Văn học nước ngoài

Phép lạ đầu tiên

BÊLEM – NĂM THỨ NHẤT CÔNG NGUYÊN

Hoàng hôn dần buông xuống và những tia nắng cuối ngày hắt luồng ánh sáng yếu ớt qua vuông cửa sổ hẹp dưới hầm. Tất cả đều yên ắng. Hai tay ông lão cứ xoa mãi lên đống tiền vàng lấp lánh nằm trên bàn như thể chúng là một thứ bột nhào mềm mại, mịn màng lắm. Ông có bộ râu hoa râm dài thậm thượt và đôi mắt trũng sâu. Nắng tắt dần và bầu trời bên ngoài cửa sổ chỉ còn một màu nhợt nhạt, xam xám của thứ ánh sáng bị khuếch tán. Những đồng tiền vàng được bỏ vào một chiếc két sắt kiên cố, chắc chắn. Ông cài chốt cẩn thận, khóa hai lần, rồi chậm rãi leo lên cái cầu thang hẹp.

Bây giờ thì ông đang có mặt trong nhà của mình. Ngôi nhà nằm ở vùng ngoại ô, có một vườn hoa rộng bao quanh, cùng một nhà phụ cất bên hông dành cho đám nông dân và bọn tôi tớ ở. Ông chậm rãi đi quanh nhà, ngón trỏ bàn tay phải cứ khoan thai ve vuốt chiếc mũi khoằm mỗi khi ông cất bước. Bỗng, khi bước dọc hành lang, ông chợt lưu ý đến một cánh cửa nhà bị mở tung – cánh cửa mà trước đây ông đã ra lệnh là lúc nào cũng phải khóa chặt. Ông lão dừng lại giây lát. Cơn giận lướt qua người và ông bất chợt hét toáng lên. Một người đầy tớ hốt hoảng chạy tới và lập tức hứng lấy cơn thịnh nộ. Ông bước đến gần, dí mũi sát vào mặt hắn và tới tấp chửi rủa, trong lúc anh chàng tội nghiệp ấy run lập cập và chỉ biết ấp úng nói những lời xin lỗi.Đoạn ông ta tiếp tục đi, nhưng chẳng mấy chốc lại dừng bước lần nữa. Lần này vì ông thấy những mảnh vụn bánh mì rơi vãi trên các thứ đồ đạc trong nhà. Điều này quả thật chưa từng thấy ở đây. Ông hầu như không tin nổi mắt mình nữa. Đến mức này thì có nghĩa là cái lũ đầy tớ khốn kiếp kia đang muốn giở trò phá hoại đây mà. Rõ ràng là có ai đó đã đứng ở đây ăn vụng bánh – mà bánh thì dĩ nhiên được lấy trộm từ các chạn thức ăn trong nhà bếp chứ còn đâu nữa! – nên mới để vương vãi thế này. Bây giờ thì cơn thịnh nộ của ông đã lên đến cực điểm. Tiếng la hét của ông nghe vang vọng khắp nhà. Mọi người, cả vợ con lão và lũ tôi tớ, đều tập trung chung quanh với vẻ sợ sệt. Và ông lại tiếp tục gân cổ buông ra những lời thóa mạ nặng nề.

Azorin (1873-1967).png
José Martínez Ruiz – Azorín – (1873-1967)

Đã đến giờ ăn tối. Nhưng trước hết ông lão muốn trò chuyện cùng những đốc công mỗi tối vẫn trở về từ những trang trại gần đó. Họ phải báo cáo lại cho ông một cách chi tiết hoạt động của mình trong ngày. Nếu không được nghe những điều đó, đêm ấy ông sẽ chẳng tài nào ngủ được bởi cứ trằn trọc, không hiểu những đồng tiền của mình, dù nhỏ nhặt đến đâu, đã được tiêu pha như thế nào, và bọn đầy tớ giúp việc đã làm những gì từng phút một trong ngày. Cứ thế, lời tường thuật của các đốc công và bọn đầy tớ sẽ được điểm xuyết bằng những lời thóa mạ không dứt hết lên bổng lại xuống trầm rất hay ho. Bọn họ ai cũng sợ ông lão cả.

Vào cái đêm đặc biệt này, anh chàng giữ việc chăn dắt đàn cừu cho ông lại trở về hơi muộn. Mọi ngày, anh vẫn từ đồng cỏ trở về trước lúc ông lão ngồi vào bàn ăn một chút. Anh coi sóc một đàn dê cùng một bầy cừu nhỏ. Khi về đến nhà mỗi tối, anh thường nhốt chúng lại trong chuồng rồi đến trình diện trước mặt chủ mình để báo cáo công việc trong ngày. Ông lão có vẻ sốt ruột khi ngồi vào bàn ăn. Sự về muộn của chàng trai đã khiến ông bực dọc. Tình trạng này quả thật ít thấy. Ông giận dữ hét vào mặt một đầy tớ khi hắn chậm trễ trong việc dọn món ăn lên, và thế là hắn luống cuống thế nào lại để rơi cái đĩa xuống sàn nhà! Vợ con ông lão ai nấy đều khiếp vía. Tai họa này chắc chắn sẽ nhấn chìm cả ngôi nhà vào biển lửa. Và thật thế, ông lão đã không ngừng hò hét thóa mạ suốt nửa giờ. Anh chàng chăn cừu rón rén vào cửa trong tâm trạng hồi hộp, chờ đợi bản án của mình được tuyên lên. Tình cảnh thế này mà đem việc chăn dắt ra thuật lại thì thật không phải lúc chút nào!

- Có gì lạ xảy ra không? – Ông lão hỏi.

Chàng trai ngập ngừng suy nghĩ trước khi trả lời:

- Xảy ra ư? Ông nói xảy ra nghĩa là sao ạ? – Cuối cùng anh nói tiếp – Không có điều gì lạ xảy ra cả, thưa ông.

- Cứ theo cái cách trả lời của mày thì hẳn đã có điều chi đó bất thường xảy đến rồi…

- Xảy đến, xảy đến sao cơ? – Anh chàng chăn cừu vò vò chiếc mũ trong tay mình với vẻ bối rối.

- Đồ ngu! Đồ khùng điên, đần độn! Mày trở nên ngọng nghịu từ lúc nào vậy hả? Hay là ma quỉ đã cắt mất lưỡi của mày rồi? Hãy nói rõ ra cho ta nghe coi, nói lớn lên…

Và chàng trai vừa cố gắng nói mà vừa run rẩy. Thực ra thì có điều chi bất thường xảy ra trong ngày hôm nay đâu. Dê, cừu như thường lệ, vẫn được dẫn đi ăn nơi các bãi cỏ dù có hơi xa một chút. Chúng vẫn khỏe mạnh, háu ăn như mọi ngày… Ông lão như đã mất hết kiên nhẫn:

- Mày có nói rõ ra không hả, thằng khốn? – Ông giận dữ hét lên.

Và liên tiếp ba, bốn lần sau nữa, anh chàng chăn cừu ấy vẫn khăng khăng lặp lại là không có điều gì lạ xảy ra cả. Không có gì lạ, chỉ trừ cái chuồng bò được dựng lên ở vùng đất giáp ranh thị trấn, cạnh khoảng sân dùng để đập lúa – cả hai đều thuộc quyền sở hữu của ông lão – ở nơi ấy anh đã trông thấy nhiều điều trước đây chưa từng thấy bao giờ. Có nhiều người ở trong cái chuồng bò ấy lắm. Khi nghe điều này ông lão giật mình. Và không thể tự kiềm chế nổi, ông bước đến cạnh chàng trai và hét oang oang:

- Có nhiều người ở trong cái chuồng bò đó à? Cái chuồng bò ở cạnh khoảnh đất dùng cho việc đập lúa? Ồ… bộ bây giờ người ta không còn biết tôn trọng quyền sở hữu của người khác nữa hay sao chứ? Bọn chúng muốn làm gì đây, muốn làm cho tao phá sản chứ gì?!

Cái chuồng bò ấy chỉ gồm bốn bức vách sơ sài đã xộc xệch, rệu rạo cả rồi. Cánh cửa ra vào đã lung lay vì bị mối mọt ăn ruỗng nên người ta có thể mở ra một cách dễ dàng. Có một cửa sổ nhỏ trên bức vách đối diện với sân đạp lúa. Trong chuồng có nhiều người hiện diện, hẳn là họ sẽ trú lại qua đêm, cũng có thể là họ đã ăn dầm nằm dề ở đó nhiều hôm rồi. Lưu lại trên đất của mình, trên cái tài sản thiêng liêng của mình, vậy mà họ lại không có được một lời xin phép, hỏi han! Một nỗi căm tức bùng lên mạnh mẽ như muốn đốt cháy tim ông. Đúng rồi, quả là đã có một âm mưu muốn phá hoại ông. Người nhà của mình thật quá vô tâm vô tình, mà tính lại hay lãng phí, chẳng ai chịu để ý gì đến trang trại cả! Lũ chúng nó đã đột kích vào quậy phá để khiến chúng ta trở nên nghèo khó, khốn nạn nhưng chẳng ai hay biết! Tình hình thật tồi tệ. Chưa có ai thấy cảnh này bao giờ. Chưa có ai dám xâm phạm đến tài sản, đất đai cũng như nhà cửa của ông. Đứng trước sự kiện kỳ quái, lạ lùng này, ông lão quyết định sẽ đích thân đến đấy để xác minh; và nếu đúng thế, ông phải tống cổ cái bọn lang thang, cầu bơ cầu bất này ra ngoài đường ngay mới được.

- Có những ai ở đó? – Ông hỏi anh chăn cừu.

- Dạ, một người đàn ông và một người đàn bà – Anh lưỡng lự đáp lại.

Thế là ông lão đứng dậy lấy cái mũ chụp lên đầu, tay nắm chặt cây can, hướng về phía cái sân đập lúa giáp ranh thị trấn mà tiến bước.

Scan Nga.png

Đó là một đêm trong trẻo, quang đãng. Trên trời, ngàn vì sao lung linh, nhấp nháy trông như những mảnh vàng. Tất cả đều yên ắng. Sự tĩnh mịch của đêm dàn trải ra thật êm dịu và sâu lắng. Ông lão bồn chồn bước đi, người run lên vì giận dữ. Chiếc can của ông gõ trên đất cồm cộp theo nhịp bước. Trước sắc trắng của khoảng sân dùng để đập lúa phủ đầy tuyết, cái chuồng bò hiện ra lờ mờ từ xa trên nền trời xanh thẳm. Chẳng mấy chốc ông đã đến bên mấy bức vách đổ nát. Không muốn đường đột vào trong ngay trước khi có sự suy tính kỹ lưỡng, ông dừng chân một lúc, rồi chậm rãi bước đến gần cái lỗ hổng trên vách nom như cánh cửa sổ mở ra ngoài khoảng sân đập lúa. Ánh sáng tỏa rạng từ bên trong. Ông lão nghiêng người về phía trước, kề sát cặp mắt ti hí của mình vào cái lỗ hổng ấy để nhìn vào, rồi bất chợt bật lên một tiếng kêu không kịp ghìm lại. Sự kinh ngạc đã khiến người ông đờ đẫn, choáng váng. Từ ngạc nhiên, sửng sốt, ông dần nhận rõ ra đây quả là một điều kỳ diệu. Ông lão nép người sát vào bức vách, bất động. Và cảm thấy khó thở. Chưa bao giờ ông trông thấy một cảnh tượng như thế này; thật vậy, hẳn mắt loài người chưa khi nào được chứng kiến những gì ông đang chứng kiến. Ông không thể quay nhìn đi nơi khác. Từng phút từng giờ lặng lẽ trôi qua. Những gì đang diễn ra ở trong cái chuồng bò này mới lạ lùng và kỳ dị làm sao! Thời gian đã trôi qua bao lâu rồi nhỉ? Ồ, làm sao người ta lại có thể tính đến thời gian khi đứng trước một cảnh tượng phi thường như thế này? Dường như nhiều giờ, nhiều ngày, nhiều năm tháng đã trôi qua. Thời gian thì có nghĩa chi khi người ta được chứng kiến một sự kiện kỳ diệu, trọng đại, độc nhất vô nhị như thế này trên trần thế. Chìm đắm trong suy tư, ông lão chậm rãi quay bước trở về nhà. Bọn đầy tớ ra mở cửa chậm chạp khiến ông phải chờ lâu, nhưng ông không nói gì. Ở trong nhà, một cô hầu vụng về đánh rơi nến xuống đất trong khi đang thắp cũng chẳng hề bị trách mắng lấy một câu nhỏ. Vẻ suy tư, với cái đầu trầm ngâm cúi xuống, ông bước lặng lẽ qua hành lang như một bóng ma. Bà vợ, khi bước ra đón ông từ phòng khách, vô ý vấp phải vật gì đó dưới đất khiến nhiều bức tượng nhỏ rơi xuống sàn nhà vỡ tan. Nhưng ông chẳng buông ra một câu phiền hà chửi rủa nào. Bà lùi lại ngạc nhiên. Mọi người trong nhà ai nấy đều sửng sốt trước cái vẻ hiền hậu, ôn nhu khác thường ấy của ông lão, trong khi ông, ngồi trong chiếc ghế bành lại như lạc mất trong cõi trầm tư. Khi ông ngủ thiếp đi và được người ta đánh thức, thì như đứa trẻ, ông ngoan ngoãn để họ đưa mình vào phòng và thay quần áo cho.
Sáng hôm sau, ông vẫn đắm chìm trong sự im lặng. Những kẻ hành khất đến gõ cửa nhà được ông bố thí cho từng vốc những đồng tiền bằng bạc. Miệng ông không còn thốt ra những lời nóng giận thô bạo nào nữa dù nhỏ nhất. Mọi người ai nấy đều bối rối. Ông đã biến đổi từ một con người tàn bạo, quái ác trở nên một đứa trẻ hiền lành, ngoan ngoãn. Vợ và các con ông hết sức lo âu. Họ không thể tưởng tượng nổi một sự thay đổi như thế lại có thể xảy ra trong gia đình mình. Hẳn phải có một điều gì đó rất ghê gớm đã xảy ra trong cái đêm ông đi tới cái chuồng bò và sân đập lúa. Cái vẻ nhu mì, hiền hậu của ông bây giờ nom ra lại còn đáng sợ hơn cái tính khí hung hãn, bạo ngược vốn có trước đây; sự thay đổi này có thể là dấu chỉ của một thứ bệnh trầm kha nào đấy. Lặng lẽ, lo âu, và đầy nghi vấn, họ kiên nhẫn quan sát ông. Họ không dám tự đến gần để hỏi han, còn ông thì cứ giữ mãi thái độ im lặng. Cuối cùng, không chịu nổi, bà vợ dè dặt nêu lên những thắc mắc khi có dịp tiếp cận cùng ông. Họ có một cuộc trao đổi với nhau thật lâu, nhưng ông lão nhất định không chịu hé răng. Tuy vậy, sau rất nhiều lời lẽ dịu ngọt đầy quan tâm của người vợ hiền hậu ấy, cuối cùng ông cũng đành bật mí. Khi ông kề miệng vào tai bà thì thầm thuật lại cái sự kiện xảy ra tối hôm ấy, người ta thấy mặt bà lộ hẳn vẻ sửng sốt.

- Sao, ba vị vua và một hài nhi vừa mới sinh ra đời à!

Bà không thể tự kiềm chế để khỏi bật kêu lên như thế.

Ông chồng vội đưa ngón tay đặt trên môi mình, ra dấu cho bà hãy giữ im lặng. Vâng, dĩ nhiên là bà phải giữ kín chuyện này. Nhưng bà cũng hiểu là từ nay không biết mình phải suy nghĩ ra làm sao nữa. Người đàn bà hiền lành này không thể biết đích xác được điều nào tệ hại hơn, cái tính hung bạo trước đây của chồng mình hay là sự cuồng trí của ông ta hiện tại. Ba vị vua cao sang thế mà lại có mặt trong một cái chuồng bò bẩn thỉu cùng một đứa trẻ vừa sinh ra! Rõ ràng là trong cuộc tản bộ buổi tối hôm ấy, có điều gì đó bất ổn đã xảy đến cho ông ta. Dần dà thì cái tin bà chủ đã rõ được điều bí mật của ông lão cũng loan đi khắp nhà. Bọn trẻ bu lại hỏi mẹ. Lúc đầu bà không chịu nói, nhưng rồi chẳng mấy chốc, không cầm lòng nổi bà cũng gọi cô con gái cưng đến để rỉ tai cho nó nghe chuyện bí ẩn của cha mình. Và phản ứng của cô ta cũng phát lộ ra ngay tức khắc.

- Ôi, cha tội nghiệp của con! Cha mất trí mất rồi!

Kẻ hầu người hạ trong nhà ai cũng biết là các cô cậu chủ nhỏ đều thông tỏ cái lý do vì sao ông chủ của mình luôn giữ im lặng. Họ không dám trực tiếp hỏi, nhưng một người đàn bà có thể gọi là thân tín đã giúp việc cho gia đình này hơn 30 năm, không kiềm chế nổi cuối cùng đã lân la nêu thắc mắc cùng một cô con gái. Và cô này cũng không phụ lòng đã tiết lộ cho bà nghe điều bí mật ấy.

- Ồ, vậy là ông ấy cuồng trí mất rồi, ông chủ tội nghiệp của tôi! – Người đàn bà ấy buồn bã kêu lên.

Bằng cách rỉ tai nhau như vậy, dần dà rồi người nào trong nhà cũng biết về cái tin ấy. Vâng, ông chủ của họ đã mắc phải một chứng cuồng trí rất lạ lùng; và bất cứ khi nào nói về ông, họ cũng đều lắc đầu tỏ vẻ thương cảm. Ba vua và một hài nhi cùng có mặt trong một cái chuồng bò! Ông chủ của họ thật đáng tội nghiệp!

Và ông lão có bộ râu dài thậm thượt ấy cứ ngồi nhìn ngày tháng thong thả trôi đi, không tỏ ra nôn nóng, cáu kỉnh hay bực bội. Ông trở nên hòa nhã khoan dung rất mực, luôn giúp đỡ vật chất tiền bạc cho những kẻ nghèo khổ bần hàn, và khi trò chuyện với ai thì luôn dùng những lời lẽ hết sức dịu dàng êm ái. Mọi người trong nhà ai cũng hoang mang, ngơ ngác, thậm chí còn buồn rầu nữa, và nhìn ông với cái nhìn xót xa. Ông chủ của họ mất trí, đó là cái lý do duy nhất hợp lý để giải thích tình trạng của ông hiện tại. Ba ông vua ngụ trong một cái chuồng bò! Cuối cùng, bà vợ của ông đành mời một vị bác sĩ nổi tiếng đến nhà để trị liệu. Ông này là một người thông thái, am hiểu nhiều chứng bệnh và các loại dược thảo. Khi đến nhà, ông được đưa vào gặp bệnh nhân thì thấy ông lão rất dễ thương, sẵn sàng làm theo bất cứ điều gì bác sĩ yêu cầu… Ông lão như một đứa trẻ, yếu ớt, ngoan ngoãn. Vị bác sĩ bắt đầu khám bệnh. Ông chăm chú hỏi ông lão về cuộc sống, những thói quen, cũng như các loại thực phẩm thường dùng. Ông lão mỉm cười dịu dàng. Và khi ông tiết lộ điều bí ẩn của mình sau một cuộc chất vấn dài dằng dặc, vị bác sĩ gật đầu ra vẻ đồng tình, cái cách người ta vẫn thường làm với những câu chuyện phi lý người cuồng trí đưa ra để khỏi làm phật lòng thân chủ của mình.

- Vâng, vâng! – Vị bác sĩ nói – Đương nhiên, điều ấy hoàn toàn có thể. Phải lắm, ba ông vua và một đứa trẻ vừa sinh ra cùng ở chung trong một cái chuồng bò.

Và một lần nữa ông lại gật đầu. Lúc từ giã ra về, vị bác sĩ ấy nói với bà vợ khi hai người đứng ngoài hành lang:

- Đây chỉ là một dạng mất trí nhẹ . Vô hại, bà đừng lo lắng gì cả. Ông ấy hơi “mát” một chút, nhưng vô hại. Không có cách trị liệu đặc biệt nào đâu. Chúng ta hy vọng rằng…

(Theo The First Miracle của John M. Flores)

AZORÍN (Tây Ban Nha)
Nguyễn Thị Thu (dịch)

Ý Kiến bạn đọc