XEM BÁO GIẤY
Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Phê bình Việt Nam sử lược

(Tiếp theo số báo 432, ngày 15-12-2016)

Việc biên soạn Việt Nam sử lược có nhiều sai sót gây hậu quả tệ hại, làm cho người đọc cả tin không hiểu hoặc hiểu sai bản chất của sự kiện, sự việc. Có hai biểu hiện:

- Đưa tư liệu không có xuất xứ.

- Đưa tư liệu ít có giá trị, không bộc lộ bản chất sự kiện, nhân vật.

Do khuôn khổ bài báo, kỳ trước chưa diễn giải tường tận. Kỳ này xin dẫn để bạn đọc tham khảo.

1/ Về sự kiện “giết đạo”

Tác giả nói đến rất nhiều lần nhưng thường không có xuất xứ. Dưới đây là trường hợp tiêu biểu:

“… Sách Tây chép rằng, chỉ từ đầu tháng 6 đến cuối tháng 8 có 8 cố (đạo) và hơn 2 vạn người bị giết” (VNSL. Sđd. Trg 434).

Đây là sự kiện, con số gây kích động rất lớn. Sách Tây này là sách nào, của tác giả nào, in ở đâu vào năm nào. Nếu chỉ là vài chục, thậm chí vài trăm người, thì còn có thể xuê xoa đi được. Nhưng hơn 2 vạn người? Thuộc địa phận nào ở Việt Nam? Chỗ này thì sách Tây rất giống với cái Đồng hồ của Tây của cụ Ngô Tất Tố.

2/ Về sự kiện Lý thường kiệt sang đánh thành Ung Châu thời nhà Tống. Trong chiến tranh, tiêu diệt sinh lực của nhau là một qui luật từ cổ chí kim. Nhất là vào thời Trung đại vì vũ khí mới chỉ có gươm giáo, cho nên dùng gươm giáo khi lâm trận là điều không thể tránh được. Song, về số binh sĩ thiệt mạng, một khi đã đưa ra số lượng, phải có cơ sở, có xuất xứ. Nhà làm sử không thể tùy tiện nói vô sở cứ. Ở đây, Trần Trọng Kim ba lần dùng từ giết hại để gọi việc làm của Lý Thường Kiệt là không đúng. Ông giải thích thế nào về việc nhà Tống cho quân sang đánh phá nước Nam thời Lê Đại Hành năm 981? Đưa ra số lượng nạn nhân mà không có xuất xứ? Việc này gây hậu quả xấu cho đến hôm nay. Nhà sử học Tạ Ngọc Liễn cho biết. Vào khoảng 1984, tác giả Đới Khả Lai (Trung Quốc) viết bài vu cáo Việt Nam xâm lược Trung Quốc có viện dẫn đến chi tiết này. Ngay ở Việt Nam cũng có người ngộ nhận một cách nguy hiểm: Nhà văn Nguyễn Bình Phương, đại tá, Tổng biên tập Tạp chí Văn nghệ Quân đội, trong tác phẩm Mình và Họ, đã đồng nhất cách mạng với thổ phỉ, nói cái chất phỉ của người Việt có từ ngàn xưa. Khi Thái úy (chỉ Lý Thường Kiệt) đánh thành Ung Châu, đã cho chặt đầu quân Tống, xếp thành 580 đống, mỗi đống 100 cái đầu… Tiếng chặt đầu côm cốp của Thái úy còn vọng đến bây giờ… Thụy Khuê rất khen cuốn sách của Nguyễn Bình Phương và đặc biệt nhấn mạnh chi tiết này. (Xem Văn nghệ TP.HCM, các số 423 và 425 tháng 11-2016).

Bia-sach-Viet-Nam-Su-Luoc

3/ Nói về nguyễn thân như trong Việt Nam sử lược, thực chất là che đỡ cho tên Việt gian đại tàn ác này. Xin dẫn thư của Nguyễn Thân gửi cho Toàn quyền Paul Doumer mà ở kì trước, do khuôn khổ bài báo, chưa gửi tới bạn đọc được. Doumer đã nhận xét về Nguyễn Thân và trích thư của Nguyễn Thân như sau:

“… Nguyễn Thân đã có những công lớn với nước Pháp trong những thời điểm quan trọng, lần đầu là năm 1885 khi Hoàng tử Ưng Lịch, được những kẻ chống đối lại chúng ta đưa lên ngôi với tên hiệu là Hàm Nghi, phải trốn chạy khỏi Huế sau cuộc tấn công tháng Bảy, và lập nên ở miền Bắc một chính quyền chống đối: lần thứ hai là vào năm 1894, khi một cuộc nổi dậy rất lớn nổ ra ở các tỉnh phía Bắc. Sau này khi có cơ hội quen biết, tôi đánh giá cao và rất có cảm tình với Nguyễn Thân. Trong một bức thư gửi cho tôi khi tôi rời Đông Dương năm 1902, ông đã ghi nhận với tư cách cá nhân lòng bác ái của đất nước chúng ta.

“Tôi gửi đến ngài Toàn quyền lời cảm tạ, vì những gì ngài đã làm cho triều đình chúng tôi và sự đồng cảm mà ngài luôn thể hiện với tôi trong thời gian ngài làm việc ở Đông Dương. Với tư cách cá nhân, tôi xin bày tỏ thái độ phụng sự và lòng trung thành của tôi với nước Pháp.

Trong sự kiện Kinh thành Huế (năm 1885) và vào thời điểm cựu Phụ chính Đại thần Tôn Thất Thuyết dẫn theo Hoàng đế Hàm Nghi để kêu gọi toàn dân đứng lên chống lại nước Pháp, toàn xứ Trung kỳ rơi vào tình trạng rối loạn và những cuộc nổi dậy nổ ra khắp nơi. Những thế lực thù nghịch nhất loạt bắt tay nhau chống lại những người Cơ Đốc giáo và những người châu Âu.

Lúc đó, tôi kế nhiệm người cha đã khuất, sinh thời là một vị tướng trông coi vùng núi Quảng Ngãi, Bình Định và Quảng Nam. Mặc dù nhận được lệnh từ Huế, tôi chỉ chú tâm bảo đảm bình an trong khu vực mà tôi cai quản, trong khi chờ đợi thời cơ.

Hai người đứng đầu cuộc nổi dậy, được gọi là Cử Đình và Tú Tân, đã chiếm được thành Quảng Ngãi bằng lực lượng quân nổi dậy đông đảo của chúng. Từ vùng cao, tôi đã cùng với 2.000 lính hành quân xuống để đẩy lùi bọn phiến loạn này. Tôi đã chiếm lại được thành, bắt giữ 14 tên cầm đầu, và chặt đầu chúng ngay tại trận để răn đe đồng bọn của chúng. Khi tỉnh Quảng Ngãi đã yên bình trở lại, nhận chỉ dụ của Hoàng đế Đồng Khánh, tôi dẫn quân tiến về Bình Định để dẹp cuộc nổi loạn ở vùng này. Tôi đã lập lại trật tự ở đó và tổ chức lại chính quyền tại tất cả các huyện. Kẻ cầm đầu cuối cùng là Mai Xuân Thưởng, đang trốn tại vùng An Khê, tôi cử binh truy đuổi y ở đó.

Cùng lúc đó, Đốc phủ Lộc đem quân từ Nam kỳ ra tiễu trừ đám nổi dậy. Sau đó tôi nhận chỉ dụ của Hoàng đế đến tỉnh Quảng Ngãi để dẹp quân nổi dậy do kẻ cầm đầu khét tiếng Hường Hiệu chỉ huy, vì hắn mà quân đội Pháp đã phải lập 36 đồn bốt ở vùng này. Theo các tin tình báo do thuộc cấp cung cấp, tôi biết được hắn ẩn nấp tại vùng An Lâm; tôi bắt được 25 tên đầu lĩnh và đám đồng đảng cũng theo đó đầu hàng. Nhưng Hường Hiệu đã tẩu thoát và trốn ở vùng núi Ngũ Hành, song cuối cùng vẫn bị tôi bắt được. Hắn bị bắt sống, nhốt vào cũi và giải về Huế.

Để tưởng thưởng những cống hiến của tôi, chính phủ Cộng hòa đã trao tặng tôi Bắc đẩu Bội tinh hạng 5.

Một thời gian sau đó, những cuộc nhiễu loạn lại nổ ra ở Bình Định; tôi lại được cử đến đó và cuối cùng đã dẹp loạn thành công, trả lại cho tỉnh này sự yên bình thật sự. Sau đó, thể theo sự đề đạt từ ngài Toàn quyền Piquet và của ngài Khâm sứ Hector, tôi đã được trao huân chương Bắc đẩu Bội tinh hạng 4.

Khi quay trở lại vị trí cũ của mình tại vùng thượng du Quảng Ngãi, tôi vẫn giữ chức vụ Đô Chỉ huy sứ như trước và cai quản những vùng sơn cước này.

Một thời gian sau về Huế, tôi lĩnh chức Binh bộ Thượng thư. Sau đó tôi được thuyên chuyển tới Bình Định kiêm nhiệm Tổng đốc vùng này theo yêu cầu của ngài Toàn quyền De Lanessan, tại đây tôi đã giải quyết được nhiều vấn đề quan trọng tồn tại từ rất nhiều năm. Vì vậy mà tôi được bổ nhiệm làm Khâm mạng Tiết chế quân vụ tỉnh Nghệ Tĩnh. Triều đình An Nam đã tin tưởng giao cho tôi sứ mệnh quan trọng này theo yêu cầu của ngài Toàn quyền Rousseau và của ngài Khâm sứ Brière. Đó là nhiệm vụ lùng diệt một thủ lĩnh phản loạn là Phan Đình Phùng, kẻ đã chiếm giữ vùng đất Hà Tĩnh và Nghệ An, mặc dù chúng ta đã dồn toàn bộ lực lượng để tiễu trừ hắn. Đứng đầu đội quân 1.400 binh lính, tôi đã liên tục săn đuổi hắn tại những vùng núi này và cuối cùng đã vây bắt hắn với sự giúp đỡ của các đồn trú lập trên các tuyến đường. Thế cùng lực kiệt, lại bị thương trong một trận ác chiến, Phan Đình Phùng đã uống thuốc độc tự tử. Tất cả những đầu lĩnh khác đã bị bắt; hàng nghìn kẻ nổi dậy đã đầu hàng. Như vậy, vùng bắc Trung kỳ đã được bình định hoàn toàn.

Để tưởng thưởng cho những cống hiến này, nước Cộng hòa đã trao cho tôi Bắc đẩu Bội tinh hạng 3 và Hoàng đế An Nam đã phong cho tôi chức Phụ chính Đại thần và tước Quận công”.

Bức thư trên được viết vào năm 1902, nó chưa kết thúc ở đó như mọi người nghĩ. Tôi ngừng trích dẫn từ chỗ ông ta đề cập đến những gì đã cống hiến sau khi tôi nhậm chức. Những gì Nguyễn Thân viết trong thư này về công trạng của ông ta thì tôi đều đã biết trước khi đến Huế, nghĩa là trước khi gặp ông ta. Vị tiền nhiệm của tôi tin tưởng quan đệ tam nhiếp chính này, và Nguyễn Thân cũng đã chứng minh cho tôi thấy được ông ta thật sự xứng đáng với sự tín nhiệm dành cho ông ta. Ngay từ phút ban đầu, ông ấy đã có được sự tín nhiệm của tôi. Tôi hoàn toàn tin tưởng, vì An Nam giờ đã ở trong tình hình khác hẳn với thời kỳ trước đó và không còn cuộc nổi loạn nào nữa. Nguyễn Thân đã cống hiến cho cả đất nước mình và nước Pháp. Sau đó, tôi yêu cầu trao tặng ông ấy Huân chương Bắc đẩu Bội tinh Đại sĩ quan và đề nghị ông làm viên quan đầu triều”
(Sđd. Trg 294-297).

Nguyễn Thân của Nguyễn Thân (hay của Doumer) với Nguyễn Thân của Trần Trọng Kim, bên nào tín bên nào ngụy?

4/ Về mở mang giao thông, đường sắt ở bắc kỳ.

Trần Trọng Kim viết:

“Năm Tân Mão (1891), ông De Lanessan sang làm tổng đốc toàn quyền, mở đường xe lửa từ Phủ Lạng Thương lên đến Lạng Sơn, đến năm Giáp Ngọ (1894), con đường ấy mới xong. Chủ đích là để cho tiện sự phòng giữ ở chỗ biên thùy” (VNSL. NXB Văn học. 2015. Trg 447).

Xin thưa, kế hoạch làm đường sắt ở Bắc kỳ và toàn xứ Đông Dương và vươn sang tận miền nam Trung Hoa, là ý đồ xâm chiếm vĩnh viễn Đông Dương và miền Nam Trung Hoa.

Ý đồ này bộc lộ rất rõ trong tư tưởng và hành động của Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer.

Xin quí bạn đọc tham khảo vài đoạn chính trong hồi ký Xứ Đông Dương của Paul Doumer, NXB Thế giới. H. 2016.

“Việc thâm nhập Trung Hoa từ phía bắc thuộc địa của chúng ta sẽ được đảm bảo nhờ việc xây dựng các tuyến đường sắt qua các tỉnh Vân Nam và Tứ Xuyên. Việc thâm nhập theo hướng Tây Bắc, vào Quảng Tây và Quảng Đông có thể được thực hiện đồng thời bằng việc kéo dài tuyến đường sắt Đông Dương từ Hà Nội tới Ải Nam Quan, và nhờ vào nhượng địa mới có được tại Quảng Châu. Về việc kéo dài tuyến đường sắt của chúng ta quá biên giới tới tận Long Châu và sau đó tới Nam Ninh, thì chính quyền Trung Hoa nhượng quyền khai thác cho một công ty Pháp” (Sđd. Trg 575).

Ý đồ thực dân trên qui mô lớn được Doumer vạch ra trong khi khảo sát Vân Nam:

“Tại Vân Nam, tôi đã nhìn thấy tất cả những gì người ta thu được từ một miền đất, chắc chắn không đầy ắp sự giàu có như ở vùng nhiệt đới, nhưng vẫn có thể giúp nuôi sống và làm sinh sôi hàng triệu người thuộc nòi giống chúng ta. Thành quả từ các nhà thám hiểm và kỹ sư người Pháp đã mang lại cho nước Pháp những quyền không thể tranh cãi với vùng đất này và nước Pháp không thể để mất vào tay ai khác” (Sđd. Trg 568).

Khảo sát vùng Bắc Đông Dương (Bắc kỳ và phía Lào từ cao nguyên Xiêng Khoảng trở lên) nhằm mục đích thực dân rất rõ ràng:

“Thật không may là đường giao thông qua đây (Xiêng Khoảng) hiện tại hết sức khó khăn, mà chỉ việc thiết lập một tuyến đường sắt mới giải quyết được. Một khi việc này hoàn tất, cao nguyên Xiêng Khoảng sẽ cho phép thiết lập một khu nghỉ dưỡng mà vấn đề duy nhất chỉ còn là lựa chọn địa điểm, và một doanh trại cho quân Pháp. Nơi này sẽ mở ra cho công cuộc thuộc địa hóa những không gian rộng lớn, phì nhiêu và lành mạnh, cho phép nuôi sống một lượng dân cư da trắng đông đảo.

Trong cuộc điều tra mà tôi cho tiến hành vào năm 1897 về việc thiết lập các khu nghỉ dưỡng ở Đông Dương. Tướng Pennequin – khi đó còn là Đại tá Tư lệnh các Quân khu Ba và Bốn ở Bắc kỳ – đã gửi cho tôi một báo cáo trong đó kết luận: “Khu nghỉ dưỡng cho Bắc kỳ là ở Vân Nam”. Thực tế đúng là vậy. Tuy thế, tại các vùng cao giữa sông Đà, sông Hồng và sông Lô cũng có các cao nguyên, chẳng hạn như cao nguyên Tả Phình, có thể lập nên những khu nghỉ dưỡng tốt. Nhưng hiện tại, và cả trong một thời gian dài nữa, việc tiếp cận những nơi này vẫn hết sức khó khăn.

Mặt khác, có thể bỏ qua chúng khi chúng ta có ở ngay gần mình vùng rộng lớn của Vân Nam, không lâu nữa sẽ được nối với Hà Nội và ra biển nhờ một tuyến đường sắt, ở độ cao từ 1.500 đến 2.000 mét, với khí hậu trong lành hoàn hảo, cùng những thung lũng rộng đông dân cư và đất đai đã được canh tác. Gần như toàn bộ Vân Nam nằm trong vùng ôn đới, có khí hậu gợi nhớ tới khí hậu châu Âu, và nhiệt độ dao động ít khắc nghiệt. Ngoại trừ các khu vực giáp ranh Tây Tạng, vùng này không có những đợt lạnh sâu hay những đợt nắng gắt như tại châu Âu. Những người Pháp sống tại đây từ nhiều năm nay với số lượng đông đảo để thực hiện các nghiên cứu và công việc chuẩn bị cho đường sắt, dù thiếu mọi tiện nghi, vẫn duy trì được sức khỏe tốt. Đây là một vùng đất ôn hòa và trong lành đang được khai phá cho quá trình khai hóa văn minh của nước Pháp.

Vân Nam, Xiêng Khoảng, các cao nguyên nằm dọc dãy An Nam là những nơi người Pháp có thể sống, làm việc, nhân lên rộng nòi giống của mình. Các cộng đồng dân cư bản xứ có mặt tại những nơi này rất thưa thớt, nhờ đó chúng ta không phải loại bỏ ai. Tất cả những vùng này cần được người Pháp, những nhà trồng trọt, chăn nuôi Pháp định cư, vì điều này hoàn toàn khả thi, và cũng cần phải như vậy là vì chủ quyền vững chắc của nước Pháp tại nền văn minh Đông Dương cũng như ở Viễn Đông.

Nguyên tắc về việc xây dựng đường sắt Vân Nam cũng được đưa ra trong cùng đạo luật ngày 25-12-1898, quyết định việc xây dựng hệ thống 1.700 cây số đường sắt tại Đông Dương. Tuyến đường nối liền Bắc kỳ với Côn Minh, tỉnh lỵ của tỉnh Vân Nam Trung Hoa, đã được nhượng quyền khai thác cho nước Pháp theo một thỏa ước vào ngày 10-4 trước đó. Vì thế, tôi đã cho đưa vào đạo luật những điều khoản sau đây:

“Điều 3. Toàn quyền Đông Dương được giao quyền cung cấp những đảm bảo cho lợi ích cho công ty nào được nhượng quyền khai thác tuyến đường sắt từ Lào Cai đi Côn Minh và các đoạn kéo dài, với điều kiện tổng số tiền cam kết hằng năm không vượt quá 3 triệu phờ-răng và thời hạn là 75 năm” (Sđd. Trg 562-563).

Có thể khi biên soạn VNSL trước 1920, Trần Trọng Kim chưa tiếp xúc được với hồi ký của Doumer. Nhưng vào thời điểm đó, đường sắt Hà Nội – Vân Nam đã có rồi. Và Hà Nội – Lạng Sơn không chỉ dừng lại ở Lạng Sơn. Trần Trọng Kim học ở Pháp không thể không biết thời thế trên đất Pháp và một nhân vật như Toàn quyền Đông Dương, không thể không biết đến đối với nhà sử học Việt Nam hiện đại.

Trở lên, qua các dẫn chứng, tuy chưa kể hết, nhưng cũng đủ thấy Việt Nam sử lược còn sai sót nhiều lắm. Chưa đạt đến độ tin cậy và chiều sâu nghiêm túc của một công trình sử học. Do đó, mới chỉ có giá trị tham khảo, làm sao có thể xem là tín sử, là kinh điển, kiệt tác được!

Một nhà sử học mà làm chính trị đến ngôi Thủ tướng thì tư cách nhà sử học không còn nữa. Không ai ngăn cản nhà chính trị kiêm nhà sử học và ngược lại. Nhưng như vậy, không thể nói nhà sử học đó không đứng về phe nào! không đứng về phe nào thì làm chính trị sao được. Có thể nói tư cách chính trị gia và sử học gia của Trần Trọng Kim là không chính đính. Nếu bị lừa, bị ép buộc làm chức Thủ tướng thì sao khi nhậm chức ông tuyên cáo hùng hồn như thế. Bảo Đại chỉ là con búp-bê trong tay người Pháp (Lệ Xuân – Hồi ký) và người Nhật, mà ông vẫn theo cho đến cùng. Nếu là trung quân thì như vậy là ngu trung và rất mâu thuẫn với một người được giáo dục theo tinh thần Cộng hòa của xứ sở Đại cách mạng tư sản.

Từ sau ngày ông mất chức (23-8-1945) đến khi qua đời (1953) là có đủ thời gian để xem xét lại Việt Nam sử lược, bổ túc những gì trước đây chưa có điều kiện làm được. Thừa điều kiện để nghiền ngẫm lại hệ thống đường sắt của người Pháp ở Đông Dương. Nếu ông viết thêm được từ sau Âu chiến thứ nhất, từ 1927 đến 8-1945, dù chỉ trong mấy dòng thì sao lại bỏ trống đoạn từ Toàn quyền Beau (1903) cho đến Toàn quyền Decoux (trước 1945)? Chính đoạn viết thêm từ năm1927 đến vua Bảo Đại phải thoái vị và nhường quyền cho đảng Việt Minh (Sđd. Trg 445), nó tố cáo tư cách chánh khách và sử gia của Trần Trọng Kim. Khó nói là như thế nào nhưng buồn cười lắm. Chưa đầy 12 dòng với dưới 200 chữ mà bộc lộ được tất cả con người Trần Trọng Kim vừa lẩn tránh trách nhiệm vừa cay cú thù hận. Đoạn văn này rất thống nhất với câu ông viết trong hồi kí (Một cơn gió bụi rằng “tay trắng lại hoàn trắng tay”! Thật là hám danh và vụ lợi. Đã làm chính trị thì phải chấp nhận. Nếu thất bại hay thối chí hay bị lừa dối ép buộc thì cũng nên nhận lấy. Bạn đọc, công chúng có hẹp hòi gì. Còn trong học thuật nhất là trong sử học, dẫu là sơ lược, dẫu là một đoạn cũng phải chân chánh xác thực, không thể qua loa hồ đồ được. Ông nêu ở lời Tựa: … phải lấy công lí mà xét đoán mọi việc và không vị tình riêng mà để phạm đến lẽ công bằng… (Sđd. Trg 26). Ông trọn đời, một lòng theo ngoại bang (Pháp, Nhật), theo một ông vua phản quốc (Bảo Đại), bài xích Việt Minh cho đến cùng… thì là cái công lí gì? Là vị cái tình gì?

Cụ Lệ Thần đã là người thiên cổ (1953), tính năm sanh (1883) thì đã cao xa lắm, kẻ hậu sinh đâu dám không kính trọng. Hiềm nỗi bây giờ có một số người thấy thời thế đổi thay liền đổi giọng mà chiêu tuyết, tung hô cụ quá đáng, bất chấp sự thật và lẽ công bằng… Họ mượn Cụ để thực hiện cái tham vọng của họ thôi. Nhớ lời người xưa: Khen mà không đúng là làm hại người… Nên có lời thỉnh với Cụ rằng: cụ có linh thiêng, hãy cảnh giác với những lời khen của họ!

Kẻ bỉ nhân chốn phàm trần xin bái lạy!

Quan Văn Đàn kính bút!

Thăng Long – Hà Nội, mùa đông năm Thân (4/12/2016)

Quan Văn Đàn
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 433

Ý Kiến bạn đọc


Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Phê bình Việt Nam sử lược

Học trường Tây bên Tây suốt 6 năm liền (1905-1911), trọn đời làm việc cho Tây, bát cơm manh áo của Tây mà viết được như cụ Lệ Thần vào khoảng năm 1920 là đáng ghi nhận. Bởi hồi đó mà nói lên lòng yêu nước của người Việt Nam, truyền thống bất khuất từ thời Hồng Bàng cho đến người Pháp sang đặt cuộc Bảo hộ là khó khăn lắm. Ta nhớ là hồi 1908, các cụ chí sĩ mới khởi việc xin sưu, đã bị người Pháp đàn áp tàn khốc. Cụ Trần Quí Cáp bị xử chém – mà chém ngang lưng – nhiều vị khác cũng bị xử án trảm. Còn lại thì đày đi Côn Lôn như các Cụ Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Đặng Nguyên Cẩn… Các cụ trên là những bậc đại khoa, uy tín cao trọng… mà người Pháp họ có vị nể gì đâu. Đến hồi Đông Kinh nghĩa thục, cũng mới khởi lên, đã bị dập xuống. Vào năm 1916, trước khi cụ Lệ Thần cho in Việt Nam sử lược mấy năm, có sự biến ở kinh kỳ, cụ Trần Cao Vân và nhiều người khác bị xử chém. Hoàng đế nước Nam – Vua Thành Thái – thì bị đày đi tận đảo Réunion, giữa đại dương, gần cực nam Phi châu. Đến đó thì chỉ có sống hoặc chết, không mong vượt biển như ở Côn Lôn. Một người khác cũng học trường Tây nhưng chống Tây quyết liệt như Cụ Nguyễn An Ninh thì bị tù đầy, cụ hi sinh ở Côn Đảo vào năm 1944. Thế thì một viên chức như Trần Trọng Kim, dẫu là một giáo chức cao cấp (Thanh tra Tiểu học, Giám đốc các trường nam Tiểu học…) có là cái thá gì đối với Nhà nước Bảo hộ. Thế mà người Pháp vẫn cho in Việt Nam sử lược. Vì sao vậy? Ấy là cụ Trần rất khéo mà người Pháp rất khôn. Cụ Trần khéo chỗ nào? Ấy là, tuy cụ nói mênh mông về ý nghĩa của sử học, về lòng yêu nước của người Việt Nam, truyền thống của dân Việt Nam, tuy bây giờ ở trong tay người Pháp nhưng hi vọng… còn cuộc xâm lược của người Pháp thì Cụ chỉ nói đi nói lại là người Pháp lấy: lấy Nam kì, lấy Trung kì, Bắc kì… cũng có chỗ cụ nói người Pháp đem binh sang đánh nước Nam nhưng là do người Nam có lỗi trước: Cấm đạo, giết người theo đạo. Mà giết nhiều lắm:.. từ đầu tháng 6 đến cuối tháng 8 (năm 1885?) dân bên đạo phải 8 ông cố và hơn 2 vạn người bị giết. (VNSL. NXB Văn học. H.2015. Trg 434). Còn nói rõ hơn, như thế này:

“Sức đã không đủ giữ nước mà lại cứ làm điều tàn ác. Đã không cho người ngoại quốc vào buôn bán, lại đem làm tội những người đi giảng đạo, bởi thế cho nên nước Pháp và nước I-pha-nho mới nhân cớ ấy mà đánh nước ta vậy” (Sđd. Trg 379).

“Đối với những nước ngoại dương, thì thường hay gây nên sự bất hòa, làm cho nước Pháp phải dùng binh lực để bênh vực quyền lợi của mình. Vì những chính sách ấy cho nên mới thành ra có cuộc Bảo hộ ngày nay” (Sđd. Lời Tựa. Trg 25).

Việc người Pháp lấy nước Nam, đặt cuộc Bảo hộ là vì như thế.

Còn công việc của Bảo hộ là gì? Nó như thế này:

“Từ khi sự đánh dẹp các nơi đã yên rồi, các viên tổng đốc toàn quyền lần lượt sang kinh doanh việc Đông Pháp và lo mở mang về đường chính trị, kinh tế và xã hội theo chính sách của nước Pháp” (Sđd. Trg 446).

“Về việc hành binh và việc thương mại, thì chính phủ Bảo hộ trước hết phải lo sửa sang và mở mang đường sá cho tiện sự giao thông. Vì rằng có đường thì khi hữu sự, việc đánh dẹp mới tiện lợi và việc buôn bán cũng nhân đó mà được dễ dàng” (Sđd. Trg 446-447).

“Năm Ất Tị (1895), việc tổng đốc toàn quyền Rousseau… thấy còn nhiều nơi chưa yên bèn vay nước Pháp cho Bắc kì 80 triệu Phật-lăng, để chi tiền về việc đánh dẹp và mở mang” (Sđd. Trg 447).

“Năm Đinh Dậu (1897), ông Doumer sang làm tổng đốc toàn quyền… vay nước Pháp 200 triệu Phật-lăng để mở đường hỏa xa trong xứ Đông Pháp và mở mang thêm việc canh nông và việc công nghệ” (Sđd. Trg 447).

“Năm Nhâm Dần (1902)… ông Beau sang làm tổng đốc toàn quyền. Ông Beau chủ trương việc khai hóa dân trí, lo mở mang sự học hành và đặt ra Y tế cục, làm nhà bệnh viện, để cứu giúp những kẻ yếu đau nghèo khổ. Ấy là những công việc làm của chính phủ bảo hộ vậy” (Sđd. Trg 447).

Viết như thế mà người Pháp không cho Trần Trọng Kim chút Bắc đẩu bội tinh nào trong khi Nguyễn Thân được ba lần thưởng Bắc đẩu bội tinh hạng năm, hạng tư và hạng ba (Xứ Đông Dương – Hồi ký của Paul Doumer. NXB Thế giới. H.2016. Trg 296-297).

Nhưng cho in Việt Nam sử lược vào các năm 1920 và 1928 là phần thưởng lớn lắm rồi. (Các lần in sau 1945 không tính vào thành tích của Nhà nước Bảo hộ).

Còn người Pháp khôn, rất khôn, như thế nào?

Làm lợi cho Nhà nước Bảo hộ đến như thế, không thưởng Bắc đẩu bội tinh thì thôi, chứ sao lại bắt làm tội. Và thâm sâu hơn, cũng như đối với Nam Phong tạp chí, cũng phải để cho giới trí thức An Nam có chỗ để xả hơi, “xả súp páp”… Lấy cái dây thừng văn hóa mà thắt buộc họ mới là cao tay. Nhưng mà chức Nghị viên Viện Dân biểu Bắc kì cũng là một phần thưởng cao lắm rồi.

Cho nên, nếu cụ Trần Trọng Kim có chút lòng yêu nước, tinh thần dân tộc nào đó, là trong khuôn khổ của chính quyền thực dân, là trên quan điểm chính trị và lợi ích của Nhà nước Bảo hộ. Về điểm này, chúng tôi tán thành với nhận định của học giả An Chi (Xem Trần Trọng Kim và Việt Nam sử lược trong bộ sách Rong chơi miền chữ nghĩa. Tập 2. Trg 221-227. NXB Tổng hợp. TP.HCM. 2016).

Đây là chỗ then chốt để đánh giá Việt Nam sử lược và để hiểu được con đường chính trị của Trần Trọng Kim sau này. Chúng tôi sẽ nói ở phần sau.

Ông Trần Văn Chánh xem Việt Nam sử lược là bộ tín sử, có giá trị kinh điển, là một kiệt tác luôn cần được đọc và đọc lại (Sđd. Bìa 4).

Bia-sach-Viet-Nam-Su-Luoc

Đây là vấn đề học thuật, cần phải nghiêm túc, phải có cơ sở trong sự đánh giá. VNSL có phải đã đạt được các giá trị đó không?

Trước hết, nói về phần ưu điểm của tác phẩm. Nhiều người đã nói rồi. Nhưng cần nhắc lại để làm cơ sở cho sự đánh giá.

* – Đây là công trình sử học dày dặn đầu tiên bằng chữ quốc ngữ. Chính cụ Trần đã viết:

“Hiềm vì sử nước ta thì làm bằng chữ Nho cả, mà chữ Nho thì từ rày trở đi chắc rồi mỗi ngày một kém đi…

Nay nhân sự học ở nước ta đã thay đổi, chữ quốc ngữ đã phổ thông cả trong nước, chi bằng ta lấy tiếng nước nhà mà kể chuyện nước nhà, ta soạn ra bộ Việt Nam sử lược để ai ai cũng có thể xem được sử, ai ai cũng có thể hiểu được chuyện, khiến cho sự học sử của người mình được tiện lợi hơn trước” (Sđd. Trg 24. Lời Tựa).

* – Được biên soạn theo phương pháp khoa học. Chắc chắn sự học vấn được đào tạo ở nhà trường Pháp và quá trình hành nghề của Cụ Trần, tinh thần duy lí của khoa học Thái Tây đã tạo nên tư duy học thuật – tư duy sử học của Cụ. Về phần này, chúng ta phải ghi nhận, sau thành tích dùng chữ quốc ngữ để biên soạn lịch sử nước nhà. Phần này, các sách báo cũng đã nói đến rất nhiều. Nay không nhắc lại.

* – Dẫu nhiều ít, xa gần, trực tiếp hay gián tiếp, VNSL đã nói được ý nghĩa của bộ môn lịch sử đối với một đất nước, một dân tộc. Sự cần thiết phải hiểu lịch sử nước mình đối với từng người dân và lòng yêu nước, truyền thống yêu nước của người Việt Nam. Trong lời Tựa cũng như ở cuối sách, chương XV và phần Tổng kết, nói lên cái hoài bão về tương lai. Rất đáng trân trọng ghi nhận.

Song, Việt Nam sử lược có nhiều khuyết điểm về mặt nội dung và biên soạn.

Về nội dung, chủ yếu ở phần cuối sách, từ khi người Pháp sang đặt ách đô hộ, như đã nói trên, quan điểm, cách nhìn của người biên soạn là nằm trong quĩ đạo chính trị – tư tưởng của Nhà nước Bảo hộ nên Cụ Trần phải có cách nói nước đôi. Khi Cụ Trần còn là viên chức của Nhà nước Bảo hộ, chúng ta phải thông cảm với Cụ.

Chúng tôi cũng thông cảm, như Cụ nói, đây mới chỉ là sử lược, nghĩa là rất tóm tắt, sơ lược. Song, điều đáng nói là, sự tóm tắt, sơ lược của Cụ đi đến phản lại sự thật, phản lại lịch sử. Xin dẫn cụ thể:

1/ Về Phan Thanh Giản, đánh giá tóm tắt trong mấy dòng: “Ông Phan Thanh Giản biết thế không chống nổi nên bảo các quan đành chịu nộp thành trì cho khỏi sự tai hại, rồi uống thuốc độc mà tự tận, dặn lại con cái phải cày ruộng mà ăn, chứ không được nhận quan chức gì ở Nam kì.

… làm quan thật là thanh liêm, nhưng chẳng may gặp phải khi nước có biến, biết thế mình không làm gì được, đem tấm lòng son sắt mà báo đền ơn nước, cho hết bổn phận người làm tôi” (Sđd. Trg 304).

Hoàn toàn sai. Sau Hiệp ước nhục nhã 1862, chính vua Tự Đức đã phải kêu than: “Ôi! Con dân mấy triệu, tội gì mà khổ thế? Thật là đau lòng. Hai người (Phan và Lâm) không những chỉ là tội nhân của triều đình mà còn là tội nhân muôn đời của hậu thế”. Ngày 21-10-1867, vua Tự Đức ra chỉ dụ:… Mặc dù đã lấy cái chết để tự phạt nhưng cũng chưa đủ đền bù cho trách nhiệm nên trẫm đem giao cả cho Tôn nhân phủ và đình thần xem xét công tội để bàn định việc xử trí” và bản án ngày 17-4-1868 của các triều thần nghị sử:

… Đối với trách nhiệm giữ đất đai mà lại ươn hèn đến thế, sẽ phải phân biệt xử trị để răn khí tiết bề tôi và để nhân tâm có bề phấn chấn mới phải. Trước hết cách chức và truy thâu lại phẩm hàm và ghép vào tội xử trảm giam hậu”. Cùng năm đó Tự Đức bút phê: “truy đoạt chức tước, phẩm hàm và đục bia Tiến sĩ”. Chỉ đến khi Đồng Khánh, lên ngôi, mới ra sắc chỉ khôi phục cho Phan. Tại sao như thế? Vì Đồng Khánh là tên vua tay sai được Pháp dựng lên. Chính Trần Trọng Kim đã viết: Vua Đồng Khánh… ở rất được lòng người Pháp (VNSL. Trg 436). Và đương thời Trương Vĩnh Ký thì hoan hỉ: “Trong cái nhìn đặc biệt về lợi ích của nước Pháp, việc Đồng Khánh lên ngôi quả là may mắn”. Chiêu tuyết cho Phan là có lợi cho người Pháp. Còn Phan có thanh liêm không? Tác giả Nguyễn Văn Thịnh cho biết: Tới lúc lâm chung Phan mới tỏ chân tình với viên quan Pháp Ansart rằng ông dành dụm được mấy ngàn quan (1.000 quan lúc đó tương đương với 700 lạng bạc) và mong muốn ký thác cho các quan Tây đưa mấy đứa cháu lên Sài Gòn học thành tài!

Anh-minh-hoa---Phe-binh-Viet-Nam-su-luoc

Rõ ràng Trần Trọng Kim đã viết về Phan Thanh Giản theo tinh thần của người Pháp. Muốn như vậy buộc phải xuyên tạc hoàn toàn về hành trạng của Phan. Ngày nay đã có đủ tư liệu về Phan Thanh Giản, ông Trần Văn Chánh nghĩ sao? Phần trích dẫn về Phan Thanh Giản, xin ông Trần Văn Chánh xem bài Phan Thanh Giản là người thế nào? của Nguyễn Văn Thịnh trên VN TP.HCM số 392 ngày 10-3-2016. Tác giả Nguyễn Văn Thịnh dựa vào sách “Chân dung Phan Thanh Giản” của Nguyễn Duy. Tủ sách Sử học. Bộ Văn hóa – Giáo dục và Thanh niên Cộng hòa VN. Xuất bản tại Sài Gòn năm 1974.

2/ Về nhân vật Nguyễn Thân:

Trong VNSL, cụ Trần ghi rất tóm tắt:

“ … triều đình Huế… mới xin Chính phủ Bảo hộ để sai quan tổng đốc Bình Định là Nguyễn Thân làm Khâm mạng tiết chế quân vụ đem quân ra tiễu trừ. Ông Phan Đình Phùng lúc bấy giờ tuổi đã già, mà thế lực mỗi ngày một kém, lại phải nay ẩn chỗ này, mai chạy chỗ kia, thật là lao khổ vô cùng, bởi vậy khi Nguyễn Thân đem quân ra đến Hà Tĩnh thì ông đã phải bệnh mà mất rồi… Từ đó đảng Văn Thân tan vỡ…

Nguyễn Thân về kinh được thăng làm phụ chính thay cho ông Nguyễn Trọng Hợp đã về hưu” (Sđd. Trg 444).

Thế thì Nguyễn Thân không đáng phải lên án như từ trước tới nay.

Nhưng chính Nguyễn Thân, trong bức thư khá dài gửi toàn quyền Doumer, ông ta khoe công trạng đối với nước Pháp kể lại những lần đi đánh dẹp, tỏ ra là một tên Đại Việt gian, đại tàn ác. Chính vì vậy mà ngoài ba Huân chương Bắc đẩu bội tinh do Nguyễn Thân tự khoe, Paul Doumer còn yêu cầu trao tặng ông ấy Huân chương Bắc đẩu bội tinh Đại sĩ quan và đề nghị ông làm viên quan đầu triều” (Xứ Đông Dương. Sđd. Trg 294 -297).

Như thế mà là tín sử ư? Nhân vật Nguyễn Thân sẽ được nói tiếp ở kỳ sau.

3/ Về nhân vật Cao Bá Quát:

VNSL viết: “Cao Bá Quát có tiếng là người văn học giỏi ở Bắc kì, mà cứ bị quan trên đè nén, cho nên bức chí, bỏ quan về đi dạy học, rồi theo bọn ấy (giặc châu chấu) xưng là quốc sư để dấy loạn…” (VNSL. Sđd. Trg 396).

Như thế là hoàn toàn xuyên tạc Cao Bá Quát, một nhân cách lớn, một khí phách lớn, người suốt đời chỉ biết cúi đầu trước hoa mai (Nhất sinh đê thủ bái mai hoa” (Xem Toàn tập Cao Bá Quát. Trung tâm Nghiên cứu Quốc học – NXB Văn học. H.2010).

4/ Về phong trào văn thân chống Pháp ở Thanh Hóa, VNSL viết:… ở Thanh Hóa có Hà Văn Mao… (Sđd. Trg 436).

Như thế là cắt xén. Nói đến phong trào Cần Vương ở Thanh Hóa phải nói đến những người lãnh đạo hàng đầu như Phạm Bành, Đinh Công Tráng, Tống Duy Tân… Hà Văn Mao là người cầm đầu bộ phận nghĩa quân ở miền núi phía Tây Thanh Hóa. Và không thể không nói đến Khởi nghĩa Ba Đình (Thanh Hóa vừa kỉ niệm 130 năm Khởi nghĩa Ba Đình) với tính chất quyết liệt và ác liệt của nó. Sau khi nghĩa quân rút lui, quân Pháp đã triệt hạ khu căn cứ Ba Đình gồm 3 làng thuộc huyện Nga Sơn – Thanh Hóa. Địa danh đó được đặt cho quảng trường Ba Đình – Hà Nội bây giờ.

5/ Sau cuộc âu chiến thứ nhất, trần trọng kim viết:

“Năm 1927, ở vùng Nghệ – Tĩnh có cuộc phiến động gây ra bởi Đảng Cộng sản do Nguyễn Ái Quốc cầm đầu. Đến năm 1930, ở Bắc Việt có cuộc cách mệnh của Quốc Dân Đảng, do Nguyễn Thái Học điều khiển… Năm 1940, ở Nam Việt có cuộc phiến động ở vùng Gia Định – Hóc Môn… đến ngày mồng 9-3-1945, quân Nhật đánh quân Pháp và giao quyền nội trị lại cho vua Bảo Đại. Được mấy tháng thì quân Đồng Minh thắng trận, Nhật Bản đầu hàng. Đảng Việt Minh dưới quyền lĩnh đạo của Nguyễn Ái Quốc, đổi tên là Hồ Chí Minh, thừa cơ nổi lên cướp quyền, vua Bảo Đại phải thoái vị và nhường quyền cho Đảng Việt Minh” (Sđd. Trg 445).

Đoạn văn trên bộc lộ Trần Trọng Kim là con người không trung thực. Thôi thì cứ cho các phần trước, như về Phan Thanh Giản, Nguyễn Thân, Cao Bá Quát… Trần Trọng Kim chưa tiếp cận được tư liệu trong và ngoài nước. Nhưng từ Xô Viết Nghệ Tĩnh 1930 cho đến ngày Bảo Đại tuyên bố thoái vị (25-8-1945), Trần Trọng Kim là người trong cuộc, sao lại giấu nhẹm đi sự kiện ông được người Nhật đưa lên làm Thủ tướng chính phủ bù nhìn. Ông đã tuyên cáo với quốc dân điều gì? Ông đã tuyên bố từ chức như thế nào? Làm sao ông giấu được trước lịch sử?

Suốt đời ông (Trần Trọng Kim) làm cho Pháp rồi làm bù nhìn cho Nhật rồi lại mong được người Pháp dùng lại (sau 1945), là con đường chính trị – học thuật của ông. Ông muốn cứu nước nhờ vào bàn tay của ngoại bang. Ông chống Việt Minh cho đến tận cùng. Thôi thì đó cũng là con đường chính trị của ông. Nhưng ông bảo Đảng Việt Minh thừa cơ nổi lên cướp quyền… thì quả là ông nhắm mắt trước thực tiễn, trước sự thật, trước lịch sử. Năm 1927, Nguyễn Ái Quốc đang ở đâu? Đảng Cộng sản có từ bao giờ? Sao ông có thể không biết và làm gì có Đảng Việt Minh! Như thế sao gọi là làm sử được. Bao nhiêu những tuyên ngôn hùng hồn thâm thúy của ông ở đầu sách này, thành ra là… không phải vậy.

Chúng tôi trân trọng những đóng góp của ông về văn hóa – giáo dục, như biên soạn Truyện Kiều (cùng với người anh vợ là Cụ Bùi Kỉ), như biên soạn sách giáo khoa, như phần lịch sử từ đời Hồng Bàng cho đến khi người Pháp sang xâm lược. Nhưng chung cuộc, ông không phải tín sử. Các ông Mai Khắc Ứng, Trần Văn Chánh… tâng bốc ông lên tận mây xanh, nào là tín sử, là kinh điển, kiệt tác… nhưng có người vẫn tâng ông lên cao, lại hạ ông xuống rất thấp, như ông Nguyễn Hải:

Một tài năng tầm cỡ
Một tiết tháo hoen mờ!
Một cái tên, liệu rồi mai một, một mai!…

(Những người Thầy. Nguyễn Hải. NXB Văn học. H. 2016. Trg 514)

Một người am hiểu Nho giáo, soạn hẳn ra một công trình Nho giáo, mà tiết tháo hoen mờ thì cụ Lệ Thần là một tay tự trào, tự hài… đại tài. Nhà Nho mà hoen mờ tiết tháo thì… Có phải cái người Hồng Châu (*) mình nó thế… chăng, như cách nói của một người đồng hương với Cụ, ông Hoàng Ngọc Hiến, cố giáo sư văn học ở Trường Viết văn Nguyễn Du…

Nhưng mà ông Nguyễn Hải quả là tay kì thủ bóng chuyền nam, vào hàng ngoại hạng. Ông gạch chéo vào cái tiết tháo của một nhà Nho thì quả thật xưa nay… hiếm. q

Thăng Long – Hà Nội, mùa Đông năm Thân
2-12-2016

(Còn tiếp)

Quan Văn Đàn
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 432

—————————-

(*) Hồng Châu: chỉ vùng Hà Tĩnh.

Ý Kiến bạn đọc