Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Phê bình văn học của Hồng Diệu

 

Tuyển tập Phê bình văn học của Hồng Diệu rất khiêm tốn. Chỉ có 180 trang, in ở NXB Thanh niên, năm 2019, với 24 bài mục và một số ý kiến bạn đọc. Điều đó cũng có lý vì Hồng Diệu thực ra là nhà nghiên cứu, biên soạn, khảo cứu văn học. Chỉ tính các công trình Đường Thi từ điển, Toàn tập Trần Thanh Mại, Toàn tập Vũ Ngọc Phan, hay Thơ tình Thế giới chọn lọc, Truyện ngắn Thế giới chọn lọc… Đủ thấy Hồng Diệu thiên hướng về nghiên cứu, biên soạn. Song, phê bình văn học của ông, tuy ít, lại rất có ý nghĩa cho bạn đọc cũng như bạn đồng nghiệp.

Trước hết phải khẳng định tinh thần chân tình, thẳng thắn, xây dựng, có sở cứ của Hồng Diệu. Đây là điều khó khăn nhất của phê bình văn học Việt Nam hiện nay. Điển hình là các bài viết về Tế Hanh, Xuân Diệu, Hoài Thanh và Phong Lê.

Nhà thơ Tế Hanh là thủ trưởng của tôi trong mấy ngày hay mấy tuần. Năm 1973, khi tôi thực tập ở NXB Văn học thì ông đang là Phó Giám đốc, cũng như anh Bùi Hiển. Tôi được tiếp xúc với Tế Hanh rất nhiều lần. Một con người hiền hậu đến mức, nếu anh có khiếm khuyết gì, mình cũng không nỡ nói ra. Tôi vẫn ân hận chưa giúp anh tìm ra Tổ họ Trần của anh ở Hoằng Hóa. Anh chỉ nhớ Tổ họ ở Hoằng Hóa, còn một địa danh mà các cụ đem theo vào đất Quảng Ngãi, thôn Ba Đào. Tôi chắc anh cũng tâm sự với nhiều anh em văn nghệ sĩ ở Thanh Hóa. Hay vì Hoằng Hóa thời đó chưa có văn nhân nào cùng thời hay sau anh một vài thế hệ. Cái tình nó át cái tính là như thế đấy. Nhưng Hồng Diệu đã chỉ ra trong tập Giữa những ngày xuân (Tế Hanh. NXB Tác phẩm mới. 1977), là nhà thơ kể nhiều mà chưa đi qua lời kể của những kỉ niệm bình thường (Hồng Diệu. Sđd. Trg.9). Chỗ đáng dừng lại, đi sâu, thì nhà thơ lại kể lướt qua, như trường hợp này:

Đến thăm tôi có cả đồng chí an ninh và đồng chí chủ tịch
Trên trăm người du kích chỉ còn hai.

Câu trên đúng là câu kể. Nhưng câu dưới không chỉ là câu thơ, chất thơ mà là cuộc sống dữ dội ác liệt qua hai cuộc kháng chiến. Đây là chỗ cần đi sâu để bộc lộ rõ hơn cuộc sống kháng chiến. Trên trăm người (du kích) nay chỉ còn hai. Còn một trăm người kia đã chiến đấu và hi sinh như thế nào, đó là điều nhà thơ cần phải đào sâu, khai triển. Chi tiết trên sẽ có trong trang sử của làng của xã. Người đời sau chỉ biết trăm chiến sĩ du kích đó đã hi sinh. Nhưng văn học phải làm hơn thế. Ta nhớ lại câu của Tố Hữu:

Sống trên cát chết vùi trong cát
Những trái tim như ngọc sáng ngời.

Hay câu của Hữu Loan:

Tôi về má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối
Chiếc bình hoa ngày cưới
thành bình hương
tàn lạnh vây quanh.

Hoặc của Hồ Chí Minh:

Hoa hồng nở hoa hồng lại rụng
Hoa tàn hoa nở cũng vô tình
Hương hoa bay thấu vào trong ngục
Kể với tù nhân nỗi bất bình.

Hoặc Lê Anh Xuân:

Chỉ để lại dáng đứng Việt Nam
Tạc vào thế kỷ.

Hồng Diệu cũng nêu lên cái khó của làm thơ mà thường khi nhà thơ ít chú ý. Đấy là sự tự vươn mình lên. Cũng một đề tài, lúc thanh niên, cách nhìn cách nghĩ khác; lúc trung niên, lúc về già từng trải cuộc đời, phải khác. Tế Hanh có bài Quê hương nổi tiếng từ 1936 với câu thơ nhiều người thường nhắc:

Lá buồm dương to như mảnh hồn làng.

Cho đến Nhớ con sông quê hương (1956), khi nước nhà còn bị chia cắt. Và sau ngày thống nhất đất nước, Trở lại với con sông quê hương (1977), thì cái nhìn, sự suy nghĩ, tình cảm của nhà thơ phải khác nhau. Đó mới là cuộc sống. Một ví dụ nhỏ nhưng cũng để làm sáng tỏ thêm chủ đề. Đó là bài Hồi hương ngẫu thư của Hạ Tri Chương đời Đường:

Trẻ xa xứ già mới về
Giọng quê không đổi tóc thì trắng phau
Trẻ con gặp biết gì đâu
Chúng cười mà hỏi ông nào đến chơi.
(Bản dịch của Hồng Diệu)

Ba câu trên là kể chuyện. Nhưng câu dưới là thơ.

So-595--Phe-binh-van-hoc-cua-Hong-Dieu---Anh-1

Trên trăm người du kích chỉ còn hai là chi tiết để mở ra một đoạn thơ. Một trăm người du kích kia đã hi sinh như thế nào. Bị cắt tiết như chị Mạc Thị Bưởi. Bị bắn ngay như Anh Tài Lạc; bị mổ bụng moi gan lấy mật như Lê Quang Vịnh kể lại; bị đặt lên ghế băng chặt đầu như ở Bảo tàng Bến Tre. Bị dội nước sôi để làm thịt như trong Bút kí của Anh Đức. Bị chém như chị Sứ (Hòn Đất) hay bị đánh cho đến chết nếu không chịu bước qua lá quốc kỳ, bị chặt chân 2 lần như chị Huỳnh Thị Kiểng hay 3 lần như chị Lịch hay bị 6 lần cưa chân như Anh hùng Nguyễn Văn Thương (Người bị CIA cưa chân 6 lần)…

Bệnh dễ dãi còn rất nhiều và hiện nay thì càng rất nhiều. Vì thế, ngay từ 1977, Hồng Diệu đã nêu lên qua trường hợp Tế Hanh là một việc làm rất đáng ghi nhận. Thiết nghĩ Hội đồng thơ – Hội Nhà văn và CLB Văn học nên tổ chức nhiều buổi sinh hoạt để bạn đọc hiểu thế nào là văn vần, thế nào là kể chuyện trong thơ. Thế nào là hình ảnh thơ và cảm xúc thơ. Chúng tôi thấy hiện nay có rất nhiều người làm thơ nhưng chủ yếu vẫn là giọng kể, là câu cảm thán. Thơ phải rung động và làm cho người đọc “tương tư” mãi. Như câu của Bích Khê:

Ơ hay! Buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! Vàng rơi
Thu mênh mông…

Với Xuân Diệu, Hồng Diệu cũng nêu lên những bất cập. Thơ Xuân Diệu, qua tập Hồn tôi đôi cánh (Văn học, 1976), Xuân Diệu vẫn phong phú đa dạng nhưng nhiều lúc còn ngổn ngang bề bộn, nhiều chi tiết mà nhẹ về tình cảm, như bài Bài thơ những đồ hộp hoa quả, toàn là giọng kể:

Dưa chuột phải non xanh cùi dày hạt nhỏ
Không lấy cong queo, xây xát,
bầm dập, sâu thối, vàng úa, ong châm…

Trong một phân khối cho phép còn mấy vi trùng!

Tôi muốn ôm vườn dứa chín siết chặt vào giữa hai tay
Dù gai dứa đâm đau tôi vẫn cười hể hả…
Hoặc có khi rất vô ý, sơ ý:
Ta yêu lắm cửa sông mình sóng đỏ
Suốt bốn mùa phù sa.

Hoặc:

Ta còn phải đi đến Qui Nhơn
Cửa biển tức mình hãy còn đập sóng(!)…

Tôi rất tâm đắc với câu của Hồng Diệu: Thơ phải vô hạn ý tứ, không được phép vô ý tứ (Sđd. Trg.14).

Ai cũng biết Xuân Diệu, Tế Hanh là những bậc Thi Bá của Thơ Mới. Nhưng không phải đã là Thi Bá thì có thể chủ quan, dễ dãi. Đấy là đòi hỏi nghiêm khắc của thơ. Ta không thể nào quên được những câu của Xuân Diệu:

Chiều nay nhè nhẹ lên cao
Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn.

Hay:

Trái Đất ba phần tư nước mắt
Đi như giọt lệ giữa không trung.

Không phải hay không thể vì có lúc dễ dãi, vô ý mà phủ nhận sự nghiệp thơ ca của các Thi Bá. Như câu này của Tế Hanh:

Cơn bão đến xô gãy cành rơi lá…

Cơn bão đã đi qua
Nhưng cơn bão trong lòng ta còn thổi mãi…

Hay Khương Hữu Dụng:

Bàn cờ thế sự quân không động
Mà thấy quanh mình nỗi bão giông.

Cái đáng quí của Hồng Diệu là với các nhà thơ lớn, “cây đa cây đề” ông vẫn thẳng thắn nói lên những điều bất cập. Điều đó có ích cho phong trào, cho đời sống thi ca.

Chúng tôi muốn lưu ý với trường hợp GS. Phong Lê. Bài viết này rất ngắn, chỉ có 2 trang (trang 123-124). Trong bài này, GS. Phong Lê cho rằng: “Suốt gần 40 năm qua, nền thơ ca chính thống của ta không có lấy một bài buồn”.

Có rất nhiều bài thơ buồn. Nhưng Hồng Diệu chỉ dẫn ra bài Hai nửa vầng trăng của Hoàng Hữu để phản biện nhận định của GS. Phong Lê:

Tình cờ anh gặp lại vầng trăng
Một nửa vầng trăng thôi, một nửa
Trăng vẫn đấy mà em xa quá
Nơi cuối trời em có ngóng trăng lên?
Nắng tắt đã lâu rồi, trăng thức dậy dịu êm
Trăng đầu tháng có lần em ví
Chữ D hoa như vầng trăng xẻ nửa
Tên anh như nửa trăng mờ tỏ
Ai bỏ quên lặng lẽ sáng bên trời
Ôi vầng trăng theo con nước đầy vơi
Trăng say đắm dào trên cỏ ướt
Trăng đầu tháng như đời anh
Chẳng thể nào khác được
Trăng cuối tháng như đời anh hao khuyết
Em đã khóc
Trăng từng giọt tan vào anh mặn chát
Em đã khóc
Nhưng làm sao tới được
Bến bờ anh tim dội sóng không cùng
Đến bây giờ trăng vẫn cứ còn xanh
Cứ một nửa, như đời anh, một nửa
Nhưng trăng sẽ tròn đầy, trăng sẽ…
Trăng viên mãn cuối trời đêm đêm em có nhớ
Mặt trăng từng khuyết nửa ở trong nhau.
(Hai nửa vầng trăng. 8-1981)

Cho đến nay GS. Phong Lê vẫn chưa chứng minh được nhận định của mình. Mà như lời Hồng Diệu, thì không thể chứng minh được. Chuyện đã lâu rồi, từ ngày 27-3-1992, khi đó GS. Phong Lê là Viện trưởng Viện Văn học. Câu trên là trong bài Đề dẫn của ông trong buổi Hội thảo 10 năm ngày mất của Hoài Thanh và 50 năm ngày xuất bản Thi nhân Việt Nam (1942 – 1992). Chuyện lâu như thế, quên đi cũng được. Mà cũng chẳng thấy GS. Phong Lê có lời nào.

So-595--Anh-minh-hoa---Phe-binh-van-hoc-cua-Hong-Dieu---Anh-1

Nhưng chúng tôi muốn lưu ý bạn đọc chuyện có liên quan. PGS.TS Trần Khánh Thành (Đại học KHXH và NV – Đại học Quốc gia Hà Nội) cho rằng các tác giả lí luận – phê bình đang làm việc ở các nhà xuất bản, các báo, tạp chí cũng có viết lí luận – phê bình, nhưng đó là thứ lí luận – phê bình nghiệp dư. Ý nói về chất lượng. Vì các nhà lí luận – phê bình ở các Viện và Trường Đại học mới là chuyên nghiệp. Chuyên nghiệp thì đúng rồi. Vì chỉ có nghiên cứu và giảng dạy (ở các Trường Đại học) và nghiên cứu (ở Viện Văn học chẳng hạn). Đấy là chuyên nghiệp về hình thức, cơ học, sáng xách ô đi tối vác về và chất lượng thì chưa hẳn đã bằng nghiệp dư. Trường hợp của GS. Phong Lê mà Hồng Diệu nêu lên là rất tiêu biểu. Hồng Diệu sinh năm 1943. Lúc ấy đang là biên tập viên của Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Ông không được học chuyên khoa Văn như GS. Phong Lê, mà chỉ học được mấy năm về Thông tin bên Trung Quốc, biết được ít nhiều tiếng Quan Thoại, đủ để học về Thông tin. Vì yêu văn học mà ngay từ trên ghế nhà trường (năm lớp 9), ông đã mạnh dạn gửi thư cho Cụ Trần Thanh Mại. Cụ Trần Thanh Mại là bậc đáng kính. Quí tấm lòng của trang thiếu niên, Cụ đã hồi đáp và trước sau có đến 14 bức thư gửi cho Hồng Diệu nói về chuyện văn chương.

Năm 2003, đọc bài “Độc đáo Trần Thanh Mại” trên Văn nghệ, tôi đã mời ngay Hồng Diệu làm Toàn tập Trần Thanh Mại. Ông đã không phụ lòng tin cậy của Nhà xuất bản. Cố PGS. Nguyễn Văn Hoàn – nguyên Viện phó Viện Văn học đánh giá là Hồng Diệu đã làm được việc đó (Toàn tập Trần Thanh Mại) và xem đấy là một thành tựu của NXB Văn học. Nhận định về một thể loại thơ không phải là dễ. Ít ra là phải đọc. Nhưng không khó bằng làm Toàn tập cho những nhà văn lớn như Trần Thanh Mại, Vũ Ngọc Phan, hay biên soạn Từ điển thơ Đường. Hồng Diệu đã làm tốt những công trình đó. Như thế thì nên xem xét chất lượng việc làm. Còn chuyên nghiệp hay nghiệp dư trong văn là câu cửa miệng cho vui thôi. Có cán bộ (ăn lương Nhà nước) để nghiên cứu văn học như ở Viện Văn học và cán bộ nghiên cứu giảng dạy ở các khoa Ngữ văn Đại học. Gọi là chuyên nghiệp để khỏi mang tiếng thất nghiệp thôi. Cũng có một số vị giáo sư dành cả đời mình cho nghiên cứu văn học (chuyên nghiệp) nhưng hiếm lắm. Như các GS. Đặng Thai Mai, Đào Duy Anh, Hoàng Xuân Hãn… nhưng đếm được trên đầu ngón tay thôi. Quá hiếm. Còn tốt nghiệp khoa Văn được phân về Viện này Viện kia… thì gọi là chuyên nghiệp cũng đúng mà phó nghiệp dư cũng không phải không đúng.

Hồng Diệu được nhà văn Hoài Thanh hồi đáp cho những lời như thế này:

“Tôi rất thích bài phê bình thơ Tế Hanh của anh. Anh đánh giá đúng và anh đã tìm được những cách nói có tình. Rất mong anh sẽ có thêm nhiều bài phê bình như thế”. (Hồng Diệu… Sđd. Trg.172)

“Tôi vừa được đọc bài viết của anh đăng trên Tạp chí Văn học về quyển Chuyện thơ… Đó là một bài viết có tình và có nhiều nhận xét tinh tế. Bài viết của anh khiến tôi vừa cảm động vừa vui”. (Hồng Diệu… Sđd. Trg.172)

Đây là niềm hạnh phúc của Hồng Diệu. Cũng là niềm vui chung của giới lý luận – phê bình. Vì nhiều người cứ truyền nhau giai thoại rằng Nguyễn Tuân dặn khi nào ông qui tiên thì chôn theo ông một hình nộm nhà phê bình để xuống đấy ông còn tranh luận…

Làm gì có chuyện ấy. Nếu có chỉ là một nhà phê bình, Giáo sư Nguyễn, mượn lời ông để gọi thằng này mặt lợn thằng kia mặt mày… (Hồi ký. Nguyễn Đăng…).

Cũng có chuyện có người nhắc nhở ông về bài Phở. Nhưng ông

Trần Bạch Đằng nhắn ra rất chí lý: Trong lúc đồng bào miền Nam đang chịu đau khổ, đổ máu từng ngày mà đem chuyện giò lụa phở tái ra mà bàn thì…

Phê bình văn học của Hồng Diệu thực sự có ích cho đời sống văn học.

Hà Nội, tháng 5-2020

Liễu Văn Nguyên
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 595

Ý Kiến bạn đọc