Văn học nước ngoài

Phép màu

 

Chúng tôi đồng loạt ngẩng đầu lên, mỉm cười kính chào vị mục sư đang sải bước lên bục. Ông quay lại, đưa cả hai tay lên rồi hạ xuống, ngước cằm và bắt nhịp cho chúng tôi cùng cầu nguyện. “Lạy Chúa trên cao! Chúng con đến đây nhân dịp phục tín này, cầu xin Người ban cho phước lộc dồi dào. Chúng con sống ở Mỹ vì có lý do, mỗi người là một đại diện cho hàng chục, đôi khi cả hàng trăm anh em bà con chốn quê hương. Rất nhiều người đang trông chờ vào chúng con và gánh nặng trên vai thật là lớn. Chúng con cầu nguyện không còn cực nhọc như trước. Chúng con mong Ngài hãy xót thương và ban ân đức, Amen!”.

Dứt lời, vị mục sư ngồi xuống. Trên hàng ghế đầu, một người đứng lên và bước đến bên cây đàn piano điện tử cũ, dạo vài bài phúc âm tiếng Nigeria. Chúng tôi hát theo từ bài ca về sự cứu chuộc đến những giai điệu hy vọng, cầu mong ngày mai sẽ đẹp hơn hôm nay và một tương lai không xa, cuộc sống sẽ mỹ lệ như những giấc mơ đã đưa mình đến Mỹ.

Tiếng nhạc dừng, vị mục sư lại đứng dậy. Ông lớn tiếng đọc to những lời cầu nguyện. Mỗi câu của ông đều chất chứa sự van lơn và chân thành. Thâm tâm chúng tôi không ngừng hỏi, liệu có phải đã đến lúc mong muốn của mình thành hiện thực. Tiếng “Amen!” cuối cùng của vị mục sư dường như đầy thách thức chứ không phải xin xỏ. Chúng tôi đáp lại bằng tiếng “Amen!” vang dội hơn và mở mắt ra. Trước mặt mọi người, cha xứ nâng cao cánh tay hướng về phía sau nhà thờ. Một ông già thấp bé, được hai người đỡ hai bên xuất hiện. Nhiều người ở đây từng thấy và biết đó là nhà tiên tri. Ông ấy thực hiện các phép màu tưởng chỉ có trong kinh thánh như đuổi bay bệnh nan y, khiến kẻ tàn tật phục hồi, người nghèo hóa giàu có. Chúng tôi từ khắp Texas, Oklahoma, Arkansas, Louisiana, New Mexico… đổ về đây để được diện kiến người này. Chúng tôi cầm sách, băng cát-xét, dội nước thánh, xức dầu của ông. Ngay cả những người mới lần đầu gặp cũng biết ông là hiện thân của Chúa. Và họ cũng như chúng tôi, đến đây vì phép lạ.

Chúng tôi cần thành tích. Chúng tôi cần việc làm. Chúng tôi cần thẻ xanh. Chúng tôi cần hộ chiếu Mỹ. Chúng tôi cần cha mẹ hiểu mình là người Mỹ. Chúng tôi cần con cái biết chúng mang nguồn gốc Nigeria. Chúng tôi cần quả thận, trái tim, lá phổi, tứ chi mới. Chúng tôi cần quên đi sự khốn khó mỗi ngày, lấp đầy tâm hồn bằng niềm tin, tình yêu và ước mơ.

Chúng tôi muốn có phép màu.

Nhà tiên tri được dìu đi vì hai mắt đều bị mù. Ông không thể thấy những điều kỳ diệu mà mình đã thực hiện, nhưng chính sự khiếm thị ấy lại mang ý nghĩa lớn. Nó đại biểu cho việc, con người này đã gánh thay gánh nặng của chúng sinh. Chính trong tăm tối, nhãn tâm linh khai sáng. Nó giúp ông tỏ cả những gì mà chúng tôi không thể thấy.

Trên bục, hai kẻ hầu cận xoay nhà tiên tri quay lại, đối diện với chúng tôi. Đầu ông ấy gần như hói sạch, chỉ còn vài cọng tóc bạc bám lưa thưa. Cặp kính râm màu đen quá khổ che kín nửa khuôn mặt. Chiếc áo choàng màu trắng rộng thùng thình thắt nút trên cổ, thõng vạt vải dài chấm đất.

Sau vài phút im lặng, nhà tiên tri bất chợt nở nụ cười. Ông cất tiếng, ngân nga một làn điệu lạ lùng đầy ám ảnh. Người đánh đàn lúng túng gõ phím piano. Nhà tiên tri phất mạnh tay, ra hiệu dừng lại. Ông tiếp tục hát. Chúng tôi im lặng nghe. Đột ngột, ông quay phắt sang bên trái và chỉ lên trần nhà: “Ta ra lệnh cho ngươi lập tức rời khỏi chỗ này!”. Chúng tôi biết, ở đó có một linh hồn tà ác. Mỗi nơi cặp mắt mù lòa đó hướng đến, chúng tôi đều hồi hộp dõi theo. Dù chẳng thấy gì, chúng tôi nhiệt tình hưởng ứng. Giọng Yoruba, tiếng Anh lẫn lộn trong những câu la hét, tiếng khạc nhổ, lời hát. “Chúng ta phải liên tục cầu nguyện, hỡi các quý vị! Có rất nhiều linh hồn tà ác quanh đây và chúng ngăn cản buổi lễ này thành công. Nếu mọi người đồng lòng, chúng sẽ bị thổi bay hết. Ôi không, chúng quá kiên gan! Chỉ cầu nguyện thôi là chưa đủ, chúng ta phải chiến đấu!”.

So-611--Anh-minh-hoa---Phep-mau---Anh-1
Nguồn: allabouteyes.com.

Chúng tôi lớn tiếng hơn, không còn phân biệt nổi giọng của ai với ai nữa. Sau nhiều phút, nhà tiên tri giơ tay ra phía trước: “Đủ rồi! Tất cả chúng đã biến mất”. Chúng tôi hết sức vui mừng. Nhà tiên tri lắc lư thân mình giữa những tiếng cười hạnh phúc. Ông hắng giọng, đưa tay lần tìm micro. “Tôi đã ở Mỹ được hai tháng rồi. Tôi đã đến New York, Delaware, Philadelphia, Washington, Florida, Atlanta, Minnesota, Kansas, Oklahoma và bây giờ, tôi đang ở đây”. Chúng tôi cổ vũ nhiệt liệt. “Trước khi rời khỏi đây, tôi sẽ ghé Houston và San Antonio nữa”, ông tiếp tục. “Sau đó, tôi còn tới Nevada và cả California. Bất cứ nơi nào trên vùng đất này có người Nigeria, tôi đều sẽ đến. Nhưng tại tất cả những nơi đã thăm, tôi cảm thấy sức mạnh ơn đức ở đây là mạnh mẽ nhất”.

Chúng tôi vỗ tay và ôm chầm lấy nhau. “Nguyên nhân chính là Đức Chúa Trời đã biết, các bạn giàu đức tin với Ngài hơn bất cứ nơi nào. Quý vị không hề quên cha mẹ, anh chị em, những người đã giúp mình đến đây và cầu nguyện cho mình mỗi ngày. Dẫu sống giữa vùng đất đầy cám dỗ, các bạn vẫn siêng năng và trung thực. Vì lẽ đó, đấng trên cao thưởng cho mọi người một ngày hôm nay”.

Chúng tôi ngước mặt, giơ cao tay, bày tỏ sự biết ơn sâu sắc. Chúng tôi cúi đầu, rơi nước mắt vì xúc động tận đáy lòng.

“Để phước lành được tròn đầy, quý vị phải thành tâm cầu nguyện hơn bao giờ hết. Quý vị cần tin tưởng Thiên Chúa hơn nhiều lần trước đây. Không gì quan trọng hơn đức tin. Hôm nay, tôi sẽ chỉ nói về đức tin. Ở đất nước này, người ta cho rằng đức tin chỉ ứng với kẻ giàu. Tôi đứng đây để khẳng định, đức tin bao trùm tất cả. Chỉ cần có đức tin, bạn sẽ có đô la”.

Chúng tôi im lặng, lục lọi các mầm mống nghi ngờ đang lẩn trốn trong những góc khuất kín kẽ nhất của trái tim. Chúng tôi đều biết, phải diệt sạch chúng thì mới có thể trọn vẹn đón đức tin bước vào.

“Hôm nay, phép màu sẽ xảy ra tại đây. Dù nhiều năm sau đi nữa, mọi người cũng vẫn nhớ đến ngày này. Và điều duy nhất khiến bạn không thể nhận lấy nó là thiếu đức tin”. Nói đến đây, nhà tiên tri gục đầu xuống ho dữ dội. Một trong hai người đã dìu ông vội lao tới với chiếc khăn tay. Ông ho thêm vài tiếng vào chiếc khăn, lau miệng rồi ngước mặt về phía chúng tôi mỉm cười. “Tôi chỉ là một lão già thôi, nên quý vị hãy thông cảm cho tôi nhé! Hãy cầu nguyện cho tôi nào!”.

“Chúng tôi cầu nguyện cho ngài”, mọi người cùng hô vang.

“Chính là như thế! Các bạn cầu nguyện cho tôi và tôi cầu nguyện cho các bạn”.

“Cảm ơn ngài! Amen!”.

“Vì các bạn đã thành khẩn như vậy, Chúa đồng ý ban ân điển. Ngài đang nói với tôi, có những người đã phải vật lộn với đau đớn vì tật nguyền suốt nhiều năm ở đây. Ngài cũng nói, những người đó đã âm thầm chịu đựng, coi chúng như thể là một phần của chính mình. Tôi ở đây để nói với họ rằng, đừng nên xem nỗi khổ như chuyện đương nhiên nữa! Nước Mỹ đòi bạn phải chấp nhận thất bại, lùi bước. Hãy phản kháng! Đã đến lúc đòi lại mọi thứ thuộc về mình”.

Đúng lúc này, cặp kính râm rơi khỏi khuôn mặt nhà tiên tri. Trước mắt chúng tôi, đôi con ngươi mù lòa đục ngầu đột nhiên lóe sáng. Người hầu cận nhanh chóng cúi xuống, nhặt chiếc kính lên đeo lại cho ông. “Tôi không thực hiện phép màu vì bản thân”, nhà tiên tri bình thản tiếp tục. “Tôi làm nó vì Chúa muốn thông qua tôi, ban ân phước cho mọi người. Và bây giờ, Chúa đang chỉ cho tôi người đó là anh bạn này. Vâng, chính là cậu đấy, lên đây đi nào!”.

Tôi vô thức bước lên phía trước và nhận ra mình đứng lẻ loi. Ánh đèn quá sáng còn không khí thì ẩm ướt, như thể có một đám sương mù vương trên mặt. “Nào, anh bạn trẻ! Bước đến đây! Hãy bước tới đây và nhận phép màu dành cho mình!”, nhà tiên tri chỉ thẳng vào tôi. Bỗng chốc, tôi cảm giác có thứ gì đó đỏ rực và đáng sợ sôi sục trong bụng. Chân tôi bất giác di chuyển như thể vừa bị bàn tay nào đó đẩy vào lưng.

Nhà tiên tri tiến tới gần, đặt bàn tay lên đầu và ấn tôi quỳ xuống. “Chàng trai trẻ, cậu có tương lai rất tuyệt vời ở phía trước nhưng tôi lại thấy dường như có thứ gì đang cản trở. Hình như là một căn bệnh, nó khiến cậu ốm yếu và mất tinh thần. Nói cho tôi nghe đi, có phải cậu cảm thấy thở thật khó khăn không?”.

Tôi vốn bị hen suyễn. Những lúc tâm trí bấn loạn, tôi thường bị khó thở. Chẳng lẽ ông ấy nghe thấy tiếng khò khè của tôi? “Vâng ạ!”, tôi trả lời. “À, cậu không cần phải xác nhận đâu. Bây giờ, tôi sẽ chữa cho cậu ngay. Chúa đã nói cho tôi biết loại phước lành mà cậu cần rồi”.

Nhà tiên tri đưa tay lướt qua mặt tôi, làm cặp kính cận rơi xuống đất. Mọi thứ trước mắt tôi lập tức trở nên mù mờ. “Cậu đã đeo kính bao lâu rồi?”, ông hỏi. “Từ năm 5 tuổi ạ”, tôi trả lời. “Mắt cậu nhìn kém đến mức nào vậy?”. “Cực tệ ạ!”.

Ở trường, tôi là học sinh đeo kính cận dày nhất. Nhiều năm trôi qua, nó khiến cho mắt tôi lồi ra như hai con ốc. Nhà tiên tri buông tay khỏi đầu tôi, huơ huơ trước không trung. Người đàn ông đứng gần liền tháo micro, đặt vào tay ông. “Tôi có biết một chút về mắt”, ông lên tiếng, giọng có chút đùa giỡn nhưng không ai cười. “Một chàng trẻ thế này thì không nên phải đeo cặp kính dày như thế”. Mọi người xì xầm tán thành. “Cậu đã quá dễ dãi với nỗi khổ của bản thân rồi đấy”, nhà tiên tri nói với tôi. “Và đó cũng chính là vấn đề ở đất nước này”. Mọi người gật đầu đồng tình. “Chúng ta cứ cam chịu mọi thứ thay vì cầu xin Chúa giúp đỡ”. Mọi người gật đầu nhiệt tình hơn. “Để tôi nói cho các bạn biết điều này”, nhà tiên tri lớn tiếng. Giọt mồ hôi chảy trên mặt ông rơi xuống đầu tôi bỏng rát. “Thượng đế đã ban các căn bệnh để tỏ quyền uy, làm con người phải cúi đầu thuần phục. Chống đối Ngài thì chỉ có chúng ta bị thiệt. Lý do khiến chúng ta khổ nhục giữa nước Mỹ này là vì không biết cách xây dựng mối quan hệ với Chúa. Bước đầu tiên để đến gần Ngài là hãy chứng tỏ bạn ngoan đạo, thành thật khai báo tất cả các khúc mắc cũng như bệnh tình của mình và xin Ngài chữa lành”.

Sau lưng tôi, tiếng “Amen!” nổi lên, áp đảo mọi âm thanh. Tôi nheo mắt để nhìn nhưng chỉ thấy những gương mặt mờ ảo. “Bây giờ, tôi sẽ cầu xin Chúa chữa lành đôi mắt cho chàng thanh niên đã quen với dị tật này. Nhưng trước lúc đó, tôi phải hỏi thêm một câu: Cậu đã sẵn sàng đón nhận phép màu chưa?”.

Tôi cố nhìn đám đông, phát hiện có vài người gật đầu. Kỳ thực, tôi chưa bao giờ dám nghĩ đến cuộc sống không cần kính. Trí óc tôi đột ngột tràn ngập đầy viễn tưởng đẹp đẽ của đôi mắt sáng hoàn hảo. Tôi thấy mình thoải mái chơi bóng rổ mà không cần sợi dây giữ kính cột sau ót. Tôi thấy những buổi tối ngủ say sưa, thoát khỏi cơn nhức đầu kinh niên vì đeo kính suốt cả ngày.

“Cậu đã sẵn sàng chưa?”, nhà tiên tri hỏi lại một lần nữa.

Tôi cảm nhận rõ nét sự bồn chồn của mọi người. Những tiếng “Amen!” của họ giáng tới tấp xuống đầu, khiến tôi không sao ngẩng lên nổi. Hai người dìu nhà tiên tri kéo tôi đứng dậy, nhấc xuống sàn. Một người chuyển qua phía sau lưng tôi. Tôi liếc qua vai, thấy anh ta đứng dang rộng hai tay.

“Tôi cảm nhận được một năng lượng mạnh mẽ đang trào lên trong người mình”, nhà tiên tri hú hét. “Đây đúng là phép màu cực lớn. Tôi lập tức chuyển nó sang cho cậu đây!”. Người đang đứng cạnh tôi sải bước lên bục, đỡ ông xuống đứng trước mặt tôi. Tôi nhận ra, nhà tiên tri còn thấp hơn mình tưởng tượng. Ông chỉ cao hơn tôi vài centimet. Hơi thở nóng rực của ông phả vào mặt tôi. Tôi phải cố kiềm chế để không đưa tay lên dụi mắt.

Nhà tiên tri tháo chiếc kính râm. Cặp mắt vô hồn của ông khiến tôi phát hoảng, né về phía bên phải. Ông nghiêng đầu qua cùng lúc, làm tôi phải né về phía bên trái, nhưng vẫn thấy đôi con ngươi màu trắng đục. Miệng nhà tiên tri nở nụ cười tinh quái, “Đừng tránh chứ! Tôi có thể nhìn thấy cậu qua nhãn thiêng kia mà”. Tim tôi đập loạn xạ. “Sau khi nhận phép màu này, cậu sẽ là một con chiên ngoan đạo và cũng có thể trao phép màu”, ông tiếp tục.

Trước khi tôi kịp đáp lời, tay phải của nhà tiên tri đã giáp mặt. Ông chưởng một phát vào thái dương, khiến tôi loạng choạng. Tôi quay đầu nhìn đám đông. Mắt tôi vẫn chưa thấy rõ từng người nhưng chẳng hiểu sao, lại nhận ra rất nhiều biểu cảm vui mừng khác nhau. Giữa các khuôn mặt mờ ảo, tôi cố tìm ra anh trai, người có cùng nỗi ngờ vực với phép màu giống như mình. Chúng tôi trao cho nhau ánh mắt bối rối và sợ hãi. Nhà tiên tri tiếp tục ấn lên thái dương của tôi hết lần này đến lần khác. Hai kẻ hầu cận ông thì mặc kệ tôi, chăm chú nhìn vào mắt ông ta.

Phía bên dưới, mọi người bắt đầu dậm chân sốt ruột. Đúng lúc đó, nhà tiên tri hét lớn: “Linh hồn tà ác trong đây rất ương ngạnh, không chịu rời đi”. Nỗi bất an nở phồng như quả bóng bay bị thổi, nén chật không gian nhà thờ. Những tiếng “Amen!” lại nổi lên.

“Muốn chữa lành cho cậu bé này cần đến cả quyền năng đặc biệt nữa. Hãy cởi áo choàng xuống cho tôi!”, nhà tiên tri sai phái. Một người hầu cận lôi tấm áo choàng trên lưng ông xuống, khoác lên người tôi. Dáng vẻ nhỏ thó của nhà tiên tri càng nhỏ thó và ít oai vệ hơn.

“Trong lúc tôi đang truyền phép màu, mọi người cũng phải cầu nguyện. Xin hãy cầu nguyện cho tôi có đủ sức mạnh để chiến thắng linh hồn tà ác ám cậu bé này”.

Nhiều cái đầu đua nhau ngẩng lên gật xuống. Tiếng cầu nguyện lớn dần, pha trộn từ cung bậc van vỉ đến gắt gỏng, quát thét.

“Thật tuyệt vời!”, nhà tiên tri phồng má, thổi vào mắt tôi. Tôi đứng yên. Ông lại thổi vào mắt và day thái dương tôi. Hai hành động ấy cứ lặp đi lặp lại trong tiếng cầu nguyện càng mỗi lúc một to. Đột ngột, đôi tay nhà tiên tri thôi chuyển động. Ông ấn mạnh vào hai bên đầu và đẩy cho đến khi tôi ngã ngửa về phía sau. Hai người hầu cận phủ lên tôi một tấm khăn trắng. Nhà tiên tri vỗ tay, tiếp tục lẩm bẩm. Bóng đèn huỳnh quang trên trần sáng chói, tắm tôi trong ánh sáng.

Vài phút sau, nhà tiên tri ngừng lại. “Xong rồi, đỡ cậu ấy dậy đi!”, ông nói. Hai người đàn ông nọ nắm tay tôi kéo lên. Mọi người reo hò. “Chưa đâu, vẫn còn quá sớm”, nhà tiên tri bỗng cắt ngang. “Cậu bé, đừng vội mở mắt”. Quả thực, tôi vẫn đang nhắm mắt. Thật kỳ diệu! Làm sao mà nhà tiên tri mù lại biết? Tôi cảm giác, đôi mắt đang nằm yên dưới làn mi đã có điều gì khác. Tôi nghĩ về phép màu trong nhà mình. Dù mẹ đột ngột ra đi, cha con tôi vẫn vượt qua được cơn khủng hoảng và có mặt ở Mỹ. Cha thường bảo, anh em tôi phải may mắn lắm mới tới được đây. Nếu vẫn ở Nigeria, chúng tôi có thể đã chết hết. So với những khổ sở mà 3 cha con phải chịu đựng, bệnh cận thị của tôi chẳng là gì cả. Chúa chắc chắn sẽ giúp tôi chữa lành. Sự chữa lành này không phải chỉ cho riêng tôi, mà còn cho nhiều người khác nữa – những ai vẫn còn nghi ngờ sức mạnh của Ngài.

“Giờ thì mở mắt của cậu ra nào”, nhà tiên tri thét vang.

Tôi kéo toang rèm mi, trước mắt vẫn là màn sương mù như trước. Mọi người xúm lại, nhốt kín tôi bằng rừng đầu đầy hân hoan. Và tôi biết phải làm gì. “Cháu đã nhìn thấy rồi”, giọt lệ nóng chảy ra khỏi mắt tôi. Những tiếng reo hò, nức nở trào lên phấn kích.

“Chúng ta phải kiểm tra lại đã, để cho chắc chắn”, nhà tiên tri lớn tiếng. Cơn ớn lạnh bò lên sống lưng tôi như con rết. “Chúng ta cần xác nhận để những người chưa tin và cả thế giới biết, phép màu là có thật”. Một trong hai người hầu cận bước ra khỏi chỗ, đứng cách tôi một khoảng xa và giơ tay lên. Đám đông nhiệt tình cổ vũ. “Ba ngón”, tôi hét lớn, thầm cầu nguyện mình đoán đúng. Mọi người ồ lên vui sướng. “Bốn ngón”, tiếng reo hò giảm đi và lặng dần. “Một ngón”, tôi bật khóc và những cái miệng xung quanh lại mở ra, vỡ òa niềm vui.

Điều mà tôi học được trong chuyến viếng thăm nhà thờ đầu tiên này: Cộng đồng được tạo ra từ sự kết hợp của thành thật và dối trá. Cả hai đều không thể thiếu. Sau tôi, nhà tiên tri còn trao phép màu cho nhiều người. Trên đường về, cha tôi vô cùng rạng rỡ. Ở một khía cạnh nào đó, tôi cũng cảm thấy như được chữa lành.

Tối đến, cha nhét cặp kính của tôi vào chiếc túi giấy màu nâu, gấp gọn đặt lên nóc tủ cạnh đầu giường. “Con nên giữ nó làm bằng chứng, để không bao giờ quên quyền năng của Chúa”, ông thì thầm vào tai tôi lúc chúc ngủ ngon.

Sáng ra, tôi tỉnh dậy và chẳng nhìn rõ một thứ gì cả. Đưa tay lên nóc tủ, tôi lấy cái túi xuống và lôi cặp kính ra, đeo lên mắt. Mọi vật lại sắc nét đến từng góc cạnh một cách diệu kỳ.

(Theo Magunga
https://www.magunga.com/miracle-by-tope-folarin/)

So-611--Tope-Folarin---Anh-1

Tope Folarin (Sinh 1981) Là Nhà Văn Người Mỹ Gốc Nigeria Từng Đoạt Giải Caine Dành Cho Văn Chương Châu Phi Năm 2013. Anh Được Đánh Giá Là Một Trong 39 Nhà Văn Cận Sahara Trẻ Có Tiềm Năng Và Xuất Sắc Nhất.

Tope Folarin (Nigeria)
Ninh Thị Thơ (dịch)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 611

Ý Kiến bạn đọc