Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Pháp lý hay phi lý?

Phần II

Bài viết trước tôi tập trung vào hai vấn đề lớn là “Vấn đề giá trị pháp lý quốc tế của Hiệp ước Elysée” và “Trần Văn Hữu với Hội nghị San Francisco”. Trong bài nầy, tôi tiếp tục nêu một số nội dung khác trong bài viết của hai ông Phạm Hồng Tung và Nguyễn Văn Kim trên tạp chí Xưa & Nay, số 487 tháng 9-2017 như sau:

1. Ông Phạm Hồng Tung viết: “Cho đến đầu năm 1950, chính thể Quốc gia Việt Nam đã được sự công nhận của 35 nước và tổ chức quốc tế chính là trong điều kiện lịch sử đặc biệt như vậy. Nhưng bất kể điều kiện lịch sử đó đặc biệt như thế nào thì sự công nhận quốc tế đó là sự thực và có giá trị pháp lý quốc tế đầy đủ. Sự thực là: Quốc gia Việt Nam là đại diện chính thức của Việt Nam tại các diễn đàn quốc tế, trong đó có Hội nghị San Francisco năm 1951”.

Chuyện đơn giản vậy mà sao ông Phạm Hồng Tung làm cho rối lên thêm. Chúng ta hãy nhớ lại thời kỳ chống Mỹ, chúng ta đâu có ân oán gì với một số nước như: Úc, Tân Tây Lan, Phi Luật Tân, Thái Lan, Nam Hàn, vậy mà họ cũng kéo quân tới gây đau thương, chết chóc trên đất nước chúng ta. Chỉ một mình Mỹ thôi mà còn lôi kéo được một lực lượng lớn như vậy vào cuộc chiến tranh thảm khốc, huống chi thời 1950, để tô điểm cho Quốc gia Việt Nam bằng ảnh hưởng của 3 cường quốc như Anh, Pháp và Mỹ thì 35 nước và tổ chức quốc tế công nhận Quốc gia Việt Nam thì cũng chưa phải là nhiều. Nhưng vấn đề ở đây không phải ít hay nhiều, thời đó, chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa của chúng ta có nước nào công nhận đâu mà cả nước ta đều nhìn nhận đó là chính phủ của mình. Ngoài cái câu của ông Phạm Hồng Tung mà tôi đã khen hay và đúng ở bài trước: “chính thể quốc gia Việt Nam không có tư cách và cơ sở để đại diện cho toàn thể dân tộc Việt Nam và cho quốc gia Việt Nam” thì sau đó ông lại viết “Sự thực là: Quốc gia Việt Nam là đại diện chính thức của Việt Nam tại các diễn đàn quốc tế”. Sao câu dưới lại đá câu trên như vậy? Tôi thấy ông dẫn ra việc các nước và tổ chức quốc tế công nhận quốc gia Việt Nam là ông đã lấy hiện tượng để phủ lên bản chất thật của sự việc, tôi thấy đó là một việc làm hết sức phi lý.

Trong bài viết “Chuyện khôi hài trong giới sử học hiện nay!”, tôi hết sức bức xúc với câu nói của ông Trần Đức Cường: “Vậy chúng ta sẽ đặt vấn đề gì nếu ta nói đó hoàn toàn là ngụy”. Ông Phạm Hồng Tung cũng có cách nói gần giống như vậy: “Cho dù sau nầy Trần Văn Hữu được giới nghiên cứu đánh giá thế nào, là “ngụy” hay không là “ngụy”, rồi sau đó ông có vẻ khẳng định hơn: “Không nghi ngờ gì, chính thể quốc gia Việt Nam, Quốc trưởng Bảo Đại và Thủ tướng Trần Văn Hữu đều là những bù nhìn của thực dân Pháp, do thực dân Pháp dựng lên để thực hiện chiến lược chính trị trong cuộc chiến tranh phi nghĩa tái chiếm thuộc địa của họ ở Đông Dương và Việt Nam. Tuy nhiên dẫu là “ngụy”, là bù nhìn của người Pháp”. Mặc dù có chữ “dẫu là” trước chữ “ngụy” nhưng chữ ngụy lại được bỏ trong ngoặc kép, cũng như trước đó ông cũng đã có vẻ khẳng định: “… chính thể Quốc gia Việt Nam là một “ngụy triều”. Có thể thấy rằng ông Phạm Hồng Tung trước sau vẫn chưa khẳng định chính thể Quốc gia Việt Nam là ngụy. Đọc ý kiến của Bác Hồ, tôi thấy Bác Hồ đã dùng từ ngữ rất rõ ràng như bài trước tôi đã trích như: Phản quốc, bán nước, chó săn, bù nhìn, tay sai, và Bác Hồ cũng còn dùng chữ ngụy nữa: “Trong ngụy quyền, ngụy quân có những đứa đại gian ác…” (Hồ Chí Minh toàn tập – tập 7, trang 388). Như vậy, nội dung nầy tôi thấy nên để độc giả, công luận cân nhắc xem chúng ta phải nói theo ai.

Tieu-don-Nguyen-Van-To-dieu-hanh-o-Sai-Gon-trong-giai-doan-khang-chien-chong-Phap-nam-1945-1
Tiểu đoàn Nguyễn Văn Tố diễu hành ở Sài Gòn trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp năm 1945 -
Ảnh: Bùi Đình Túy – Nguồn: kienthuc.net.vn

Về Hiệp ước San Francisco, những gì cần nói tôi đã nói trong bài trước, nay nhân nói đến sự bất nhất của ông Phạm Hồng Tung tôi xin dẫn thêm một chuyện. Ông Tung coi tuyên bố của chính thể Quốc gia Việt Nam tại Hội nghị San Francisco “… đây chính là một tuyên bố lịch sử, có giá trị pháp lý quốc tế cao nhất của Việt Nam đối với hai quần đảo trên”. Ông Tung đã tự mâu thuẫn với mình khi trước đó ông đã viết “… chính thể quốc gia Việt Nam không có tư cách và cơ sở để đại diện cho toàn thể dân tộc Việt Nam và cho quốc gia Việt Nam”. Nếu tuyên bố đó “Có giá trị pháp lý quốc tế cao nhất” của Việt Nam như ông Tung viết thì nó là thứ “bửu bối”, là cơ sở chính yếu để chính phủ ta đấu tranh với Trung Quốc trong tranh chấp hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa chứ đâu phải chỉ với luật biển năm 1982, các bản đồ cổ của một số giáo sĩ và thương nhân kể cả các bản đồ cổ của Trung Quốc, những tài liệu trong các thư tịch cổ từ thời các chúa Nguyễn đến triều Nguyễn… các tài liệu nầy trở thành thứ yếu. Chuyện nầy không khó để chúng ta nhận diện những cơ sở pháp lý nào đã trở thành vũ khí đấu tranh của chính phủ ta trong cuộc đấu tranh vừa qua và hiện nay (các phương tiện truyền thông suốt thời gian dài vừa qua đã thể hiện điều đó). Nhứt định không ai – không thế lực nào – có thể “lợi dụng” hoặc dựa vào việc tôi phủ nhận tư cách của một chính thể phản dân, hại nước mà lại làm “suy yếu và phủ nhận chủ quyền quốc gia của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”.

Về xu hướng địa phương chủ nghĩa và xu hướng ly khai chủ nghĩa, ông Phạm Hồng Tung viết: “Bên cạnh xu hướng chủ đạo hướng tới thống nhất quốc gia dân tộc, đã tồn tại những xu hướng địa phương chủ nghĩa (regionalism) và xu hướng ly khai chủ nghĩa (separatism) trong lịch sử Việt Nam. Nhất là lịch sử Việt Nam cận đại”. Và “Trong cuộc xâm lăng tái chiếm thuộc địa sau Thế chiến thứ II, lợi dụng chủ nghĩa ly khai để làm suy yếu khối đại đoàn kết dân tộc…”. Về vấn đề nầy, tôi có ý kiến như sau:

- Mặc dù trong thực tế Pháp có chính sách “chia để trị” như ông Tung đã nói nhưng dân ta thì sao? Có chấp nhận chính sách ấy không? Tôi thấy cần chứng minh với ông một số dẫn chứng.

Đất nước Việt Nam trải dài trên nhiều vĩ độ và hình thành qua nhiều thời kỳ. Do những đặc điểm về không gian và thời gian đó, “giữa các vùng khác nhau có những khác biệt nhất định, những màu sắc địa phương của cuộc sống (Viện Sử học, Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1976). Một số nhà sử học phương Tây – đứng đầu là Keith W. Taylor (Nhờ luận điểm phản động nầy, Keith W. Taylor được Nguyên Ngọc, trưởng ban vận động Văn đoàn độc lập, trao giải thưởng Phan Châu Trinh) đã có ý đồ xấu khi tô đậm những khác biệt địa phương (mà nước nào cũng có) thành “các xung đột vùng miền giữa các dân tộc Việt” (regional conflicts among the Viet Peoples – Bản dịch đăng trên tạp chí Xưa & Nay của Hội Khoa học lịch sử Việt Nam). Lập luận đó bị nhiều nhà nghiên cứu phản bác nhưng nay lại xuất hiện trong bài viết của ông Phạm Hồng Tung.

- Từ lâu, người trong nước cũng như người nước ngoài đều nhận định: “Cả nước vẫn thể hiện rõ nét tính thống nhất về tiếng nói, về cách ăn mặc, cư xử, về tổ chức xóm làng, về phong thái chung của đời sống vật chất và tinh thần (Viện Sử học, “Nước Việt Nam là một…”). Xin trích dẫn:

- Ai chia, ai hợp không cần biết

Nam Bắc xưa nay vẫn một nhà. (Nam Hà tiệp lục)

- Nam Bắc đều là đất nước đây

Núi sông chẳng vạch quốc gia nầy. (Bùi Dương Lịch)

- Nắng mưa chưa chịu trời chung một

Sông núi đừng cho đất xẻ hai. (Trịnh Hoài Đức)

(Viện Sử học, “Nước Việt Nam là một…”)

- Nhân dân Việt Nam “rất hòa hợp, ăn ý với nhau, cư xử với nhau một lòng ngay thẳng thật thà như họ đều là anh em sinh ra và lớn lên trong cùng một nhà vậy, mặc dù họ chưa từng thấy nhau, biết nhau bao giờ” (Christofo Borri, giáo sĩ người Ý đầu thế kỷ XVII).

- “Dân cư cả hai miền đều nói chung một ngôn ngữ, theo cùng một phong tục và quý mến nhau” (Pierre Poivre, thương nhân Pháp giữa thế kỷ XVIII).

- “Người Đàng Ngoài và người Đàng Trong, xét về nguồn gốc, ngôn ngữ, tập quán và chính quyền, là cùng một dân tộc” (Aperçu sur la géographie, les produtions, l’industrie, les mieurs et les coutumes du royaume d’Annam). (Viện Sử học, “Nước Việt Nam là một…”)

- Qua thời cận đại, tuy triều đình Huế mắc những sai lầm trong công cuộc phòng thủ đất nước khiến Nam kỳ rơi vào tay thực dân Pháp, người dân ở đây – qua thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu – không hề có “xu hướng địa phương chủ nghĩa và xu hướng ly khai chủ nghĩa” như ý của ông Phạm Hồng Tung mà vẫn một lòng hướng về kinh đô, “sống thờ vua, thác cũng thờ vua” (Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc), “năm dài những mảng ngóng tin vua… Trước sau cho trọn chữ quân thần” (Thơ điếu Trương Công Định).

- Đại úy Gosselin trong đoàn quân viễn chinh Pháp nhận định: “chúng ta đứng trước một dân tộc thống nhất ở mức độ cao nhất mà người ta có thể hình dung, từ vùng núi ở thượng du Bắc kỳ đến biên giới Campuchia, về các phương diện chủng tộc cũng như chính trị và xã hội” (Trích dẫn bởi Philippe Devillers, Histoire du Vietnam de 1940 à 1952, NXB Seuil, Paris, 1952, tr.16).

- Toàn quyền De Lanessan cũng phải thừa nhận: “Trong thực tế, Trung kỳ, Bắc kỳ và ngay cả Nam kỳ hợp thành một quốc gia hết sức thống nhất mà cư dân đều nói một tiếng nói, có cùng một phong tục tập quán, cùng một tôn giáo” (Viện Sử học, “Nước Việt Nam là một…”).

Như vậy trong lịch sử Việt Nam cận đại, không hề có cái gọi là “xu hướng địa phương chủ nghĩa và ly khai chủ nghĩa” như ông Tung viết. Cách nay hơn 40 năm, các tác giả ở Viện Sử học đã khẳng định: “Nguồn gốc thực sự của “vấn đề Nam bộ”, “vấn đề Nam kỳ”, hoặc “Nam kỳ tự trị” là thuộc âm mưu của thực dân, chứ không phải là vấn đề khách quan tồn tại trong lịch sử hình thành dân tộc Việt Nam” (Viện Sử học, “Nước Việt Nam là một…”).

Ông Phạm Hồng Tung đã trực tiếp tuyên truyền một luận điểm sai trái, đã tán phát nhận thức lệch lạc của mình trên tờ tạp chí Xưa & Nay là cơ quan của Hội Khoa học lịch sử Việt Nam. Ý kiến sai lầm của ông Tung được tạp chí Xưa & Nay tán đồng và tán phát rộng rãi như vậy có “cực kỳ nguy hiểm” không? Giữa ông Tung và Keith W. Taylor ai đã “tiếp tay” cho ai trong ý đồ xuyên tạc tình đoàn kết, thống nhất của dân tộc ta nhằm gây rối sự yên bình của Việt Nam khi vừa trải qua những đau thương, mất mát chưa kịp bù đắp, phục hồi được? Tôi cũng xin dành phần suy nghĩ và phán xét việc nầy của độc giả. (Những chữ trong ngoặc kép trong đoạn văn nầy tôi đã dùng lại chữ của ông Tung trong tạp chí Xưa & Nay)

Ông Phạm Hồng Tung viết: “Cao ủy mới của Pháp là Émile Bollaert, sau khi thất bại với âm mưu “chiêu hàng Hồ Chí Minh đã quyết định chơi con bài Bảo Đại”. Sao ông Phạm Hồng Tung lại có thể dùng từ “chiêu hàng Hồ Chí Minh” ở đây? Trong thực tế, sau khi Hồ Chủ tịch gởi thư cho Chính phủ Pháp ngày 25-4-1947, Thủ tướng Pháp là Ramadier đồng ý cho Cao ủy mới của Pháp là Bollaert và tướng Valluy đặt điều kiện với Chính phủ ta cho yêu cầu ngưng bắn nhưng thực chất đó là một tối hậu thư gồm những điều kiện như:

1. Phải nộp hết vũ khí cho Pháp.

2. Đòi quyền tự do đi lại cho quân lính của họ khắp nơi trên đất nước Việt Nam.

Chấp nhận những điều kiện như vậy chẳng khác nào buộc ta phải đầu hàng. Trong thư gởi nhân dân Pháp, Hồ Chủ tịch viết: “Thế là bọn quân phiệt thực dân bị mù mắt trước một vài thắng lợi không có tương lai và chỉ có bề ngoài không có thực sự, đã cố ý đưa ra những điều kiện vô lý để cho hai dân tộc không thể thân thiện với nhau được, để cho họ tiếp tục hãm hiếp, cướp bóc, đốt phá, giết người, họ muốn tiếp tục chiến tranh”. Và trong lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước sau cuộc hội kiến với Pôn Muýt, đại diện Cao ủy Pháp Bollaert, Hồ Chủ tịch viết: “Thế là chúng đòi ta đầu hàng. Chúng đòi bóp cổ tổ quốc ta. Chúng đòi ta để chúng tha hồ đốt làng, cướp của, tàn sát nhân dân, hãm hiếp phụ nữ, phá hoại đền chùa và nhà thờ. Thế là chúng đòi toàn thể đồng bào ta và con cháu ta đời đời quỳ gối, cúi đầu làm nô lệ cho chúng” (Những lời của Hồ Chủ tịch trên đây trích từ Hồ Chí Minh toàn tập).

Trong tác phẩm Paris – Saigon – Hanoi của tác giả Philippe Devillers (Hoàng Hữu Đản dịch, NXB Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, 2003, tr.409) có đoạn: “Ông ta (tức TT Ramadier – NV) đồng ý cho cao ủy mới Bollaert và tướng Valluy đặt ra cho cuộc ngưng chiến do chính phủ Việt Nam đề nghị những điều kiện hết sức hà khắc. Vậy là nhiệm vụ thăm dò của giáo sư Paul Mus đã biến thành một việc trao tối hậu thư, để rồi nhận được một câu trả lời đã trở thành lịch sử của Hồ Chí Minh (ngày 12-5):

“Nếu chúng tôi chấp nhận những điều kiện đó, chúng tôi sẽ là những kẻ hèn nhát. Trong liên hiệp Pháp, không có chỗ cho những tên hèn nhát”.

Thái độ của Pháp như chúng ta đã biết đâu có dụng ý “chiêu hàng”, nếu muốn “chiêu hàng” thì phải bằng thủ đoạn dụ dỗ, mua chuộc bằng tiền tài, danh vị chứ đâu có ra điều kiện có tính chất gay gắt, trịch thượng như vậy.
Ông Phạm Hồng Tung dùng từ “chiêu hàng Hồ Chí Minh” vừa không đúng tính chất của sự việc vừa có ý xúc phạm, coi thường lãnh tụ kính yêu của nhân dân ta.

Còn một câu nầy của ông Phạm Hồng Tung: “Trên chiến trường, sau khi chiến tranh chính thức bùng nổ vào đêm ngày 19-12-1946, thực dân Pháp sử dụng chiến lược “đánh nhanh thắng nhanh” hòng nhanh chóng đè bẹp sức kháng cự của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”. Tôi thấy cách viết nầy chưa ổn. Ông nói “trên chiến trường”, vậy Nam bộ có phải là một điểm nóng của chiến trường ở Việt Nam không? Ông nói “chiến tranh chính thức bùng nổ vào đêm ngày 19-12-1946”, như vậy, ngày 23-9-1945 nhân dân Nam bộ nổ súng kháng cự lại hành động tái chiếm của Pháp ở Nam bộ có được coi là chính thức không? Tôi thấy trong “Thư Chủ tịch Hồ Chí Minh gởi đồng bào Nam bộ ngày 26-9-1945, nghĩa là chỉ sau lúc nổ súng chỉ có 3 ngày, Bác Hồ đã coi hành động kháng địch ở Nam bộ nằm trong tổng thể của cuộc chiến đấu để giữ nền độc lập của nước nhà. Chỉ có điều ai cũng biết “miền Nam đi trước về sau”, hoặc có mấy câu thơ rất hay mà nhiều người thuộc: “Chín năm làm một Điện Biên/ Nên vành hoa đỏ, nên thiên sử vàng” và “Ồ, đã chín năm rồi đấy nhỉ/ Kháng chiến ba ngàn ngày không nghỉ”. Nếu tính từ 19-12-1946 thì có 8 năm thôi và 8 năm thì không đủ 3.000 ngày. Như vậy cuộc kháng chiến 9 năm chống Pháp đã được kể từ ngày Nam bộ kháng chiến (23-9-1945).

Để khẳng định điều nầy, tôi xin trích một đoạn trong Báo cáo chính trị tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng như sau: “Đảng và Chính phủ ta đã nhận cuộc kháng chiến có 3 giai đoạn:

Giai đoạn thứ nhất, thì ta cốt giữ vững và phát triển chủ lực. Giai đoạn nầy từ ngày 23-9-1945 đến hết chiến dịch Việt Bắc, Thu-Đông 1947”. Như vậy là đã rõ, cuộc kháng chiến của quân và dân ta đã bắt đầu từ 23-9-1945 nhưng lúc đó, chiến tranh còn giới hạn ở Nam bộ, chưa lan ra cả nước, nhưng không phải chỉ có nhân dân Nam bộ đánh giặc mà còn có cả các đoàn quân tình nguyện, xung phong Nam tiến và có cả lực lượng ở hải ngoại về nước tham gia chiến đấu. Như vậy có thể nói ở thời điểm đó toàn dân kháng chiến trên đất Nam bộ.

Ở đây tôi chỉ nói cách viết của ông Tung thôi, vì cách viết chính xác sẽ giúp ích rất nhiều trong dạy sử và học sử.

2. Ông Nguyễn Văn Kim diễn giải các hiệp ước mà triều Nguyễn đã ký với Pháp.

Trước hết, chúng ta cần xem lại diễn tiến của từng hiệp ước:

Hiệp ước 1862 hình thành trên cơ sở Pháp đổ quân tấn công chiếm trọn 4 tỉnh: Gia Định, Biên Hòa, Định Tường và Vĩnh Long. (Khi hiệp ước được ký thì Pháp trả lại Vĩnh Long nhưng ta phải giao cho họ Quần đảo Côn Lôn). Ngày 5-6-1862, một hiệp ước được ký kết giữa đại diện triều đình nước Đại Nam và Pháp. Một điều đáng buồn là qua hiệp ước nầy, ta vừa bị mất đất mà còn phải trả cho Pháp 4 triệu đồng gọi là binh phí. (Giặc chiếm đất mình mà mình còn phải trả tiền công đi chiếm đất của họ thì quả là xưa nay chưa từng thấy!)

Ông Nguyễn Văn Kim viết: “Sau khi chiếm 3 tỉnh miền Đông Nam bộ, năm 1867 thực dân Pháp lại cho quân đánh chiếm 3 tỉnh miền Tây”. Ông Nguyễn Văn Kim dùng chữ đánh chiếm để nghe cho có màu sắc chiến tranh chứ sự thật đúng như nhà sử học Nguyễn Phan Quang đã viết: “Và chỉ trong vòng 7 ngày (từ 18-6 đến 24-6-1867), quân Pháp chiếm luôn 3 tỉnh miền Tây không tốn một viên đạn” (Việt Nam thế kỷ XIX – 1802-1884 – NXB TP. Hồ Chí Minh – 1999, tr.301). Tại sao vậy? Tại vì quan Kinh lược Phan Thanh Giản đã đầu hàng. Chẳng những ông đầu hàng khi đang là Kinh lược 3 tỉnh miền Tây kiêm Tổng đốc Vĩnh Long mà ông còn viết thư đề nghị Tổng đốc An Giang và Hà Tiên cũng đầu hàng. Đến ngày 15-3-1874, một hiệp ước nữa được ký kết và cũng kể từ đó Nam kỳ chính thức được thừa nhận là thuộc địa của Pháp.

Cũng theo nhà sử học Nguyễn Phan Quang: “Nhưng khắp mọi nơi, chính quyền nhà vua bất lực, không còn được tôn trọng. Đa số sĩ phu không thừa nhận điều ước và sẽ nhất tề nổi lên…” (sđd, tr.325). Việc “không thừa nhận điều ước” và “nhất tề nổi lên” đó có trái với công pháp quốc tế không? Thời đó, các phong trào chống Pháp nổi lên mãnh liệt như các lực lượng nghĩa quân Trương Định, Võ Duy Dương, Đỗ Trình Thoại, Nguyễn Hữu Huân, Nguyễn Trung Trực, Trần Xuân Hòa, Hồ Huân Nghiệp, Bùi Tấn, Lý Duy Phiên, Hà Mậu Đức, Hoàng Văn Đạt, Nguyễn Duy Thận… Thời đó, chắc các cụ đâu có biết “quan điểm công pháp quốc tế” là gì và như trong bài “Điếu Trương tướng quân văn” của cụ Nguyễn Đình Chiểu có câu: “Bởi lòng chúng chẳng nghe thiên tử chiếu… theo bụng dân phải chịu tướng quân phù, gánh vác một vai khổn ngoại”. Như vậy các cụ không còn coi vua là trời con nữa mà các cụ chỉ hành động theo ý dân thôi. Hay như nhà sử học Nguyễn Phan Quang viết: “Đa số các sĩ phu không thừa nhận điều ước và sẽ nhất tề nổi lên…”. Vậy thì bây giờ chúng ta giở công pháp quốc tế ra để làm gì? Làm như vậy chúng ta không sợ buồn tủi cho vong linh các anh hùng nghĩa sĩ đã quên thân mình hy sinh cho Tổ quốc hay sao?!

Có một câu trong bài viết của ông Nguyễn Văn Kim mà tôi không hiểu hết: “Nội dung Hiệp ước Elysée, luật 49-733 cũng như văn thư ngày 8-6-1949 của chính phủ Pháp gửi Quốc vương Norodom Sihanouk là những cơ sở pháp lý quan trọng công nhận tính chất quốc tế về chủ quyền của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở Nam bộ. Chủ quyền ấy đã được xác lập, khẳng định trước khi quân đội Pháp tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Công lao khai phá, xác lập chủ quyền ở vùng đất phương Nam thuộc về bao thế hệ người Việt Nam trong đó có công tích to lớn của các chúa Nguyễn và tiếp đó là vương triều Nguyễn (1802-1945).

Việc tranh chấp biên giới của Campuchia với Việt Nam là một chuyện dài, mới đây một số phần tử xấu của Campuchia đã phá cột mốc, tuyên truyền xuyên tạc việc thỏa thuận giữa chính quyền Campuchia và Việt Nam hiện cũng đã bị xử trí. Nên nhớ, biên giới Việt Nam và Campuchia có phần đóng góp của Công nữ Ngọc Vạn – con của Chúa Nguyễn Phúc Nguyên – từ thế kỷ XVII (Tất nhiên là không có sự rạch ròi như bây giờ) và trước đó không phải không có người Việt sinh sống lẫn lộn với người Khơ-me trên vùng đất – phần lớn là còn hoang hóa – của xứ Đồng Nai.

Trong câu nầy sao lại có sự hiện diện của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở đây?

“Chủ quyền ấy đã được xác lập, khẳng định trước khi quân đội Pháp tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam”. Vậy thì cần gì Hiệp ước 1862 và 1874 mới khẳng định được tính pháp lý về chủ quyền của Việt Nam đối với vùng đất Nam bộ.

Trong vấn đề nầy tôi thấy ông Nguyễn Văn Kim cũng có một câu rất hay: “Cần nhấn mạnh là, luật quốc tế đưa ra việc cấm sử dụng vũ lực và coi đây là một trong những nguyên tắc cơ bản. Pháp chiếm 6 tỉnh Nam kỳ, xâm lược Bắc kỳ là hành vi quân sự (bạo lực) vi phạm chủ quyền quốc gia và như vậy là hành vi bất hợp pháp. Hành vi đó vi phạm nguyên tắc cơ bản nhất trong quan hệ quốc tế theo Hòa ước Westphalia năm 1648”.

Theo tôi, đã là “nguyên tắc cơ bản” mà lại là “nguyên tắc cơ bản nhất” và “bất hợp pháp” nữa thì các Hiệp ước 1862 và 1874 không phù hợp với tinh thần nầy. Ông cũng đã nói “luật quốc tế cấm sử dụng vũ lực” thì làm sao mà Hiệp ước 1862 và Hiệp ước 1874 “Có ý nghĩa pháp lý quốc tế” được.

Trong tình hình hiện nay, sau trận Điện Biên Phủ và kết quả của Hiệp định Genève, kết quả của chiến thắng ngày 30-4-1975 thì mọi hiệp ước mà triều đình Huế ký với bọn xâm lược Pháp tự khắc không còn ý nghĩa gì nữa. Điều nầy cũng minh chứng cho chân lý mà Bác Hồ đã từng viết và nói: “Chỉ khi nào quân đội Pháp rút hết ra khỏi Việt Nam thì chúng ta mới có độc lập, thống nhất thật sự”. Vậy mà ông Nguyễn Văn Kim lại viết: “Hiệp ước Elysée được coi là một văn kiện phù hợp với luật pháp quốc tế và là văn bản có giá trị pháp lý cho việc thu hồi lại vùng đất Nam kỳ mà trước đó, theo các Hiệp ước năm 1862 và 1874, triều đình Nguyễn đã phải chuyển giao cho Pháp”. Hiệp ước Elysée là tờ giấy lộn lại làm bệ đỡ cho Hiệp ước 1862 và Hiệp ước 1874 thì quả là một điều phi lý.

Ngoài ra, chúng ta cần chú ý, cựu hoàng Bảo Đại sau khi hợp tác với Nhật cũng đã từng tuyên bố “hủy bỏ tất cả những Hiệp ước ký giữa Việt Nam và Pháp bấy lâu”.

Đáng lẽ chỉ cần một câu trong Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là đủ để xử lý tất cả những điều rối rắm mà ông Phạm Hồng Tung và ông Nguyễn Văn Kim đã cố công để chứng minh cho tính pháp lý của những hiệp ước mà kẻ thù xâm lược đã áp đặt cho chúng ta. Tôi xin ghi lại nguyên văn câu có liên quan đến các hiệp ước đã ký giữa triều đình nhà Nguyễn và thực dân Pháp trong Tuyên ngôn Độc lập như sau: “Bởi thế cho nên, chúng tôi – Lâm thời Chính phủ của nước Việt Nam mới – đại biểu cho toàn dân Việt Nam, tuyên bố thoát ly hẳn quan hệ thực dân với Pháp, xóa bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã ký về nước Việt Nam, xóa bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam”.

Tôi thấy các ông cố công tìm mọi cách để tô son, trét phấn cho hai “thực thể” là Quốc gia Việt Nam và Việt Nam Cộng hòa là vô ích vì trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, nhân dân ta đã hiểu quá rõ bản chất của chúng và như Bác Hồ đã nói “nhân dân Việt Nam không bị lừa bịp” và tôi cũng tin rằng nhân dân chúng ta nhất định không bị những trò tung hỏa mù lừa bịp thêm lần nữa.

Qua bài viết của hai ông Phạm Hồng Tung và ông Nguyễn Văn Kim cũng còn nhiều điều đáng bàn. Bài nầy tôi xin kết thúc ở đây, hẹn sẽ trao đổi thêm vào dịp khác.

Cao Đức Trường
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 473

Ý Kiến bạn đọc