Văn học nước ngoài

Phố thất lạc

Truyện ngắn này được cho là viết bởi Patrick Waddington, người từng là một nhà báo của Ban Quốc tế Đài CBC (Canada). Ông được biết đến là chồng của nữ nhà thơ, nhà văn viết truyện ngắn và dịch giả nổi tiếng người Canada của thế kỷ XX Miriam Waddington. (Nguồn: fiction.eserver.org)

Marc Girodin đã làm việc cho bộ phận văn thư của ban kỹ thuật tòa thị chính lâu tới mức thành phố đã trải ra trong đầu anh như một tấm bản đồ, đầy những cái tên và địa điểm, những con phố giao nhau không dẫn tới đâu hết, những ngõ cụt và đường hẻm quanh co.

Trong toàn Montreal không một ai có được sự am hiểu như thế; một tá cảnh sát và tài xế tắc-xi hợp lại với nhau cũng không sánh được anh. Nói thế không có nghĩa là anh thực sự biết những con phố mà mình có thể kể tên ra như một loạt những câu thần chú vì anh đâu có đi nhiều. Anh chỉ đơn thuần biết là chúng có tồn tại, chúng ở đâu, và mối quan hệ giữa vị trí của chúng mà thôi.

Nhưng thế cũng đủ giúp anh trở thành chuyên gia. Anh hiểu rõ mấy cái tủ đựng tài liệu lưu trữ chứa mọi chi tiết về mọi con đường từ Abbott tới Zotique ngược xuôi trong bảng chú dẫn. Đám người quyền quý, kỹ sư, thanh tra đường ống dẫn nước chính và những người đại loại như thế, tất cả đều đến chỗ anh khi muốn có gấp thông tin chi tiết nào đó. Họ có thể coi thường một nhân viên văn thư cấp thấp như anh nhưng họ đều cần anh.

Dù phòng làm việc của Marc thiếu hẳn hứng thú làm việc nhưng anh vẫn thích nó hơn căn hộ của mình trên phố Oven nhiều (con phố này chạy từ bắc xuống nam, từ Đông Sherbrooke tới St. Catherine), nơi hàng xóm của anh ồn ào và thỉnh thoảng bạo lực nữa, còn bà chủ nhà của anh vẫn kiên định như vậy. Anh từng một lần cố giải thích ý nghĩa sự hiện hữu của mình cho một người cùng thuê nhà tên Louis nghe nhưng không thành công mấy. Louis có khuynh hướng nhạo báng khi anh ta hiểu được đại ý vấn đề.

“Vậy là phố Craig nối đuôi Bleury còn Bleury dẫn tới công viên, ai quan tâm chứ? Sao lại phấn khích vậy?”.

“Tôi sẽ chỉ anh”, Marc nói. “Nói tôi xem, đầu tiên, anh ở đâu?”.

“Anh điên à? Ở đây phố Oven chứ còn đâu nữa?”.

“Làm sao anh biết?”.

“Làm sao tôi biết à? Tôi đang ở đây không phải sao? Tôi trả tiền thuê nhà không phải sao? Tôi nhận thư ở đây không phải sao?”.

Marc kiên nhẫn lắc đầu.

“Không cái nào là bằng chứng hết”, anh nói. “Anh sống ở đây trên phố Oven vì trong tủ tài liệu của tôi ở tòa thị chính nói thế. Bưu điện gửi thư cho anh vì bảng chú dẫn của tôi bắt họ làm vậy. Nếu bảng chú dẫn của tôi không nói thế thì anh sẽ không tồn tại và phố Oven cũng không. Bạn ạ, đó là thành tựu của bộ máy quan liêu đấy”.

Louis chán ghét bỏ đi. “Cố mà nói chuyện đó với bà chủ đi”, anh ta lầm bầm.

Thế là Marc tiếp tục sự nghiệp tầm thường của mình, sinh nhật thứ 40 của anh đến rồi đi không có gì đáng chú ý, ngày nối ngày trôi qua trong yên bình. Một con phố được đặt tên lại, một cái khác xây lên, cái thứ ba được mở rộng; tất cả đều cẩn thận đi vào hồ sơ lưu trữ.

Và rồi có chuyện xảy ra khiến anh vô cùng ngạc nhiên, choáng váng và làm cho thế giới những cái tủ đựng hồ sơ run rẩy đến tận mấy cái chân bằng thép của chúng.

Một buổi chiều tháng 8, lúc mở một ngăn kéo ra hết cỡ anh cảm thấy có gì đó vương vướng. Xem xét sâu hơn vào trong, anh tìm ra một bảng chú dẫn kẹt ở đằng sau giữa ngăn trên và ngăn dưới. Anh rút nó ra và thấy rằng đó là một bảng chú dẫn cũ bẩn và bị rách nhưng vẫn đọc được rõ ràng. Nó được gán tên Rue De La Bouteille Verte hay còn gọi là đường Chai Xanh.

Marc nhìn nó chằm chằm kinh ngạc. Anh chưa bao giờ nghe tới địa điểm hay thứ gì có cái tên kỳ cục tương tự như vậy. Chắc chắn nó đã được đổi tên theo kiểu khác để phù hợp với xu hướng hiện đại. Anh kiểm tra những chi tiết trong ghi chép và tự tin xáo mớ hồ sơ tên đường gốc lên. Nó không có ở đó. Anh tìm thêm một lần nữa, cẩn thận và lâu hơn, qua mấy cái tủ. Không có gì hết. Hoàn toàn không có gì.

Một lần nữa anh kiểm tra bảng chú dẫn. Không có sai sót nào hết. Ngày cuối cùng kiểm tra con phố theo thường lệ chính xác là cách đây 15 năm, 5 tháng và 4 ngày.

Sự thật khủng khiếp bất thình lình xuất hiện trong Marc khiến anh thả rơi mảnh giấy trong kinh hoàng, sau đó anh lại sợ hãi vồ lấy nó.

Đó là một con đường bị thất lạc, bị quên lãng. Hơn 15 năm rồi nó tồn tại trong lòng Montreal, cách tòa thị chính không tới một dặm mà không ai hay biết. Nó chỉ khuất khỏi tầm mắt như một hòn đá trong nước.

Trong tim mình, đôi khi Marc đã mơ về một khả năng như thế. Có quá nhiều nơi ít người biết đến, những con hẻm và đường phố đan bện lẫn lộn vào nhau rắc rối như một mê cung Ai Cập. Nhưng tất nhiên chuyện đó không thể xảy ra, không có chuyện đó với tài liệu rõ ràng trong tay được. Chỉ có thể là đã từng xảy ra thôi. Và nó là thuốc nổ. Nó sẽ thổi bay văn phòng lên tận mây xanh.

Marc ngờ ngợ nhớ lại trong kinh ngạc, có một lúc sau khi anh mới bắt đầu đi làm, bộ phận của anh được chuyển tới tầng khác. Những hồ sơ kiểu cũ bị bỏ đi và tất cả các bản ghi chú được làm mới. Chắc hẳn chính là lần đó mà đường Chai Xanh bị kẹt giữa ngăn trên và ngăn dưới.

Anh bỏ mảnh giấy vào túi và về nhà suy nghĩ. Tối hôm đó anh ngủ lơ mơ và thấy những hình dáng kỳ quái lướt qua trong mơ. Trong số đó có một bức chân dung khổng lồ của sếp anh đang nổi cơn tam bành và bắt anh chui vào một cái tủ hồ sơ nóng đỏ.

Hôm sau anh quyết làm một việc. Lấy lý do bị bệnh, anh nghỉ buổi chiều và háo hức đi tìm con phố.

Dù anh biết rõ vị trí nhưng vẫn đi qua đó hai lần và phải trở lại đường cũ. Bối rối, anh nhắm mắt lại tra cứu tấm bản đồ không thể sai sót của trí nhớ mình và đi thẳng tới lối vào. Nó hẹp tới mức anh có thể dang tay chạm hai bức tường hai bên. Cách vỉa hè khoảng 1 mét là một cấu trúc bằng gỗ cao và vững chắc đã hư hỏng nhiều vì mưa gió với một cánh cửa cài then giản dị ở chính giữa. Anh mở nó ra bước vào trong. Đường Chai Xanh nằm trước mắt anh.

Nó hoàn toàn có thật, và cũng làm người ta yên lòng nữa. Cả hai bên vỉa hè rải sỏi đều có 3 ngôi nhà nhỏ, tất cả là 6, mỗi cái đều có một khu vườn nhỏ xíu trước mặt nhà, cách nhau bởi hàng cọc rào sắt kiểu đã biến mất ngoại trừ ở những miền cổ xưa nhất. Các ngôi nhà nhìn cực kỳ gọn gàng, được giữ gìn kỹ lưỡng và mớ sỏi xem ra gần đây mới được tưới nước và quét tước. Những bức tường gạch không có cửa sổ của mấy cái kho chứa đồ xưa cũ bao quanh 6 ngôi nhà và hợp lại ở cuối con phố.

Mới thoáng nhìn, Marc đã nhận ra làm sao nó lại có được cái tên khác thường như vậy rồi. Trông nó giống hệt hình dáng một cái chai.

Với mặt trời chiếu sáng trên những tảng đá, những mảnh vườn và bầu trời xanh trên đầu, con phố tạo cho anh cảm giác tạm thời về sự sung túc và thanh bình. Nó thật quyến rũ, một cảnh lấy từ một bức tranh cách đây 50 năm.

Một người phụ nữ mà Marc đoán khoảng 60 tuổi đang tưới hoa hồng trong khu vườn của ngôi nhà đầu tiên phía bên phải anh. Bà ấy nhìn anh bất động và nước trong chiếc bình chảy xuống đất không ai để ý hết. Anh lấy mũ xuống và giới thiệu: “Tôi đến từ ban kỹ thuật thành phố thưa bà”.

Người phụ nữ tỉnh trí lại và bỏ bình tưới xuống.

“Vậy là cuối cùng anh cũng tìm ra”, bà ấy nói.

Khi nghe những lời này, niềm tin mới được tái sinh của Marc cho rằng rốt cuộc thì anh đã gây nên một sai lầm vô hại và kỳ cục một cách thiếu suy nghĩ.

“Hãy cho tôi biết đi”, anh nói yếu ớt.

Đó là một câu chuyện lạ lùng. Trong nhiều năm trời, bà ấy nói, người thuê nhà ở đường Chai Xanh đã sống thân thiết bên nhau và với chủ nhà, người cũng sống một trong những ngôi nhà nhỏ. Người chủ trở nên gắn bó với họ tới mức trong một hành động đầy thiện chí, ông ấy đã nhượng lại cơ ngơi của mình cùng với khoản tiền nhỏ khi ông mất.

“Chúng tôi đã nộp thuế”, người phụ nữ nói, “lập ra vô số mẫu đơn và lâu lâu lại trả lời những câu hỏi của nhiều viên chức về đất đai của chúng tôi. Thế rồi một khoảng thời gian sau chúng tôi chẳng nhận được thông cáo nào hết, thế nên chúng tôi không nộp thuế nữa. Không một ai làm phiền chúng tôi. Phải mất một thời gian lâu sau chúng tôi mới hiểu rằng bằng cách này hay cách khác người ta đã quên mất chúng tôi rồi”.

Marc gật đầu. Tất nhiên, nếu đường Chai Xanh đã lọt ra ngoài tầm hiểu biết của tòa thị chính thì sẽ không có thanh tra nào đi đến đó hết, không cán bộ điều tra dân số, không người thu thuế. Mọi thứ sẽ trôi qua trong vui vẻ hướng đến nơi nào khác bởi cái tủ hồ sơ không thể sai lầm.

“Sau đó Michael Flanagan sống ở số 4”, bà ấy tiếp tục, “người đàn ông thú vị nhất, anh phải gặp ông ấy đấy – ông Flanagan gọi chúng tôi lại và nói rằng nếu có điều kỳ diệu xảy ra thì chúng tôi nên đồng lõa với nó. Ông ấy chính là người xây cái cửa ở lối vào để ngăn khách qua đường hay viên chức có thể ghé qua. Chúng tôi từng khóa nó nhưng đã lâu rồi không có ai đến, thế nên giờ chúng tôi không lo nữa.

“À, có nhiều thứ lặt vặt chúng tôi phải làm như tới bưu điện lấy thư và không bao giờ nhận được hàng giao tận cửa. Giờ thì gần như chúng tôi chỉ ra thế giới bên ngoài khi cần mua đồ ăn và quần áo thôi”.

“Suốt từ đó tới giờ nơi này có thay đổi chút nào không?”, Marc hỏi.

“Có đấy, hai người bạn qua đời, và phòng của họ không ai ở một thời gian. Sau đó Jean Desselin – anh ấy sống ở phòng số 6 và thỉnh thoảng đi vào thành phố – quay lại với ông Plonsky, một người tị nạn. Ông Plonsky lúc đó rất mệt mỏi với những chuyến đi của mình và vui mừng chuyển đến với chúng tôi. Cô Hunter phòng số 3 mang về nhà một người rất tốt – một người họ hàng xa, tôi nghĩ vậy. Họ khá là hiểu tình cảnh này”.

“Còn bà thì sao?”, Marc hỏi.

“Tên tôi là Sara Trusdale, và tôi đã sống ở đây hơn 20 năm. Tôi hy vọng mình cũng sẽ ra đi ở đây”.

Bà ấy dịu dàng cười với anh, trong một lát hình như đã quên mất rằng anh mang trong túi một quả lựu đạn có thể thổi bay thế giới nhỏ của họ tan tành.

Có vẻ ai trong số họ cũng đều có rắc rối, mất mát và thất bại của riêng mình trước khi tìm thấy mình ở chốn nương thân này, đường Chai Xanh này. Đối với Marc, với ý thức về sự tồn tại không tốt đẹp của riêng anh, điều đó nghe có vẻ mê hoặc. Anh ngập ngừng sờ mảnh giấy trong túi.

“Ông Plonsky và ông Flanagan thích nhau lắm”, bà Trusdale tiếp tục. “Cả hai bọn họ đều từng là người hay đi và họ thích nói về những thứ mình từng thấy. Cô Hunter chơi dương cầm và thường biểu diễn cho chúng tôi nghe. Rồi có ông Hazard và ông Desselin rất thích cờ vua và ủ rượu trong tầng hầm. Còn tôi thì có hoa lá và sách. Tất cả chúng tôi đều sống rất thú vị”.

Marc và bà Trusdale ngồi trên bậc cầu thang trước nhà bà một lúc lâu trong yên lặng. Màu xanh của bầu trời tối lại, mặt trời biến mất đằng sau bức tường kho chứa hàng phía bên trái.

“Anh làm tôi nhớ tới thằng cháu tôi”, bà Trustdale đột ngột nói. “Nó là một thằng bé đáng mến. Tôi rất đau khổ khi nó mất trong dịch cúm sau chiến tranh. Tôi là người cuối cùng trong gia đình mà”.

Marc không tài nào nhớ lại được có bao giờ người ta lại nói chuyện với anh với thiện chí giản dị đến thế. Trái tim anh ấm áp lên vì người phụ nữ lớn tuổi này. Anh mơ hồ cảm thấy như sắp có được một khám phá tinh thần vĩ đại. Anh lấy mảnh giấy trong túi ra.

“Hôm qua tôi tìm thấy thứ này trong tủ hồ sơ”, anh nói. “Chưa người nào khác biết về nó hết. Nếu nó mà lộ ra thì hẳn sẽ có một vụ lùm xùm lớn, và tất cả mọi người ở đây sẽ không ngừng gặp rắc rối nữa. Nhà báo, nhân viên thu thuế…”.

Anh lại nghĩ về bà chủ nhà của mình, những người hàng xóm thù địch, căn phòng thách thức mọi việc sửa sang của mình. “Tôi tự hỏi”, anh chậm rãi nói, “Tôi là một viên chức mẫn cán, và không biết…”.

“Ồ, được chứ!”, bà ấy nhoài người tới một cách hăng hái, “anh có thể dọn đến ở tầng trên nhà tôi. Chỗ tôi ở rộng quá không biết làm gì với nó nữa. Tôi đảm bảo nó sẽ hợp với anh. Anh phải đến coi nó liền đi”.

Tâm trí Marc Girodin, nhân viên văn thư, đã quyết chí. Với một biểu hiện từ bỏ, anh xé toạc mảnh giấy và thả chúng vào bình tưới. Về phần anh, đường Chai Xanh sẽ vẫn thất lạc mãi mãi.

Patrick Waddington (Canada)
Trương Thị Mai Hương (dịch)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 393

Ý Kiến bạn đọc