Tản văn

Phận người xóm nhỏ

Ai cũng có những cảm nhận sâu xa về nơi mình đã từng sinh sống, dù đó là chốn đô thị nhộn nhịp, phồn hoa hay bên cánh đồng dịu êm, ngát mùi lúa chín; dù đó là miền duyên hải sóng biển dạt dào, rực ánh ban mai hay trên đỉnh ngang trời, trơ vơ lặng nghe gió hú. Ký ức người nầy lưu giữ tuổi thơ, tâm khảm người kia khắc ghi thời son trẻ, nhưng cũng không ít kẻ luôn hoài niệm về những ngày gần cuối cuộc đời.

Hồi ấy, vào khoảng những năm 90, gia đình tôi sống trong một căn hộ chung cư nằm tiếp giáp với khu lao động vốn nổi tiếng về những phận người viễn xứ. Nói đến khu lao động hẳn ai cũng nghĩ cảnh xô bồ xô bộn, ăn ở mất trật tự, kém vệ sinh, thậm chí là nơi chất chứa những tệ nạn xã hội, hang ổ của các băng nhóm tội phạm. Suy nghĩ này có lẽ không sai. Ngoài những thứ ấy ra, ở khu tôi còn có nhiều nhân vật rất lạ, nhiều ngôi nhà chỉ to hơn cái chuồng trâu, hầu như ai cũng nghèo, có người nghèo đến… rớt mồng tơi. Dường như chưa có một ông nhạc sĩ nào sáng tác ca khúc nói về khu lao động, dường như chưa có một thi nhân nào lấy được cảm hứng từ những con người khố rách áo ôm, chạy ăn từng bữa. Họa sĩ Hứa Thanh Bình là người có nhiều bức tranh điểm xuyết cảnh nghèo khổ nhưng những hình ảnh đó mới dừng lại ở mặt phẳng, còn những nơi gai góc, xù xì thì chưa phác họa đến. Đạo diễn Phú Hải từng nổi tiếng với bộ phim “Xóm Nước Đen” đã lột tả được phần nào cuộc sống cư dân ở một khu ổ chuột, nhưng độ sâu cũng chỉ dừng lại ở một tay giang hồ hoàn lương, còn rất nhiều thân phận vẫn chưa được chú ý đến. Về nghệ thuật, có lẽ người ta cho những xóm nghèo là nơi thiếu khung cảnh đẹp, ít chất thi ca, khó tạo ra nguồn cảm hứng, nhưng trên thực tế, chính cái nghèo đã tạo nên nhiều vốn sống, đã sản sinh không biết bao nhiêu con người tài hoa trên các lãnh vực, là hình ảnh sống động về những người mẹ, người cha tảo tần sớm hôm nuôi đàn con đến ngày khôn lớn.

Ngo-nho---Khac-go---Ta-Ngoc-Phe
Ngõ nhỏ – Khắc gỗ – HS Tạ Ngọc Phê

Chếch nhà tôi mươi thước là nơi ẩn náu của vợ chồng ông Ba Hủi. Tôi gọi ẩn náu bởi vì không ai biết hai người nầy xuất xứ từ đâu, bởi vì nơi trú mưa đục nắng của họ còn tệ hơn… “túp lều của bác Tom”. Hai người tuổi đã quá 50, không có con cái, dòng họ, nghe đâu đã chung sống với nhau gần 30 năm, từ lúc người chồng chưa phát bệnh. Đây là người phụ nữ đáng khen, bởi trong suốt ngần ấy thời gian, bà đã chịu đựng biết bao khó nhọc, hầu như quán xuyến tất cả mọi việc cho cuộc sống vợ chồng, đặc biệt là tấm lòng thủy chung. Tình yêu quả là mãnh liệt, đây cũng là một biểu tượng cao thượng hiếm hoi trên đời. Ngày tôi dọn về căn hộ nầy, người vợ đứng nhìn với ánh mắt hoài nghi, còn người chồng ra vẻ khinh khỉnh chừng như cho sự thay đổi đó không có gì đáng bận tâm cả. Lúc đầu tôi thấy chột dạ, bởi vì ở cạnh một con người tay chân không lành lặn, người mắc phải một căn bệnh đáng sợ, ít ai dám gần gũi. Không có sự lựa chọn khác, cái nghèo bắt buộc tôi phải thích nghi với mọi điều kiện. Thời gian trôi. Tôi cũng không chú ý đến ngôi nhà ấy lắm, chỉ biết mỗi buổi sáng người vợ vác bao đi lượm vật phế thải, còn người chồng thì loay hoay với những con xúc xắc, bộ cờ tướng hoặc mấy món đồ chơi. Ông ta mắc chứng bệnh hủi từ năm 25 tuổi, hơn 20 năm gặm nhấm, lũ vi khuẩn quái ác ăn dần cơ thể, biến ông từ một người bảnh bao, cường tráng thành… một thân cây khô trơ trụi cành lá. Người hàng xóm nói như vậy, có lẽ để trấn an tôi. Lúc đầu con người tạo ra thói quen, sau đó thói quen tạo ra con người. Ở một thời gian, tôi nhận thấy có một thói quen của ông Ba Hủi luôn diễn ra lúc 12 giờ trưa. Đó là khi ông ngồi bên mâm cơm bày trên cái sạp trước cửa nhà, ngoài chai rượu đế, lúc nào ông cũng mở chiếc máy hát nghe lại vở cải lương “Chuyện tình Hàn Mặc Tử”. Bữa cơm của ông thường kéo dài theo thời gian của cuộn băng. Ngày nào cũng thế, dù nắng hay mưa. Bạn thấy có đáng sợ không? Cái gì mà cứ lặp đi lặp lại liên tục thì không có đầu óc, tinh thần nào chịu nổi. Nghe riết, tôi còn thuộc hai nghệ sĩ trong tuồng đối đáp những gì, đoạn ấy cuộn băng bị rối nhòe ra sao. Nhiều lần tôi cố dỗ giấc ngủ trưa bằng cách lấy bông gòn nhét vào hai lỗ tai hoặc dời chiếc ghế dựa ra tuốt nhà sau. Lắm lúc, không hiểu do men rượu kích thích hay do cay đắng tình đời, ông gào lên: “Mộng Cầm hỡi, em giờ ở đâu?”. Hoặc nhẹ nhàng hơn thì: “Ai mua trăng tôi bán trăng cho!”. Không ai biết ông tên gì, chỉ thường nghe xưng là Nguyễn Trọng Nhân, em của Nguyễn Trọng Trí, tên khai sinh của Hàn Mặc Tử. Rõ ràng, nhìn thấy sự khổ đau, tuyệt vọng của ông, người ta mới cảm thương cho tác giả “Trăng vàng, trăng ngọc”.

Một hôm, khi thấy tôi dừng xe trước cửa nhà, ông nói vọng qua: “Ê, thằng lối xóm, lại chơi chút coi!”. Tôi hơi ớn lạnh, giả vờ không nghe. Ông ta nói lớn hơn: “Mầy khi dễ tao hả?!”. Câu nầy làm tôi khó chịu nhưng buộc lòng phải nhượng bộ. Tôi bước đến cái sạp gỗ, rón rén ngồi xuống. Trên bộ ngực chỉ còn xương bọc da, ông xăm một câu nặng nề: “Thượng đế hỡi, sao ngài đọa đày con như thế!”. Ông đưa hai cánh tay chỉ còn một phần bàn tay khô héo, nhấc chai rượu lên rót vào cái chung mà ông vừa uống cạn, rồi hất hàm: “Uống đi! Uống cho trọn tình vẹn nghĩa. Trước sau gì mình cũng là anh em hết mà”. Tôi cảm thấy một dòng điện chạy dọc sống lưng, ơn ớn, ghê ghê. Dường như đoán được ý nghĩ của tôi, ông Ba Hủi cười khanh khách: “Uống đi anh bạn, chả chết chóc gì đâu. Vi trùng của tôi đã chết mất tiêu hết rồi. Bạn không thấy bà xã của tôi sao, bả lành lặn, khỏe mạnh bình thường như ai vậy… Uống đi!”. Tôi đưa ly rượu lên, nín thở nuốt một hơi. “Ăn đi, đồ bà xã tôi mới dọn”, ông lại đẩy cái chén đang dùng dở cho tôi. Ngoài tô cơm trắng, dĩa rau luộc, một chén canh, hai con cá trê chiên, trên sạp còn lăn lóc mấy trái ổi, một quả trứng. Tôi vờ hỏi chuyện nầy chuyện kia, cố tránh không phải đụng đến cái chén gớm ghiếc. Ông ta lại cao hứng, cất giọng: “Hàn Mặc Tử xuôi về quê cũ giấu thân nơi nhà hoang… Mộng Cầm hỡi, thôi đừng thương tiếc tủi cho nhau mà thôi…”. Tiếp theo là chai rượu được nhấc lên. Thoáng một chút, ông lại nói qua hai cánh mũi bẹp sát trên gương mặt: “Buồn lắm, bạn ơi…”. Trên đôi khóe mắt thâm tái chợt ứa ra hai giọt lệ, hai giọt nước long lanh như tiếc nuối những ngày còn lành da, liền thịt, như tưởng nhớ một thời được mẹ cha ban cho trí óc, hình hài. Trong con người nầy, có lẽ chỉ có nước mắt là không bị biến dạng và có lẽ đó cũng là thái độ để thuyết phục những ai có ác cảm về mình. Tôi thật sự xúc động trước nỗi đau oan trái ấy. Trong lúc tôi chưa biết dùng lời lẽ gì để an ủi người hàng xóm bất hạnh, thì một ông già mặc nguyên bộ đồ màu đen xuất hiện. Ông dựng bó chiếu vào vách nhà rồi nhẹ nhàng ngồi xuống chiếc sạp. Như đã thân quen, ông bán chiếu với tay lấy chai rượu, rót vào chung ực một cái ngon lành. Ông Ba Hủi hỏi ăn cơm chưa, người mới đến nói đã nhai hai trái bắp. Thấy đôi mắt dò xét của tôi, ông Ba Hủi cho biết ông Năm nầy quê ở Cà Mau, từ lúc con cái kéo nhau sang Campuchia lập nghiệp, ông bỏ xứ lên Sài Gòn tìm kiếm miếng ăn. Cuộc đời ông cũng không ít gian nan, nhất là giai đoạn bà vợ gom hết của cải đi theo thằng cha bán vịt. Ông làm đủ thứ nghề, ai mướn gì làm đó, kể cả đào đường, móc cống, cuối cùng những chiếc chiếu thơm hương đất, hương đồng đã giúp ông sống thanh thản đến nay gần 20 năm. Ông thường đi qua khu phố nầy, lần nào cũng vậy, ông đều ghé lại nhà ông Ba Hủi chuyện trò dăm ba phút hoặc ngồi nghe một đoạn cải lương. Hai người quen nhau từ một việc hết sức giản đơn nhưng không phải ai cũng sẵn lòng thực hiện. Hôm ấy, lúc trời nhá nhem tối, khi đến trước nhà ông Ba Hủi, ông già bán chiếu chợt té quỵ, tay chân co giựt, miệng sùi bọt mép. Mặc dù không còn lanh lẹ, nhưng người tàn phế cũng mau miệng kêu gọi hàng xóm đưa nạn nhân đến trạm y tế và sau đó ông còn đi mua một hộp cháo mang cho người không quen. Nghĩa cử của ông Ba Hủi đã tạo dấu ấn trong lòng ông già lang bạt, rồi tình cảm phát sinh. Ông bán chiếu cho rằng thân thể tàn phế không đáng sợ bằng tâm hồn khuyết tật, nỗi đau đớn lớn nhất của con người không phải hình dạng bên ngoài mà chính là sự hụt hẫng ở bên trong. Với ông, sự mất mát về tinh thần lẫn vật chất đã quá nhiều nên rất cần những sự chia sẻ. Và ông nhận thấy ở tấm thân trơ trụi của ông Ba Hủi có sự xanh tươi, dào dạt chữ nhân, chữ nghĩa, đồng cảm với những thân phận nghèo hèn. Đã đến lúc thấy cần phải kết thúc câu chuyện, tôi buột miệng nói ông Năm bán cho chiếc chiếu. Ông già hỏi: “Cậu lấy chiếu bông hay chiếu trơn? Cứ lựa đi, tôi bán giá vốn làm quen”. Tôi đáp chiếc nào cũng được. Nhìn gương mặt đượm màu sương gió của ông, tôi bỗng nhớ soạn giả Viễn Châu và danh ca Út Trà Ôn. Hai con người tài danh nầy cũng lắm phen lận đận phong ba, đã phối hợp làm nên bài “Tình anh bán chiếu” bất hủ.

Ở cái xóm “Nhà thiếc” này còn có nhiều chân dung khá lạ. Người ta có thể kể cho bạn nghe chuyện thằng Tư ngọng chuyên sống bằng nghề ăn trộm. Chuyện bà Năm Mông-rô có 6 đứa con gái thì đã cho đi làm điếm hết 5 cô. Chuyện ông Bảy thợ hồ trúng số độc đắc lại xin vào chùa đi tu. Chuyện thằng Tám Cu bị xe tải cán chết ở New Jersey chỉ sau 3 ngày qua định cư ở Mỹ… Tuy nhiên, người nổi tiếng nhất xóm có lẽ không ai ngoài bà Mậu Thầu, một cái tên mà giới binh xập xám thường cho là xui xẻo. Mặc dù cư trú ở địa phương đã nhiều năm nhưng tôi không rành về nhân vật nầy, mãi cho đến một hôm bà lò dò tìm đến nhà tôi, từ đó lai lịch của một con người mới được phơi bày tuồn tuột.

Ngồi đối diện với người phụ nữ tuổi trạc 50, gương mặt có vết sẹo dài vắt ngang sống mũi, đôi mắt to lồ lộ nổi rõ những đường máu đỏ dữ dằn, tôi cố hình dung xem bà ta giống nhân vật nào mà tôi đã từng xem phim hoặc đọc truyện. Không, bà không giống ai hết! Thấy tôi nhìn dò xét, bà ấp úng lên tiếng: “Hôm nay, tôi mạo muội đến gặp cậu… chỉ nhờ một việc nhỏ nhặt thôi… Cậu xem giúp tờ đơn coi tôi viết có được không? Cậu làm nhà nước chắc rành mấy vụ nầy hơn tôi…”. Chuyện quá đơn giản, tôi cầm tờ giấy, chăm chú đọc:

“Kính gởi: Chú Thành, Cảnh sát khu vực.

Tôi tên Nguyễn Thị Mậu, người ta thường gọi là Mậu Thầu, sinh năm 1950, thường trú tại khu Xóm Chợ, không chồng, 3 đứa con gái, xin trình bày vấn đề như sau:

Qua 18 năm hành nghề đánh mướn, lăng nhục thuê, đã đến lúc tôi thấy ăn năn, hối hận và vì tuổi sắp già, sức yếu, nên tôi quyết định bỏ nghề.

Tôi xin báo cáo cho chú biết để đừng tiếp tục theo dõi tôi, đồng thời nếu sau nầy có xảy ra những vụ đánh lộn, gây thương tích cho ai đó, xin đừng nghĩ đến tôi. Tôi thề có trăng rằm tháng 5 chứng giám và để cho chú tin, ngày mai, sau khi gởi đơn nầy, tôi sẽ cạo đầu và ăn chay nửa tháng.

Xin chân thành cảm ơn chú đã nhiều lần giáo dục tôi và chú cũng đừng buồn vì tôi đã làm cho chú phải nhiều phen vất vả.

Trân trọng chào chú.

Kính đơn

Nguyễn Thị Mậu”

Tôi hơi ngạc nhiên khi thấy lá đơn trình bày mạch lạc, ngôn phong tự nhiên, chơn chất nhưng toát được những điều cần nói. Tôi tiễn bà ra về với lời khen chân thật và chúc cho gia đình bà được sống an lành.

Giữ đúng lời thề, ngày hôm sau, nhằm 15 tháng 5 âm lịch, bà Mậu Thầu xuống tóc và buổi sáng hôm ấy, người ta không thấy bà đến quán hủ tiếu dê như thường nhật. Bà Mậu Thầu giải nghệ thật, nhưng nguyên nhân thì có thêm vài điều mắc mứu. Năm 1973, khi ăn ở với bà có 3 mặt con, ông chồng tuổi Mẹo của bà bắt đầu… ăn vụng. Sau mấy tuần theo dõi, bà bắt quả tang ông đang nắm tay cô tình nhân xinh đẹp bước vào cửa rạp Rex. Bà chặn lại, rút cây côn nhị khúc giấu trong chiếc giỏ, đánh tình địch và ông chồng tới tấp như… Lý Tiểu Long trổ tài trong phim Mãnh long quá giang. Sau trận đánh ghen nẩy lửa ấy, hai ông bà xé hôn thú, chia mỗi người nửa miếng. Hận đời, bà Mậu Thầu ở vậy, buôn bán nuôi con và cứ khi nghe mấy bà hàng xóm bày trận đánh ghen bà hăng hái xin được tham gia. Sau vài trận đánh thành công, mấy phu nhân bạc phận hả dạ, chi tiền bồi dưỡng, bà Mậu Thầu chợt thấy việc làm nầy cũng đẻ ra tiền, sống khấm khá hơn buôn bán vặt, bà quyết định lấy đó làm kế sinh nhai.

Nguyên tắc làm ăn của bà Mậu Thầu là tuyệt đối giữ gìn tông tích thân chủ như… ngân hàng Thụy Sĩ và khi hành hung chỉ gây thương tích cố tránh làm thiệt mạng… vì phải để đức lại cho con. Chuyện đời có lắm éo le, ngày càng có nhiều người đến thuê bà Mậu Thầu giải quyết, ngoài việc thanh toán tình địch, còn nào là chuyện giựt hụi, chuyện bội tín trong làm ăn, chuyện giành mối mua bán ở các chợ… Tùy theo mức độ phức tạp của vụ việc, tùy theo yêu cầu sát thương của thân chủ, tùy theo khả năng tài chánh của người đến thuê, mà bà Mậu Thầu đưa ra giá cả. Nhưng dễ ăn và lấy được nhiều tiền vẫn là đi đánh ghen. Đối tượng là phái nữ, ốm yếu, có tật thường giật mình, kháng cự yếu ớt, đặc biệt là về phía quý phu nhân, khi điên tiết, có bao nhiêu trong hầu bao họ thường trút ra hết.

Sau ngày giải phóng, rút kinh nghiệm trong cách đối phó với công an, bà Mậu Thầu không nhận xử lý vụ việc cho những người ở trong vùng, đặc biệt là ở xóm “Nhà thiếc”. Dĩ nhiên là để tránh bị điều tra. Thế nhưng, sau hai vụ đánh ghen gây thương tích khá nặng cho hai đối tượng, kẻ ra tay hành động bị công an bắt. Lần đầu, người ta tạm giam bà một tháng, phạt 50.000 đồng; lần sau, tòa án xử bà 6 tháng tù giam, buộc bồi thường thuốc men cho nạn nhân hết nửa triệu bạc. Dân gian có câu “sinh nghề, tử nghiệp” và nghiệp nào cũng có những oan chướng. Có lần, do nhận diện nhầm đối tượng, vì tướng mạo và cách ăn mặc khá giống nhau, bà đánh nhầm vợ ông chủ tịch phường. Thương tích tuy không nặng nhưng cũng làm gãy mất cái sống mũi kiểu Ý Đại Lợi bằng nhựa của bà đệ nhất phu nhân… phường. Người ta nhanh tay tóm được bà. Chưa lúc nào trong cuộc đời kẻ đánh thuê phải khóc than thảm thiết như lần ấy. May, người bị thương có lòng rộng lượng, chỉ buộc bà viết kiểm điểm nộp cho công an, rồi cho về. Lúc bị đưa ra tổ dân phố phê phán, bà Mậu Thầu thành khẩn hứa hẹn: “Em sẽ chuyển nghề”. Biết nghề gì để chuyển, sau đó bà bỏ nhà, đi đánh thuê lưu động. Rút kinh nghiệm (lại rút kinh nghiệm) những lần sẩy chân, người đàn bà gan lì không nhận những vụ thanh toán rùng rợn, gây sát thương nghiêm trọng nữa, chỉ nhận đánh dằn mặt, chủ yếu là hù dọa. Ai thuê bà đi chửi rủa, lăng nhục thì tốt nhất. Theo bà, làm như vậy sẽ giảm được sự tích cực điều tra của công an và khi bị xét xử cũng có thể nhận hình phạt nhẹ nhất.

Tổng cộng đến ngày làm đơn xin giải nghệ, bà ghi chép đã đánh thuê gần 2.000 vụ, trong đó ba phần tư là án tình, làm bị thương nặng 15 nạn nhân, bị thương nhẹ 1.000 người. Có nhiều người chống trả hoặc chạy thoát. Có vụ bà phải bồi thường thiệt hại lại cho thân chủ, vì giờ giấc ra tay bị lộ, đối phương biết được, hành động trước. Còn số vụ đi lăng nhục người khác bà không nhớ đầy đủ được, một phần do không ghi chép, một phần vì nghĩ là chuyện… lặt vặt.

Có thể coi là ăn năn, nhưng nguyên nhân giải nghệ của bà, theo lời mấy cô con gái thì đêm đó, trong trận phục kích cô nhân tình của một ông giám đốc công ty tư nhân, bà bị đối thủ đánh cho một trận thất điên bát đảo, vì đối tượng là võ sư nhị đẳng huyền đai. Lúc nằm điều trị tại bệnh viện, trong khoảnh khắc thấy cuộc đời “thập tử nhất sinh”, bà Mậu Thầu thì thào với mấy đứa con: “Tao phải nghỉ thôi, đã đến lúc nghề nghiệp hết thiêng rồi. Ngày mai tụi bây ra chợ mua nhang đèn, trái cây về cúng, vái trời đất phù hộ cho tao. Nếu bề trên không nghe thì sinh mạng của tao chắc… mậu thầu, nếu ông bà độ mạng thì tao sẽ làm đơn gởi Công an phường…”.

Rằm tháng 8. Sau một buổi chiều uống nhiều rượu và đuổi người vợ ra khỏi nhà, ông Ba Hủi nằm lăn ra đất với tấm thân trần trùi trụi. Nhiều người đi qua nhưng không ai mảy may chú ý, có lẽ họ đã quen với cảnh tượng nầy. Không ít người, sau một đêm nát rượu nằm thách thức đất trời, đã hồn lìa khỏi xác. Một lần không chết, nhiều lần có thể sẽ chết. Sau một hồi đắn đo, tôi bước đến đỡ ông ta lên chiếc sạp gỗ, rồi vào nhà lấy chiếc chiếu đã mua trước đó, đắp lên người kẻ bạc phước hung hăng. Cảnh tượng nầy tạo nên một cảm giác rờn rợn, hành động rồi tôi cũng không dám nhìn cái thân xác ấy nữa. “Thà như thế còn hơn cái điều tệ hại kia…”, tôi trấn an mình.

Tờ mờ sáng, tôi đã nghe tiếng sục sạo từ bên nhà người hàng xóm, có tiếng xì xầm của bà Ba, sau đó là giọng khàn đục của người tự xưng em Nguyễn Trọng Trí: “Ai đã đắp chiếc chiếu cho tôi”. Tôi nghe rõ nhưng không vội trả lời. Cái giọng nhừa nhựa như cuộn băng cát-xét cũ cứ trỗi lên liên tục như muốn giải quyết nhanh chóng nỗi thắc mắc ấm ứ trong lòng. Tôi bước qua, nói tặng ông Ba chiếc chiếu và khuyên đừng ăn ngủ như thế nữa. Người đàn ông mở to đôi mắt nhìn tôi một hồi, rồi ấp úng: “Chú đã giúp đỡ tôi… Chú đã làm việc đó…”. Tôi thản nhiên. “Con người như tôi mà cũng đáng để chú quan tâm đến như vậy hay sao?…”, ông Ba xúc động, bật khóc. Tôi bảo đã học được cái tốt của ông ấy qua nghĩa cử đối với ông Năm bán chiếu. Ông úp mặt vào vai tôi, nói rưng rức: “Con người đối xử với nhau như vậy, tôi thấy lòng mình ấm áp lắm rồi…”. Bỗng dưng tôi không còn cái cảm giác rờn rợn như lúc trước nữa.

Trần Tử Văn
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 413

Ý Kiến bạn đọc