Người tốt - Việc tốt

Phần thưởng của Bác Hồ

Cụ Nguyễn Đình Hồng, 90 tuổi đời, 70 năm tuổi Đảng, trú ở khu 16, xã Sơn Vi, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ, là người có vinh dự và may mắn làm chiến sĩ đơn vị bảo vệ Bác Hồ tại chiến khu Việt Bắc (2/1947 – 11/1953), kể lại kỷ niệm sâu sắc về những ngày được sống gần Bác:

Chiều ngày 1-3-1949, tôi cùng 11 chiến sĩ của đơn vị được cử đi cùng đồng chí Vũ Kỳ – thư ký riêng của Bác – về xuôi nhận và chuyên chở lương thực về cho cơ quan Trung ương. Chúng tôi ra bến Bình Ca – Yên Sơn (Tuyên Quang), mượn được hai chiếc thuyền thoi của đồng bào dưới xuôi chạy tản cư lên chiến khu. Suốt đêm đó chúng tôi chèo thuyền xuôi sông Lô, mờ sáng hôm sau đến Bến Then – Lập Thạch (Vĩnh Phúc) nhận 4 tấn gạo và bốc xếp lên hai chiếc thuyền thoi, đợi tối đến mới kéo thuyền ngược sông Lô về căn cứ, vì ban ngày sợ máy bay địch phát hiện, oanh tạc. Sông Lô mùa cạn, nước chảy xiết, đáy sông nhô lên nhiều đá ngầm, hai bên bờ sông nhiều lau sậy và cây cối rậm rạp, nên việc kéo thuyền đi ban đêm phải dùng đuốc để soi, đường đi hết sức khó khăn, vất vả và hiểm nguy. Nhưng ý thức được giá trị của hạt gạo đóng góp cho kháng chiến đều thấm đẫm mồ hôi, nước mắt và máu của đồng bào ta, nên chúng tôi động viên nhau ra sức kéo thuyền đi nhanh, đảm bảo an toàn. Rạng sáng ngày 3-3-1949, chúng tôi kéo thuyền chuẩn bị cập bến Tràng São – Sơn Dương (Tuyên Quang), không may chiếc thuyền thoi của đồng chí Vũ Kỳ và tôi đi cùng bị mắc cạn. Giữa lúc chúng tôi đang loay hoay tìm cách đẩy thuyền đi, thì trên trời bỗng xuất hiện hai chiếc máy bay của giặc Pháp bay tới. Chúng phát hiện ra chúng tôi, liền nghiêng cánh vòng lại, sà thấp và bắn như vãi đạn xuống trúng chiếc thuyền, làm đáy thuyền thủng 5 lỗ, nước sông chảy vào xối xả. Thuyền có nguy cơ bị chìm và mất trắng 2 tấn gạo. May mà lúc ấy hai chiếc máy bay của giặc Pháp có lẽ đã hết đạn nên bay xa và anh em chúng tôi đều an toàn. Trước tình huống khó khăn bất ngờ xảy ra, mọi người đều lúng túng. Tôi bất ngờ nảy ra sáng kiến, cởi ngay chiếc áo mặc trên người, xé vụn ra thành nhiều mảnh vải, rồi tôi lao vội xuống dòng nước, ngụp lặn lần tìm từng lỗ thuyền thủng, lấy giẻ đút nút chặt, không cho nước sông chảy vào. Thấy vậy những chiến sĩ trên thuyền biết bơi lội cũng đều lao xuống nước hỗ trợ việc làm của tôi nhanh chóng đạt kết quả tốt. Chẳng mấy chốc các lỗ thủng đáy thuyền đều được khắc phục. Đồng chí Vũ Kỳ phấn khởi hô hào anh em nhanh chóng múc hết nước trong thuyền đổ xuống sông, rồi kéo thuyền vào bến ngụy trang kín và nghỉ ngơi. Chiều tối 5-3-1949, chúng tôi đưa được hai chiếc thuyền thoi chở đầy gạo về bến Bình Ca an toàn, mọi người đều vui mừng và hy vọng khẩu phần lương thực từ nay chắc sẽ được cải thiện, chúng tôi đỡ phải ăn cơm độn nhiều ngô, khoai, sắn. Buổi tối hôm đó, giữa lúc đơn vị chúng tôi tổ chức sinh hoạt kiểm điểm rút kinh nghiệm đợt công tác vừa qua thì Bác Hồ đến thăm. Bác biểu dương khen ngợi chúng tôi đã vượt qua khó khăn gian khổ, mưu trí, dũng cảm, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Rồi Bác tươi cười nói:

- Số lương thực các chú vừa nhận về là để ưu tiên cấp cho các đơn vị bộ đội đang chiến đấu ngoài mặt trận, còn Bác và các chú ở hậu phương có điều kiện tăng gia sản xuất tự túc được một phần lương thực và thực phẩm, đỡ gánh nặng cho Chính phủ, góp phần cho công cuộc kháng chiến mau thắng lợi. Bác nói thế, các chú có nhất trí không?

Tất cả chúng tôi hiểu ra, đồng thanh đáp:

- Thưa Bác! Chúng cháu hoàn toàn nhất trí ạ!

Bác gật đầu, nhìn khắp lượt chúng tôi và hỏi:

- Giặc Pháp là kẻ thù xâm lược nước ta, chúng có đội quân lê dương viễn chinh hùng mạnh, lại được trang bị đầy đủ các loại vũ khí hiện đại và tối tân như: máy bay, tàu chiến, xe tăng và đại bác… Theo các chú, chúng ta đánh thắng giặc Pháp bằng cách nào?

Bao-ve-Bac-Ho-di-khang-chien-tai-Diem-Mac-Dinh-Hoa-Thai-Nguyen-mua-he-nam-1947
Bảo vệ Bác Hồ trên đường đi kháng chiến tại Điềm Mặc, Định Hóa, Thái Nguyên
mùa hè năm 1947 – Ảnh tư liệu.

Anh em chúng tôi tranh nhau trả lời Bác, bằng những điều đã thuộc lòng:

- Thưa Bác! Chúng ta phải tiến hành toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến và trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi ạ!

- Thưa Bác! Chúng ta phải dùng lối đánh du kích ạ!

- Thưa Bác! Chúng ta phải quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh ạ!

- …

Bác thấy tôi vẫn ngồi im lặng, nên Bác liền hỏi:

- Chú Hồng trả lời Bác đi chứ!

Tôi liền đứng phắt dậy, nghiêm trang báo cáo Bác:

- Thưa Bác! Muốn đánh thắng được giặc Pháp chúng ta phải dùng mưu trí ạ!

Bác gật đầu, mỉm cười, vẫy tay ra hiệu cho tôi ngồi xuống và Người khen ngợi:

- Chú Hồng trả lời rất đúng! Ông cha ta từ xưa vẫn dạy: “Phàm bất cứ làm việc gì cũng phải dùng đến mưu mẹo”. Ví như trong chuyến các chú đi vận chuyển lương thực vừa rồi, Bác được nghe báo cáo: Chú Hồng có mưu mẹo cứu thuyền khỏi chìm xuống sông, như thế là tốt, đơn vị phải học tập. Tiện đây chú Hồng cho Bác hỏi: Ai đã dạy chú biết mưu mẹo ấy?

Tôi phấn khởi đứng dậy, thật thà báo cáo Bác:

- Thưa Bác! Hoàn cảnh gia đình cháu là nông dân rất nghèo khổ, trước khi đi bộ đội, cháu làm nghề kiếm cá trên sông nước, hàng ngày phải bơi chiếc thuyền nan cũ có nhiều chỗ thủng. Nên cháu có chút ít kinh nghiệm vá thuyền thủng: Hoặc là bằng đất sét, hoặc là bằng giẻ rách ạ!

Khi buổi sinh hoạt của đơn vị kết thúc, Bác bảo đồng chí Mạnh Đàn – Trung đội trưởng và đồng chí Nguyễn Trị – Chính trị viên, cùng tôi lên gặp Bác. Bác giao nhiệm vụ cho các cán bộ Trung đội về tổ chức cử ngay một số chiến sĩ đi “Ngoại giao kinh tế” (nguyên văn câu Bác dùng), tức là đi xuống các thôn bản, các địa phương tại căn cứ Việt Bắc để tuyên truyền vận động đồng bào ủng hộ lương thực và thực phẩm cho kháng chiến. Rồi Bác lấy ra một sấp vải ka-ki màu vàng, Bác nhìn tôi trìu mến và nói:

- Chú Hồng đã lập thành tích tốt trong đợt vận chuyển lương thực vừa qua, Bác biểu dương khen ngợi và trao tặng chú phần thưởng 4 mét vải ka-ki này để chú may bộ quần áo mới, mặc vào, đi tham gia nhiệm vụ “Ngoại giao kinh tế” với đơn vị. Bác chúc các chú giành nhiều thắng lợi.

Tôi thực sự quá bất ngờ và cảm động, vì việc hoàn thành nhiệm vụ bình thường của một chiến sĩ quân đội như tôi, lại được vị Chủ tịch nước hiểu rõ, quan tâm, động viên, khen ngợi, đánh giá cao thành tích và trao tặng phần thưởng vô cùng quý giá và ý nghĩa này. Tôi ứa hai hàng nước mắt và thầm hứa với Bác: Quyết tâm phấn đấu hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ, xứng đáng với tình cảm yêu thương bao la của Bác.

Tôi mặc bộ quân phục bằng vải ka-ki của Bác tặng cho suốt thời gian một tháng đi tuyên truyền vận động đồng bào. Tôi luôn cảm nhận được hơi ấm tình thương bao la của Bác truyền cho, tạo thêm sức mạnh niềm tin và vinh dự tự hào. Quả thực, chuyến đi công tác này, tôi đã gặp rất nhiều thuận lợi, may mắn: Riêng tôi đã vận động đồng bào ủng hộ được 27 nồi thóc (hơn 600kg), 11 nồi ngô hạt (hơn 300kg), 3 mẫu bí đỏ, 1 đồi sắn lưu niên 5 năm, 5 con lợn thịt (gần 250kg), 100 con gà, vịt và 1.000 quả trứng gia cầm… cùng với toàn bộ số lương thực, thực phẩm của đơn vị tuyên truyền đồng bào ủng hộ, đều mang về tập trung vào kho của hậu cần đơn vị, góp phần giải quyết khó khăn cho kháng chiến.

Ngày 15-11-1953, tôi chẳng may bị thương trên đường đi công tác, vì máy bay giặc Pháp ném bom xuống chiến khu Việt Bắc. Do sức khỏe yếu, tôi được phục viên về quê, rồi sau đó đi thoát ly công tác đến ngày về hưu. Đến nay, dù tuổi cao sức yếu, sống gần đất xa trời nhưng tôi vẫn tích cực tham gia sinh hoạt Đảng đều đặn, đóng Đảng phí đầy đủ, nếu còn sống ngày nào thì ngày ấy tôi sẽ không bao giờ xa rời Đảng hoặc xin nghỉ sinh hoạt Đảng, nguyện cống hiến cho Đảng đến hơi thở cuối cùng, luôn nhiệt tình tham gia xây dựng phong trào phát triển kinh tế – xã hội của địa phương và nâng cao cuộc sống gia đình, nuôi dạy con cháu kế thừa và phát huy truyền thống cách mạng. Tôi luôn tâm nguyện suốt đời học tập và làm theo tấm gương tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, tuyệt đối trung thành với Đảng, Bác Hồ, nhân dân và Tổ quốc, xứng đáng với tình cảm và phần thưởng của Bác Hồ trao tặng tôi ngày ấy.

Bùi Ngọc Quế
(Hội Liên hiệp VHNT Phú Thọ)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 447