Lai Thúy giải thích sự khác nhau đó là do:

Tuy nhiên sự giảm thiểu đến tối đa chức năng cú pháp ở đây (ở Phong kiều dạ bạc) được bù lại bằng sự ngắt nhịp cố định, sự đăng đối trong nội bộ một câu thơ và giữa những câu thơ với nhau, và toàn bộ niêm luật của bài thơ, nên câu thơ vẫn hiểu được. Nhưng ở Buồn xưa thì không có sự bù trừ đó. Ngự trị thi phẩm dường như là một qui luật không có qui luật, là sự bất định hay sự tự do tuyệt đối. Ở đây mặt bằng hữu thức bị rạn nứt, lôgích bị phá vỡ. Bài thơ đã bắt đầu có sự tham dự của tiềm thức và vô thức với tư cách là đồng chủ thể sáng tạo.

Tôi không nghĩ như vậy.

Hãy đọc lại cả bài Phong kiều dạ bạc:

Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên
Cô Tô thành ngoại Hàn san tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.

(Bản dịch tương truyền của Nguyễn Hàm Ninh:

Trăng tà chiếc quạ kêu sương
Lửa chài cây bãi sầu vương giấc hồ
Thuyền ai đậu bến Cô Tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San)

Quả thật đọc bài thơ ở nguyên văn, ta thấy có sự “đứt đoạn” giữa các ngữ đoạn gồm hai ba từ như cái cảm giác của ông Đỗ Lai Thúy. Nhưng sự “đứt đoạn” ấy có giống sự “đứt đoạn” ở nhiều câu trong Buồn xưa?

Quỳnh hoa chiều đọng nhạc trầm mi…
Ngàn mày tràng giang buồn muôn đời…

Không có sự “giống nhau” ở đặc điểm “đứt nối” ông Thúy phát hiện!

Trước hết mối quan hệ ngữ pháp giữa Từ và Từ ở Phong kiều dạ bạc rất được tôn trọng. Vẫn có sự tương hợp ngữ nghĩa giữa các từ. Nguyệt thì lạc, ô thì đề. Không có những kết hợp như những câu sau ở Buồn xưa (chữ in nghiêng).

Tỳ bà sương cũ đựng rừng xa
Buồn hưởng vườn người vai suối tươi
Ngàn mày tràng giang buồn muôn đời
Môi gợi mùa xưa ngực giữa thu
Duyên vàng da lộng trái du ngươi.

Lại phải nói về sự “đứt quãng” giữa các ngữ trong bài Phong kiều dạ bạc. Tôi nghĩ khác ông Thúy. Không phải nhờ “được bù lại bằng sự ngắt nhịp cố định, sự đăng đối trong nội bộ một câu thơ và giữa những câu thơ với nhau, và toàn bộ niêm luật của bài thơ, nên câu thơ vẫn hiểu được”. Thực ra khi miêu tả cảnh vật quan sát được thì người ta đâu phải lúc nào cũng chỉ thấy các sự vật “liền mạch” có quan hệ láng giềng thân thiết với nhau! Các chi tiết của cảnh có thể chẳng có mối liên hệ chặt chẽ với nhau lắm! Chỉ có điều ở bài thơ này, sự cố ý đặt các sự vật ấy đứng cạnh nhau là có dụng ý! Cái con người đang cô đơn nơi đất khách ấy đưa mắt uể oải quan sát, thấy gì ghi nấy, chúng đều là những sự vật rời rạc đơn lẻ xuất hiện trong cảnh tĩnh lặng không chút ấm áp của chữ “tình”! Rất phù hợp với tâm trạng buồn cô quạnh của người khách phiêu bạt! Cái cảnh ấy thấm buồn và truyền được cảm xúc tới người đọc thơ làm cho họ “hiểu” và “cảm” được! Có đâu như sự “đứt quãng” không ai “hiểu” nổi để mà “cảm”! (3).

Tôi nhận thức sự khác nhau trong việc “tổ chức ngôn từ” ở hai bài thơ ấy như vậy, và thiển nghĩ rằng không thể đưa ra sự so sánh giữa chúng như thế. Làm thế chẳng “làm dễ tiếp nhận” hơn, nâng giá trị lên hơn cho loại thơ “Buồn xưa”.

Cuối cùng xin nói thêm một điều. Bài thơ Phong kiều dạ bạc đã dựng được một cảnh tĩnh lặng. Ở đây hầu như không có sự hoạt động chủ động nào. Vì vậy trong nhiều bản dịch để “quạ kêu”, “khách nghe” có thể là không chú ý lắm đến cái đặc điểm này ở bài thơ. Có bản dịch đề “tiếng quạ”, “chuông vẳng” có thể đã chú ý điều này.
Mạo muội bàn một chút về một bài thơ chữ Hán cũng là thứ “đánh trống qua cửa nhà sấm”. Có điều gì thất thố xin được châm chước.

Lê Dân
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 391

————————–

(1) Xem bài Nguyễn Xuân Sanh với “Buồn xưa” trong Tạp chí Sông Hương, số 164 – 10/2002.
(2) Ông Trần Đình Sử cũng có nhận xét tương tự như vậy: “Những câu bảy chữ, năm chữ nối nhau không theo qui luật ngữ điệu, giọng điệu mà theo các qui tắc niêm đối. Ứng với lối cú pháp có tính độc lập ấy từ ngữ (trước hết là chữ) trong câu có tính độc lập rất cao, không lệ thuộc chặt chẽ vào qui tắc ngữ pháp thông thường (ví dụ thơ Trương Kế “nguyệt lạc ô đè sương mãn thiên..). (Bài Thơ Mới và sự đổi mới thơ trữ tình, trang 584-585, Tuyển tập Trần Đình Sử, tập 2).
(3) Nhân đây cũng nên nhắc lại điều nhà giáo, nhà nghiên cứu Đặng Thai Mai nói về chuyện “hiểu” chuyện “cảm” khi đọc thơ văn “Cảm thấy hay chưa đủ. Có hiểu là hay, sự thưởng thức mới có nghĩa lý và có tác dụng” (Giảng văn Chinh Phụ Ngâm, in lại ở cuốn Trên đường nghiên cứu và giảng dạy tác phẩm văn chương, Nxb Giáo dục – 2002).

%MCEPASTEBIN%

Ý Kiến bạn đọc