Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Pháp lý hay phi lý?

Trên tạp chí Xưa & Nay số 487, tháng 9-2017 có 2 bài của ông Phạm Hồng Tung và ông Nguyễn Văn Kim phê phán hai bài viết của tôi, đó là bài “Đâu là khoảng trống lịch sử?” (đăng trên tuần báo Văn Nghệ số 450 ngày 18-5-2017) và bài “Chuyện khôi hài trong giới sử học hiện nay!” (đăng trên tuần báo Văn Nghệ số 458 ngày 13-7-2017). Do hai bài viết của hai ông có nhiều nội dung tương đồng nên tôi gom lại để trao đổi cùng hai ông trong bài nầy cho tiện.

*
Vấn đề về Bảo Đại và chính thể “Quốc gia Việt Nam”.

- Ông Phạm Hồng Tung viết:

“… Đến đầu năm 1950, Quốc gia Việt Nam được 35 nước công nhận và trong thời gian từ 1950 đến 1955 chính thể nầy tham dự các cuộc họp của Liên hợp quốc và nhiều tổ chức quốc tế với danh nghĩa đại diện chính thức của Việt Nam”. Và “… Trong khi cố gắng tìm kiếm câu trả lời cho vấn đề trên, người ta sẽ nhận ra vai trò quan trọng của chính thể Quốc gia Việt Nam” (Chữ in đậm do tôi nhấn mạnh).

- Ông Nguyễn Văn Kim viết:

“… Do thúc ép từ nhiều phía, ngày 8-3-1949 Tổng thống Pháp Vincent Auriol đã ký với “Quốc trưởng” Bảo Đại hiệp ước Elysée.

Theo nội dung hiệp ước, Pháp chính thức trả lại Nam kỳ cho “Quốc gia Việt Nam” và công nhận sự thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Ngay sau sự kiện này, nhiều nước phương Tây, trong đó có Anh, Mỹ đã công nhận “Quốc gia Việt Nam”. Trong bối cảnh chính trị thế giới có nhiều chuyển biến phức tạp, thế giới bị phân chia thành hai cực, Hiệp ước Elysée được coi là một văn kiện phù hợp với luật pháp quốc tế và là văn bản có giá trị pháp lý cho việc thu hồi lại vùng đất Nam kỳ mà trước đó, theo các hiệp ước năm 1862 và 1874 triều Nguyễn đã phải chuyển giao cho Pháp”. Và “Từ những điều trình bày trên, chúng tôi thấy cần phải nói rõ là, những yêu sách mà chính quyền Campuchia từng nêu ra về “chủ quyền” với vùng đất Nam bộ của Tổ quốc ta cũng chính là vấn đề và là “chủ thể” đích thực mà GS. Phan Huy Lê đề cập trong công trình nghiên cứu. Việc ông Cao Đức Trường luận suy ra một chủ thể khác thực tế là một sự thác ngộ lịch sử. Ông Trường cũng cho rằng “Quốc gia Việt Nam là do Pháp nặn ra và Bảo Đại là bù nhìn, tay sai của Pháp” để phủ nhận ý nghĩa và giá trị pháp lý quốc tế của Hiệp ước Elysée cũng như các Hiệp ước 1862, 1874 mà triều Nguyễn ký kết (Chữ in đậm do tôi nhấn mạnh).

Anh-minh-hoa---Phap-ly-hay-phi-ly-1

Với tinh thần cầu thị, tôi đã đọc đi đọc lại nhiều lần bài viết của hai ông, qua đó, tôi thấy với chỗ đứng của hai ông và chỗ đứng của tôi, dù có tranh luận đến đâu cũng khó có thể dung hòa được. Do vậy, tôi xin trích ý kiến của Bác Hồ về Bảo Đại và Hiệp ước Elysée như sau:

- Trả lời phỏng vấn của Hãng thông tấn Anh Reuter (ngày 2-2-1949):

Hỏi: Đối với cuộc đàm phán giữa cựu hoàng Bảo Đại với Chính phủ Pháp, lập trường của Chủ tịch là thế nào?

Trả lời: Chúng tôi không nhìn nhận những cuộc đàm phán ấy.

Hỏi: Người ta có thể cứ coi cựu hoàng Bảo Đại vẫn giữ chức tối cao cố vấn của Chính phủ Việt Nam không?

Trả lời: Ông ta đã tự cách chức ấy rồi.

Hỏi: Nếu Bảo Đại trở về Việt Nam với những hiệp định Chính phủ Pháp cho Việt Nam độc lập và thống nhất, thì thái độ của Cụ thế nào?

Trả lời: Xin ông xem câu trả lời số 1 và số 2.

—————————————

- Trả lời điện phỏng vấn của Dân Quốc nhật báo (tháng 3-1949):

Hỏi: Xin Chủ tịch cho biết về bản ký kết 8-3 vừa ký giữa Pháp và Bảo Đại?

Trả lời: Đối với Việt Nam, đó chỉ là một tờ giấy lộn. Thứ thống nhất và độc lập giả hiệu ấy chẳng lừa bịp được ai. Ngay nhân dân Pháp và dư luận thế giới cũng đã hiểu rõ và tố cáo điều đó. Lúc nào quân đội thực dân Pháp hoàn toàn rút khỏi đất nước Việt Nam, thì mới có thống nhất và độc lập.

Hỏi: Chính phủ Pháp nói Bảo Đại sẽ đưa lại hòa bình cho Việt Nam. Xin Chủ tịch cho biết ý kiến về điều đó?

Trả lời: Vĩnh Thụy trở về với 10.000 viễn binh Pháp để giết hại thêm đồng bào Việt Nam. Vĩnh Thụy cam tâm bán nước đó là thật sự.

Âm mưu của thực dân Pháp là đặt lại chế độ nô lệ ở Việt Nam.

Vĩnh Thụy làm tay sai cho thực dân, là một tên phản quốc. Pháp luật Việt Nam tuy khoan hồng với những người biết cải tà quy chính nhưng sẽ thẳng tay trừng trị những tên Việt gian đầu sỏ đã bán nước buôn dân.

——————————

- Trả lời phỏng vấn của báo Pháp Action (tháng 5-1949):

Hỏi: Ngài nghĩ gì về thỏa ước giữa Chính phủ Pháp và Bảo Đại?

Trả lời: Thỏa ước ngày 8-3 (1949) là kết quả của việc mua bán giữa Vĩnh Thụy (Bảo Đại) với nước Pháp, chỉ như một tờ giấy lộn. Độc lập và thống nhất viết trong thỏa ước là giả dối. Nhân dân Việt Nam không bị lừa dối. Công luận ở Pháp và dư luận quốc tế đều đã hiểu rõ, và họ đã tố giác những thủ đoạn của bọn thực dân. Không gì có thể gây được lòng tin là nước Việt Nam độc lập khi mà quân đội Pháp được đưa vào ngày càng đông thêm trên đất nước của Tổ quốc chúng tôi.

Hỏi: Nhờ “thỏa ước” với Bảo Đại, Chính phủ Pháp đeo đuổi việc đem lại hòa bình cho Việt Nam. Ngài nghĩ thế nào?

Trả lời: Ông Vĩnh Thụy trở về với hàng nghìn lính Pháp để tăng cường quân đội viễn chinh. Chính ông ta tự nhận lấy việc đứng đầu những cuộc chém giết và cướp bóc đồng bào chúng tôi. Đó là một sự phản bội.

——————————–

(Trích từ Hồ Chí Minh toàn tập – xuất bản lần thứ ba. Tập 6 – Giai đoạn 1949-1950).

Nói về Bảo Đại và chính thể Quốc gia Việt Nam trong tập nầy còn nhiều lắm nhưng tôi chỉ trích những ý tiêu biểu như trên, tôi nghĩ chừng đó cũng đủ để chúng ta soi rọi lại những ý kiến của mình.

Về Bảo Đại và chính quyền bù nhìn, tay sai, Bác Hồ đã dùng đủ từ như: Phản quốc, phản bội, Việt gian đầu sỏ, bán nước buôn dân. Về Hiệp ước Elysée Bác Hồ đã coi đó như tờ giấy lộn, là kết quả buôn bán giữa Bảo Đại và Pháp. Độc lập, thống nhất trong hiệp ước nầy là giả dối, là thủ đoạn lừa bịp của thực dân Pháp.

Tờ giấy lộn mà các ông Phạm Hồng Tung và Nguyễn Văn Kim lại coi là có ý nghĩa và giá trị pháp lý quốc tế. “Chính thể Quốc gia Việt Nam có vai trò quan trọng” và “Chính thể quốc gia Việt Nam được sự công nhận của 35 nước và tổ chức quốc tế chính là trong điều kiện đặc biệt như vậy. Nhưng bất kể điều kiện lịch sử đó đặc biệt như thế nào thì sự công nhận quốc tế đó là sự thật và có giá trị pháp lý quốc tế đầy đủ”.

Nói đến sự thật thì còn nhiều lắm, có sự thật là nước ta, nhân dân ta phải chịu hơn 100 năm nô lệ, hàng triệu người kể cả lương dân vô tội phải chịu cảnh đầu rơi máu chảy. Mời các ông hãy đến Bảo tàng Chứng tích chiến tranh ở thành phố Hồ Chí Minh tham quan một lần để biết vì sao nhiều người nước ngoài đến đây phải rơi lệ.

Còn về câu “Cũng vì cơ sở pháp lý đó mà năm 1949 Tổng thống Pháp ký với Bảo Đại hiệp ước Elysée trả lại đất Nam bộ cho “Quốc gia Việt Nam” chứ không phải một chủ thể nào khác đang vận động đòi lại vùng đất nầy”. Ông Nguyễn Văn Kim muốn bảo vệ ông Phan Huy Lê nên cho rằng chủ thể mà ông Phan Huy Lê muốn nói ở đây là Campuchia. Đang nói chuyện Việt Nam ông Phan Huy Lê lại lái sang Campuchia. Tôi cho rằng đây cũng là cách chạy tội giống như trước đây ông đã từng viết về chuyện một thiếu niên tự tẩm xăng vào mình – châm lửa – rồi lao vào đốt kho xăng địch. Ông cho rằng GS. Trần Huy Liệu đã “dựng lên” câu chuyện thiếu niên Lê Văn Tám tẩm xăng vào người rồi xông vào đốt kho xăng địch cách đấy mấy chục mét. Cách viết của ông lập lờ, lắt léo để người đọc hiểu rằng việc một thiếu niên đốt kho xăng địch là không có thật. Vì “Lúc bấy giờ GS. Trần Huy Liệu đang giữ chức Bộ trưởng Bộ Thông tin – Tuyên truyền trong Chính phủ lâm thời nên GS nói rõ là muốn tạo dựng nên một biểu tượng anh hùng để tuyên truyền, cổ vũ tinh thần chiến đấu của quân dân ta”. Bị dư luận phản ứng dữ dội nên ông viết lại nhưng cũng chẳng rõ ràng: “Tôi nhấn mạnh là GS. Trần Huy Liệu không hề hư cấu sự kiện kho xăng địch ở Thị Nghè bị đốt cháy mà trên cơ sở sự kiện có thật đó, chỉ “dựng lên” theo cách nói của GS, chuyện thiếu niên Lê Văn Tám tẩm xăng đốt cháy kho xăng địch”.

Ông Nguyễn Văn Kim cho rằng cách tiếp cận của tôi là phiến diện, cực đoan, nhưng việc tôn vinh tờ giấy lộn (Hiệp ước Elysée) có “ý nghĩa và giá trị pháp lý quốc tế” thì tôi nghĩ không riêng gì tôi mà bất kỳ ai đứng trên lập trường yêu nước đều không thể chấp nhận.

Vấn đề Trần Văn Hữu và tuyên bố của chính thể Quốc gia Việt Nam tại Hội nghị San Francisco.

Cũng như ở phần 1, ở phần nầy tôi cũng xin trích dẫn một số ý kiến mà trước hết là của Bác Hồ. Trong Hồ Chí Minh toàn tập (tập 6 và tập 7).

Tập 6, trang 91 có đoạn:

Để lừa bịp nhân dân ta, bọn thực dân ở đây tuyên bố thừa nhận Việt Nam “thống nhất và độc lập”. Nhưng đồng thời chúng bắt Vĩnh Thụy và Xuân ký một tờ giấy bí mật, trong đó có mấy điều:

“Việt Nam không có quân đội riêng, không có ngoại giao riêng, không có tài chính riêng, không có quyền can thiệp đến “nước Tây Kỳ”, “nước Thái” và các “nước Nùng”, “nước Thổ” mà Tây sẽ đặt ra.

“Cố nhiên chẳng ai tin cái độc lập thống nhất giả hiệu mà Tây vừa ban cho bọn bù nhìn. Nếu có một ít người nhẹ dạ mà tin chăng nữa, thì sau vài hôm hết tin. Vì ba bốn hôm sau trò hề ở Hạ Long, Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Pháp

đã tuyên bố rõ giá trị và nội dung của Hiệp định Hạ Long trước Quốc hội Pháp.

Thế là thực dân, bù nhìn đã giấu đầu hở đuôi. Thậm chí các báo Việt gian cũng phải ngơ ngác thất vọng, cũng phải chửi khéo thực dân và bù nhìn”.

Tập 6, trang 381: “Tình hình trong nước”:

“A. Nội bộ bù nhìn – Rất lục đục, sau Việt gian Xuân và Hoạch, Việt gian Long cũng chẳng làm nên trò trống gì, và phải chuồn.

Tan rã từ đầu tháng 4, mãi đến đầu tháng 5, Việt gian Trần Văn Hữu mới tổ chức lại được chính phủ bù nhìn, một điều đáng buồn cười là một nhà báo hỏi Hữu: “Người ta nói chính phủ ông sẽ đánh lại Việt Minh phải không?”. Hữu chối đây đẩy. Y nói: “Các báo nói sai. Tôi không bao giờ nói chính phủ tôi sẽ đánh Việt Minh”.

Trả lời phỏng vấn của nhà báo A. Steele, phóng viên báo New York Herald Tribune (tập 6, trang 227):

Hỏi: Có thể có một cách giải quyết nào có Bảo Đại tham dự không?

Trả lời: Chúng tôi không cần gì đến bọn bù nhìn.

Hỏi: Những phần tử nào ủng hộ Bảo Đại?

Trả lời: Bọn bù nhìn và bọn phản quốc.

Ở tập 7, trang 532 có đoạn:

“Thủ tướng (bù nhìn) Hữu tuyên bố với báo chí rằng ông ta rất hài lòng về tình hình chiến sự ở miền Bắc, cũng như về tinh thần cao của quân đội… (AFP, ngày 14-2-1952)

Trong Tạp chí Xưa & Nay, số tháng 9-2017, ngay trong bài ông Phạm Hồng Tung phê phán tôi cũng có một câu rất đúng và hay: “Xét từ những phương diện và yếu tố trên đây, chính thể Quốc gia Việt Nam không có tư cách và cơ sở để đại diện cho toàn thể dân tộc Việt Nam và cho quốc gia Việt Nam. Nó chỉ đại diện cho một số nhóm, tổ chức và cá nhân thuộc giới “thượng lưu bản xứ thân Pháp và chống Việt Minh – Cộng sản”.

Đáng lý chỉ cần một câu nầy của ông thôi cũng đủ sổ toẹt cả bài báo của ông rồi, vậy mà ông còn mắng tôi là dại dột. Ông viết lòng vòng quá khiến tôi cũng phải lòng vòng theo ông làm mất thời giờ của độc giả.

Có lẽ ông cũng đã biết bài viết khá công phu về Hoàng Sa và Trường Sa của tác giả Lãng Hồ đăng trên tập san Sử Địa do Nhà sách Khai Trí bảo trợ và phát hành năm 1974 tại Sài Gòn. Tôi xin trích một vài đoạn để chúng ta cùng tham khảo:

Trang 100 và 101:

“… Năm 1946, sau khi Nhật Bản đầu hàng Đồng Minh phải chính thức từ bỏ chủ quyền trên hai quần đảo Paracels và Spratley mà họ đã chiếm đoạt bằng võ lực. Sự Nhật Bản từ bỏ chủ quyền trên đã được ghi chép trong bản Tuyên ngôn Lơ-Ke (ngày 27-11-1943, Cairo Declaration) và trong bản Hòa ước San Francisco ký kết ngày 8-9-1951. Có điều đáng tiếc là trong Tuyên ngôn Lơ-Ke chỉ kể tới Mãn Châu, Đài Loan và quần đảo Bành Hồ (Pescadores) là những lãnh thổ do Nhật Bản phải trả lại cho Trung Quốc mà không hề đá động tới hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Chính sự thiếu minh bạch của Tuyên ngôn Lơ-Ke và cả của Hòa ước San Francisco đã được các quốc gia sau nầy tranh chấp chủ quyền với Việt Nam khai thác để chủ trương hai quần đảo trên phải trả lại cho họ…”.

Trang 102 và 103:

“… Theo như Hãng thông tấn Havas loan tin ngày 23-9-1940, thời ngày 30-8-1940, Chính phủ Nhật Bản thử thời đã ký một thỏa ước theo đó Nhật Bản long trọng cam kết sẽ tôn trọng mọi quyền lợi của Pháp ở Viễn Đông, kể cả sự toàn vẹn lãnh thổ ở Đông Dương (cf. Roge pinte, Problèmes du Pacifique en 1940 p.p. 9.10). Kế đến, ngày 9-3-1945, sau khi lật đổ chính quyền Pháp ở Việt Nam, Nhật Bản tuyên bố “đánh Pháp để giựt lại chính quyền trả cho Việt Nam. Nước Việt Nam, từ nay, hoàn toàn độc lập để hiệp lực cùng Nhật xây dựng khối thịnh vượng tại Đông Á”. Đồng thời cựu hoàng Bảo Đại đã tuyên bố “hủy bỏ tất cả những hiệp ước ký giữa Việt Nam và Pháp bấy lâu”.

Xem đó, hồi tháng 12-1946, hàng quân Nhật Bản chỉ để Trung Hoa Dân Quốc tước khí giới họ trên hai quần đảo Paracels và Spratley thôi, chứ đâu phải là Trung Hoa Dân Quốc tiếp thu hai quần đảo đó ở Chính phủ Nhật Bản đương thời. Lại cũng nên ghi thêm rằng một phần quần đảo Paracels và riêng quần đảo Spratley ở vào dưới vĩ tuyến 16 và cả hai đều thuộc lãnh hải Trung Việt và Nam Việt chứ không thuộc lãnh hải Bắc Việt. Sau hết, ta cũng không nên quên rằng trước khi đến hai quần đảo đó tước khí giới hàng quân Nhật Bản, Trung Hoa Dân Quốc đã thỏa thuận ký với Pháp hiệp ước ngày 28-2-1946 theo đó quân đội Pháp đổ bộ lên Bắc Việt thay thế quân đội Trung Hoa để tước khí giới và hồi hương binh sĩ Nhật. Công việc chuyển giao Hoa – Pháp có thể kết liễu vào cuối tháng 3-1946. Chính vì lẽ nầy, khi biết Trung Hoa Dân Quốc chiếm đóng hai quần đảo vào ngày 7-1-1947, Chính phủ Pháp đã chính thức phản kháng với Trung Hoa Dân Quốc và tái xác nhận chủ quyền của Việt Nam. Đồng thời Pháp lại Phái chiến đỉnh Le Tonkinois tới thám sát ở quần đảo Paracels. Chiến đỉnh nầy đổ bộ 10 lính Pháp và 17 lính Việt Nam lên chiếm đóng đảo Pattle (Hoàng Sa), sau đó Pháp thiết lập trên đó một đài khí tượng”.

Đoạn sau của bài viết của ông Lãng Hồ cũng có nhiều điều giống với bài viết của ông Phạm Hồng Tung về thời kỳ của Quốc gia Việt Nam và Việt Nam Cộng hòa nên tôi không trích nữa.

Qua các đoạn trích trên ta thấy ông Lãng Hồ thấy “đáng tiếc” và “sự thiếu minh bạch” của Tuyên ngôn Lơ-Ke và Hòa ước San Francisco đã không hề đá động tới Hoàng Sa và Trường Sa.

Chúng ta thấy thêm là việc Nhật bị Trung Hoa Dân Quốc tước khí giới ở Hoàng Sa và Trường Sa rồi sau đó chiếm đóng luôn thì Pháp đưa tàu ra chiếm lại.

Tới giai đoạn có Quốc gia Việt Nam thì như Bác Hồ đã nói việc Pháp trao độc lập thống nhất cho Việt Nam qua Hiệp ước Elysée chỉ là thứ giả hiệu, lừa bịp.

Về Trần Văn Hữu thì trong bài “Chuyện khôi hài trong giới sử học hiện nay!” tôi đã nói rồi, nhân bài nầy tôi xin nói thêm:

- Quốc trưởng Bảo Đại là tên phản quốc, bán nước thì thủ tướng của Quốc gia Việt Nam có thuộc loại phản quốc, bán nước không?

- Mọi hành vi của bọn bán nước buôn dân nầy thực chất có vì lợi ích quốc gia dân tộc không? Vì lợi ích quốc gia dân tộc sao lại đi phản quốc?

- Một chính phủ là tay sai, bù nhìn do thực dân Pháp dựng lên để phục vụ cho ý đồ lừa bịp. Một chính thể mà không có quân đội riêng, không có tài chính riêng, không có ngoại giao riêng thì không phải là cái loa của Pháp thì ai cho họ tới hội nghị nầy và trong thực tế Hòa ước San Francisco được ký kết mà không hề đá động đến Hoàng Sa và Trường Sa, một hội nghị quốc tế sao lại “thiếu minh bạch” như vậy?

Cuối cùng thì trước, sau tôi vẫn thấy không thể chấp nhận việc ca ngợi một việc mà thực tế một chính thể phản lại lợi ích dân tộc đã làm thay cho bọn thực dân cướp nước. Không ai có thể phủ nhận thực quyền và tham vọng của bọn thực dân muốn áp đặt ách cai trị lên toàn cõi đất nước ta chứ không riêng gì Hoàng Sa và Trường Sa, vậy mà Quốc gia Việt Nam lại cam tâm đi làm tay sai, phục vụ cho ý đồ đen tối của kẻ thù dân tộc.

Bài viết tới đây cũng đã khá dài so với khuôn khổ của tuần báo Văn Nghệ. Trước khi kết thúc bài nầy, tôi xin được nói với ông Phạm Hồng Tung rằng tôi không có mục đích và ý đồ công kích cá nhân ông Trần Đức Cường và với Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam thì làm sao một người có kiến thức hạn hẹp như tôi lại có thể chống lại một tổ chức chuyên ngành như thế được. Đây là một thực tế, một sự thật mà ai cũng thấy. Có lẽ khi đọc những lời lẽ không hợp ý mình rồi ông giận quá nên quá lời chăng? Trong bài tôi viết “Chuyện khôi hài trong giới sử học hiện nay!” là tôi nói cái khôi hài trong giới sử học (tất nhiên là với một vài cá nhân cụ thể) chứ tôi đâu có xem bài viết của mình là một trò đùa. Nội dung bài viết từ ý tứ đến câu chữ đều rất nghiêm túc. Trước một sự kiện hệ trọng của lịch sử nước nhà thì ai có thể đùa được. Lịch sử mà không chính xác, lệch lạc, méo mó thì không một công dân nào có thể chấp nhận. Tôi lên tiếng vì trách nhiệm của một công dân, đơn giản vậy thôi.

Hai bài viết của ông Phạm Hồng Tung và ông Nguyễn Văn Kim còn nhiều điều cần được trao đổi thêm, xin được hầu chuyện với hai ông vào những số báo sau.

12-10-2017

Cao Đức Trường
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 472

Ý Kiến bạn đọc