Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Phân khúc lịch sử

(Tiếp theo số báo 566, ngày 3-10-2019)

 

Người cùng thời nghĩ gì?

Hoàng Cao Khải và Nguyễn Thân là một cặp bài trùng đặc biệt: cả hai đều ra làm tay sai cho quân xâm lược Pháp khá sớm, cùng được cử làm Tiễu phủ sứ (Khải ở Bắc kỳ, Thân ở Trung kỳ), cùng về Huế làm Phụ chính đại thần, cố vấn cho vua, Thượng thư (Khải giữ Bộ Binh, Thân giữ Bộ Lại), cùng nổi tiếng tàn bạo… và cùng về hưu năm 1903. Vì vậy, người cùng thời thường có nhận định chung về cả hai ông. Chẳng hạn có câu ca dao:

Hỏi ai bán nước buôn dân
Ấy Hoàng Cao Khải – Nguyễn Thân một phường (10).

Hay bài Vè quan Đình:

Hoàng Cao nhục nhã đã xong
Nguyễn Thân đâu cũng vào vòng khuyển nô
Lại cùng Tây tặc mưu mô
Người Nam lại phá cơ đồ người Nam (11).

Trong một bài báo viết năm 1913 (hai mươi năm trước khi Khải chết), Phó bảng Phan Châu Trinh nhận xét: “Phàm người Việt mà đi làm tôi tớ cho người Pháp đều là bọn tham bỉ mất lương tâm, quỳ lạy giống khác, xẻo thịt đồng bào, không bằng cầm thú… Hai người ấy (Khải và Thân) đành bỏ tất cả liêm sỉ danh tiết một người đời, đem hết tâm huyết tài lực giết hại đồng bào để cầu được công với người Pháp, chẳng qua là chỉ thèm thuồng ba chữ “có quyền thế” đó thôi…” (12).

Tám năm trước đó, giải nguyên Phan Bội Châu trong cuốn Việt Nam vong sử quốc gọi Khải và Thân là những “người Việt làm chó săn” cho xâm lược Pháp, đó là “những tên côn đồ vô nghĩa vô hạnh, mặt khỉ ruột lợn (…) mà người Việt bình nhật rất ghét”. “Hoàng Cao Khải, Nguyễn Thân hết sức vì người Pháp giết hại người Việt, đi giúp dị chủng để tàn hại đồng chủng”, “hai tên này đàn áp cách mạng rất đắc lực” (13).

Năm 1913, từ Quảng Đông, Phan Bội Châu cử một số hội viên Quang phục hội về nước tìm cách tiêu diệt một số quan chức thực dân chóp bu và Việt gian đầu sỏ. Theo giáo sư Sử học người Mỹ David Marr, trong số đó có Hoàng Cao Khải (14).

Ngay khi Khải còn sống, con cháu đang làm quan lớn (15), nắm nhiều quyền lực trong tay. Chẳng hạn, khi Khải mở tiệc mừng thọ, có người làm thơ đăng báo, trong đó có hai câu:

Con cái một nhà hai tổng đốc
Pháp Nam hai nước một công thần (16).

Một lần khác, có người vịnh Thái Hà ấp của vị phó vương Bắc kỳ:

Thái ấp mây mờ, cỏ lẫn rêu
Pháp Nam trung tín cả hai triều (17).

Giữa lúc Pháp đang xâm lược và thống trị nước Nam, còn gì mỉa mai bằng khen Khải là “công thần”, “trung tín” cho cả hai bên!

Một nhà nho đả kích thói ăn của đút lót của Khải:

Nay hạt Hà Đông còn biếu lợn
Mai dân Nam Định lại dâng bò.
(Vịnh Hoàng Cao Khải) (18)

Không bị vạch tội ác(?!)

Khi đọc câu “Vấn đề của ông Hoàng Cao Khải cần nghiên cứu để có thể có những nhận định rạch ròi và xác đáng” (1), người đọc cứ ngỡ ông Phó giáo sư (PGS) đã bỏ nhiều công sức để nghiên cứu và phát hiện nhiều điều mới khiến ông muốn mọi người thay đổi nhận định về nhân vật lịch sử có vấn đề này. Người đọc hết sức thất vọng trước những chữ “chưa” và “không” của ông PGS:

“Hiện nay, chưa phát hiện một chi tiết, tài liệu nào”.

“Chưa sưu tầm được tài liệu đầy đủ và cụ thể”.

“Nhiều hiện tượng chưa được biết rõ”.

“Không rõ trong thâm tâm của ông như thế nào?”.

“Những thành tích “dẹp loạn” của ông chỉ được biết trên đại thể, chứ không thấy nêu rõ ở một trận đánh hay một mưu mẹo nào”.

“Vào lúc đó, có nhiều vị quan đã có biệt nhãn đối với những người làm quốc sự (…). Hoàng Cao Khải có thuộc vào loại này không? Không rõ” (1).

Thừa nhận “không thấy”, “không rõ”, nhưng ông PGS vẫn mạnh dạn khẳng định là “không có”, “không bị”:

“Mặc nhiên quần chúng đã xem ông là tay sai đắc lực của bọn thực dân, mặc dầu ông không có những hành động điên cuồng, độc ác như Nguyễn Thân, Trần Bá Lộc”.

“Thơ ca châm biếm đả kích ông khá nhiều. Tuy nhiên, có điều lạ là trong loại thơ ca này, không có bài nào vạch rõ được tội ác hay khuyết điểm cụ thể của ông”.

“Hoàng Cao Khải bị quy là tay sai đắc lực cỡ chóp bu của thực dân, nhưng người ta chỉ nghi ngờ ông, chứ ông không bị bất bình, không bị vạch tội ác” (1).

Người đọc có cảm tưởng ông PGS này không chịu khó tìm đọc các sách báo về Hoàng Cao Khải của các tác giả Việt Nam và nước ngoài, mà chỉ viết theo cảm tính chủ quan.

Ở đoạn trước, nhà sử học Pháp Philippe Devillers cho biết: Hoàng Cao Khải đã “bắt được nhiều người (những nghĩa quân yêu nước) và thường là hành quyết ngay” (19), không cần xét xử. Trong báo cáo đã dẫn, thống sứ Parreau cũng viết: “Đầu tháng 3/1889, Hoàng Cao Khải tiến hành “một trận đánh vang dội khắp vùng làm cho quân nổi loạn hoang mang, nhiều tên tướng bị bắt và Hoàng Cao Khải đã xử tử ngay lập tức. Hơn thế, Hoàng Cao Khải không để cho quân nổi loạn kịp hoàn hồn. Thám tử của ông tỏa đi khắp nơi, bắt giữ những kẻ tình nghi, hễ có dấu hiệu thông đồng với giặc thì xử chém ngay tức khắc…”. Hàng loạt tên nổi loạn bị xử tử, làng Phù Đổng theo giặc bị đốt sạch” (20). Toàn quyền De Lanessan xác nhận điều đó: Binh lính dưới sự chỉ huy của Hoàng Cao Khải “đã có những hành động tàn bạo đến mức không chịu được. Tôi có thể nêu lên một cái huyện trong tỉnh Hà Nội, trong 15 ngày, người ta đã chặt đầu 75 kỳ hào bởi vì họ không thể hay không muốn (…) chỉ ra một bọn bất lương (tức nghĩa quân) đi theo con đường nào sau khi đã đi qua những làng của họ” (21). Trong bức thư đề ngày 16/10/1891, trung úy Pháp Fernand Bernard viết về Hoàng Cao Khải: “Ông ta chặt 1.800 đầu trong 3 tháng, nhưng ông ta đã thu được những tin tình báo quý báu giúp chộp được những tên cướp (tức nghĩa quân) và gặt hái được một số lượng lớn súng ống” (22).

So-567--Chan-dung-Hoang-Cao-Khai---Anh-1
Chân dung ông Hoàng Cao Khải.

Chỉ cần vài trăm người dân Sơn Mỹ (Quảng Ngãi) bị lính Mỹ thảm sát đã khiến dư luận trong và ngoài nước xúc động sâu sắc. Thế mà hàng nghìn đồng bào Việt Nam bị Hoàng Cao Khải chặt đầu không hề lay động được trái tim PGS, nên ông vẫn mạnh dạn khẳng định Hoàng Cao Khải “không có những hành động điên cuồng, độc ác như Nguyễn Thân, Trần Bá Lộc”, vẫn không chịu thừa nhận Hoàng Cao Khải đã gây ra “tội ác” (1)?! Những hành động của Hoàng Cao Khải – mà chính toàn quyền Pháp cũng phải thừa nhận là “tàn bạo đến mức không tin được” (23) – là những sự thật hiển nhiên, chứ không phải do “quần chúng đã xem”, đã “nghi ngờ” hay đã “quy” cho Hoàng Cao Khải, như PGS viết (1): Nói một cách tổng quát, các hành động của Hoàng Cao Khải đã cấu thành tội ác chống lại Tổ quốc, chống lại nhân dân.

Hoàng Cao Khải tự nguyện làm “tôi tớ”, “chó săn” (chữ của cụ Phan Bội Châu dùng) (11) cho quân cướp nước, nên đã bị người cùng thời khinh bỉ, bị hậu thế lên án. Nhưng không biết đứng trên nhân sinh quan nào mà PGS lại cho Khải “đã tiến lên tột đỉnh vinh quang”? (1). Phải chăng cái “vinh” mà PGS thưởng cho Khải là cái “vinh” trong “mãi quốc cầu vinh”?

PGS khen: “Khi phụ trách Nha Kinh lược Bắc kỳ (tháng 6/1886), Hoàng Cao Khải đã tỏ ra là có tài về mặt điều hành chính trị”. Nha Kinh lược vốn là cơ quan đại diện triều đình Huế tại Bắc kỳ. Nhưng đến thời Khải làm Kinh lược sứ, Pháp ngày càng khống chế cơ quan này đến độ “Nha Kinh lược không phải chịu sự kiểm soát của triều đình Huế” (1) nữa, mà chỉ biết làm theo lệnh của viên thống sứ Pháp ở Bắc kỳ. “Như vậy, qua Hoàng Cao Khải, thực dân Pháp đã nắm toàn bộ Bắc kỳ” (1). PGS kết luận:

“Ông trở thành người cầm đầu xứ Bắc, trực tiếp dưới quyền người Pháp” (1). Thật nghịch lý khi “người cầm đầu” lại nằm “dưới quyền” của người khác. Sẽ hợp lô-gích hơn nếu PGS viết: thống sứ Pháp là người cầm đầu, còn Khải chỉ là người cầm… đuôi! “Tài về mặt điều hành chính trị” – mà PGS khen Khải – chẳng qua chỉ là tài… tuân lệnh ngoại bang để đè đầu cưỡi cổ đồng bào.

PGS khen cuốn Việt sử yếu (bằng chữ Hán) của Khải. PGS thú nhận “không rõ sau khi viết xong (năm 1914), tác giả đã cho nó được lưu hành như thế nào” mà hầu như chẳng người Việt Nam nào biết đến nó. Tuy vậy, PGS vẫn hết lời khen nó là “một công trình sử học, một tài liệu có giá trị cho việc tìm hiểu lịch sử nước nhà”, “cũng đáng được coi là một đóng góp đáng quý” (1).

Không rõ PGS có biết Việt Nam sử yếu của Hoàng Cao Khải đăng trên Đông Dương tạp chí (từ số 2 đến số 21) hay không? Tác phẩm này đã được nhà phê bình Vũ Ngọc Phan nhận xét: “Tập Việt Nam sử yếu của Hoàng Cao Khải chỉ là một tập bổ quốc sử, mọi việc chép rất sơ lược, phần nhiều là những việc của một triều đại, phụ thêm những chương nói về danh tướng, danh Nho, quan chế, binh chế, khoa cử, còn vẫn không làm sao biết rõ được những việc trong dân gian. Chép lối như thế là xếp việc nọ vào gần việc kia và nối bằng những lời nghị luận rất sơ sài, chứ không phải cái lối vừa chép vừa đứng vào địa vị khách quan mà đặt lấy những dây liên lạc theo nhân quả thuyết” (24). Việt Nam sử yếu và Việt sử yếu là hai “anh em ruột”, ra đời trước sau một năm (1914 và 1915), chất lượng của chúng sàn sàn nhau mà thôi, lẽ nào một bên bị đánh giá thấp, còn bên kia được khen lấy khen để?

Thử xem một trang Việt sử yếu của Hoàng Cao Khải viết như thế nào.

Các bộ sử cũ (như Đại Việt sử ký toàn thư chẳng hạn) xem nhà Triệu là một triều đại chính thống của Việt Nam. Đến thế kỷ XVIII, Ngô Thì Sĩ là nhà sử học đầu tiên chứng minh Triệu Đà không phải là người Việt Nam, mà chính là kẻ đã xâm lăng nước Âu Lạc, biến nước ta thành thuộc quận của nước Nam Việt bên Trung Hoa. Trong Việt sử tiêu án, Ngô Thì Sĩ viết: “Đất Việt ở Nam Hải, Quế Lâm không phải là đất Việt ở Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam (25). Thế nhưng, sang thế kỷ XX, Hoàng Cao Khải vẫn “khẳng định Triệu Đà là con người dẫn đầu ở Việt Nam xây dựng nền độc lập” (1), lặp lại một sai lầm cũ đã được đính chính. Vậy mà PGS vẫn cứ khen Việt sử yếu “đã bổ sung cho kho tàng sử sách Việt Nam một tài liệu mới!”, có “những nhận định độc đáo, khác với nhiều người” (1).

Không chỉ khen Khải có tài, PGS còn quả quyết Khải có công nữa!

Chả là, để thưởng công hãn mã của Khải, ngoài việc thưởng Bắc Đẩu bội tinh, năm 1893, thực dân Pháp cấp cho ông một vùng đất khá rộng (nay thuộc quận Đống Đa) để ông lập một trang ấp (đặt tên là Thái Hà ấp). Tại đây, Khải cho xây dựng nhiều công trình kiến trúc nguy nga như dinh thự, lăng mộ… Chuyện chỉ có vậy, nhưng dưới mắt PGS, “trong khi làm Kinh lược sứ Bắc kỳ, Hoàng Cao Khải cũng có những việc làm đóng góp nhất định cho đất Thăng Long”: đó là “Hoàng Cao Khải chọn được vùng đất vốn còn hoang vu, có nhiều đầm ao sình lầy ở địa bàn này để tạo lập thành một trang ấp ngày càng trù phú. Có thể đây cũng là thêm một nét đẹp trong lịch sử xây dựng đô thành Thăng Long”! (1).

Có một đoạn PGS trích dẫn Phan Bội Châu viết về Hoàng Cao Khải như sau: Phan Bội Châu “có nhắc đến Hoàng Cao Khải là người vẫn có “nhất điểm linh đài”, “còn một điểm lương tâm, còn biết Việt Nam là nước của tổ tông cha mẹ, còn biết Việt Nam là nước đồng bào, không nỡ trông thấy người Pháp phá hoại mòn mỏi đi” và Phan Bội Châu vẫn hy vọng sự “hồi tâm” của Hoàng Cao Khải (5). So sánh đoạn trên với nguyên văn bản dịch Việt Nam vong quốc sử: “Thử xem những kẻ rất nghèo hèn đê tiện, như đi ở bán hàng, làm thuê cho phường thịt, cũng còn có một điểm lương tâm, còn biết Việt Nam là nước của tổ tông cha mẹ, còn biết Việt Nam là nước đồng bào, không nỡ trông thấy người Pháp phá hoại mòn mỏi đi; huống chi Nguyễn Thân và Hoàng Cao Khải kia?” (26), người đọc sẽ thấy chủ ngữ của “còn có”, “còn biết”, “không nỡ trông thấy” là “những kẻ rất nghèo hèn đê tiện”, chứ không phải là “Hoàng Cao Khải” như PGS muốn cho người đọc hiểu lầm. Trích dẫn mà cố tình làm sai lệch ý nghĩa của nguyên tác là điều tối kỵ đối với những nhà nghiên cứu biết tôn trọng sự liêm khiết về trí tuệ.

“Sao không biết hổ…”

Khi Hoàng Cao Khải còn sống, có một nhà Nho giỏi nghề nịnh bợ, đề nghị thờ “cụ Hoàng” tại đền Trung Liệt (ở Hà Nội) bên cạnh các nhà yêu nước chống Pháp như Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu… Hay tin ấy, nhà thơ Phan Điện (1874-1945, người cùng làng Tùng Ảnh với Khải) phản đối: … Thờ bên trung trực, bên gian nịnh / Thế cũng đền đài, cũng miếu hương / Thơm thối lẫn nhau mùi tắt họng / Ngọt ngào đầu miệng lưỡi không xương / Nhà Nho lại có thằng nào đó / Luồn cúi vào ra bợ cụ Hoàng? (27). Thì ra không phải chỉ có nhà Nho đầu thế kỷ XX mới “bợ cụ Hoàng”!

Những câu hỏi trong bài Vè quan Đình không phải chỉ đặt ra cho cử nhân – Quận công họ Hoàng mà thôi: Sao không biết hổ với mình? / Hỏi ra rằng chức tước hiển vinh nỗi gì? / Mang danh khoa mục làm chi? Câu chuyện vẫn còn mang tính thời sự nóng bỏng.

Lời bàn:

Hai phân khúc trên đây chứng tỏ lương tri sử học của bà Nguyễn Thị Thanh Vân. Điều này bạn đọc dễ dàng nhận ra. Chỉ xin lưu ý: Hoàng Cao Khải về hưu năm 1903. Đến 1916, viết tuồng. Sao chậm trễ thế. Nếu là con người ngay thẳng trong sáng, có tài thơ văn, thì hẳn ông ta phải hạ bút ngay sau ngày nghỉ hưu. Chắc chắn là họ Hoàng không còn lương tri, không biết sám hối lại tội ác của mình mà cố tìm cách lẩn tránh. Ca ngợi trung hiếu của Trần Quốc Tuấn thì cũng phải là con người trung hiếu chứ. Hoàng Cao Khải tìm cách che giấu tội ác bằng một sự giả dối nữa, để hòng qua mắt thế gian, bằng cách núp vào bóng Trần Quốc Tuấn. Tiếc cho nhà nghiên cứu lịch sử Nguyễn Thị Thanh Vân đã không nhận ra điều đó hay cũng là đồng thanh đồng khí với Hoàng Cao Khải. Tưởng gió đã đổi chiều nên chiêu tuyết cho người xưa để tập hợp người nay (ý của GS. Đinh Xuân Lâm). Nhưng Hoàng Cao Khải chỉ có máu của tội ác, làm gì có tuyết mà chiêu!

(Còn tiếp)

Lê Vĩnh Trường
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 567

————————————

(1) Việt sử yếu và tác giả của nó, tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 5 (385), 2008, tr.72-79.
(5), (19), (21), (22), (23) Philippe Devillers, Người Pháp và người An Nam bạn hay thù?, Ngô Văn Quỹ dịch, Nxb. Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, 2006, tr.493, 511, 512.
(10) Nguyễn Sinh Duy, Phong trào Nghĩa hội Quảng Nam, Nxb. Đà Nẵng, 1996, tr.183.
(11) Thơ văn yêu nước nửa sau thế kỷ XIX (1858-1900), Nxb. Văn học, Hà Nội, 1976, tr.536, 562, 563.
(12) Nguyễn Văn Dương, Tuyển tập Phan Châu Trinh, Nxb. Đà Nẵng, 1995, tr.636.
(13), (26) Chương Thâu, Phan Bội Châu toàn tập, Nxb. Thuận Hóa, 1990, tập II, tr.130, 155, 156.
(14) David G. Marr, Vietnamese Anticolonialism 1885-1925, Đại học California xuất bản, Berkeley (Mỹ), 1971, tr.220.
(15) Hai con trai của Khải đều làm Tổng đốc (Hoàng Trọng Phu – Tổng đốc Hà Đông, Hoàng Mạnh Trí – Tổng đốc Nam Định). Hoàng Gia Mô, cháu nội của Khải, làm Tri huyện Vĩnh Bảo. Trong cuộc khởi nghĩa năm 1930, do Nguyễn Thái Học lãnh đạo, nghĩa quân Việt Nam Quốc Dân đảng xử tử Mô rồi quăng xác xuống sông Cầu Mục (15/2/1930).
(16) Tạp chí Nam Phong (Hà Nội) số 22, tháng 4/1919.
(17) Lãng Nhân, Chơi chữ, Nam Chi tùng thư, Sài Gòn, 1963, tr.179.
(18) Vũ Ngọc Khánh, Thơ văn trào phúng Việt Nam từ thế kỷ XIII đến 1945, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1974, tr.279.
(20) Nguyễn Phan Quang, Việt Nam cận đại – những sử liệu mới, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 1995, tr.126.
(24) Vũ Ngọc Phan, Nhà văn hiện đại, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1989, tập I, tr.183.
(25) Ngô Thời Sĩ, Việt sử tiêu án, Nxb. Thanh niên, TP. Hồ Chí Minh, 2001, tr.29.
(27) Văn thơ yêu nước và cách mạng đầu thế kỷ XX (1900-1930), Nxb. Văn học, Hà Nội, 1976, tr.617-618.

Ý Kiến bạn đọc