Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Phân khúc lịch sử

Ông Lê Thanh Thản – Tập Đoàn Mường Thanh Ôm Lãi Lớn Nhờ Phân Khúc Căn Hộ. Ông Trần Đình Ba Và Bà Nguyễn Thị Thanh Vân Đưa Ra Hai Phân Khúc Lịch Sử Về Bảo Đại Và Hoàng Cao Khải Trên Xưa & Nay Số 509, Tháng 7-2019. Lỗ Lãi Chưa Biết Nhưng Tác Dụng Phải Có Ít Nhiều. Chí Ít Là Lê Vĩnh Trường Đã Đọc, Phải Suy Ngẫm Và Có Lời Trao Đổi Lại.

Để Bạn Đọc Nắm Được Đại Thể, Kỳ Này Chúng Tôi Xin Giới Thiệu Tóm Tắt Phân Khúc Hoàng Cao Khải Của Nguyễn Thị Thanh Vân Và Của Nguyễn Thị Đông Thái Trên Hồn Việt Số 33, Tháng 3-2010.

 

NHÂN VẬT LỊCH SỬ TRONG TUỒNG CỦA HOÀNG CAO KHẢI

Viết lịch sử đã khó, viết kịch bản sân khấu về đề tài lịch sử là một công việc vô cùng khó khăn đòi hỏi người viết phải am hiểu lịch sử. Vì khai thác cái hiện tượng lịch sử để tìm thấy những khía cạnh, nhũng phương diện nào đó phù hợp với ý đồ sáng tạo của nhà viết kịch, nhằm đáp ứng nhu cầu của thời đại đương thời, của người xem hôm nay. Khảo sát các kịch bản tuồng Trung hiếu thần tiên (bằng chữ Nôm), Tây Nam đắc bằng, Tượng kỳ khí xa được in vào năm 1916 của tác gia Hoàng Cao Khải, chúng ta đều thấy rõ được sự kết hợp, sự giao lưu hài hòa giữa hôm qua và hôm nay, giữa truyền thống và hiện đại cả trên phương diện nội dung lẫn hình thức nghệ thuật. Bài viết nêu lên một số nhân vật lịch sử trong các kịch bản tuồng này để thấy được phương pháp sáng tác tuồng đề tài lịch sử của ông.

… Tư tưởng trung được ông quan niệm trong tác phẩm chính là khẳng định lòng trung thành của Trần Quốc Tuấn đối với vua Trần. Chữ hiếu được thể hiện ở việc Trần Quốc Tuấn nghe theo lời cha chăm chỉ học hành. Phải chăng triết lý coi việc thực hiện “trung hiếu” của nhân vật Trần Quốc Tuấn được tác giả lý giải việc coi “trung hiếu” như là kỳ tích, giống như chuyện thần tiên vậy. Quan niệm “Do lai trung thiếu tức thần tiên”, có nghĩa là “Từ xưa đến nay trung hiếu tức là thần tiên” của Hoàng Cao Khải chi phối toàn bộ tư tưởng và hành động của nhân vật Trần Quốc Tuấn ở các hồi sau của kịch bản.

So-566--Chan-dung-Hoang-Cao-Khai---Anh-1
Chân dung ông Hoàng Cao Khải.

Quan niệm “trung hiếu” ở lớp giáo đầu này của Trần Quốc Tuấn, chứng tỏ tác gia rất tôn sùng sự “trung hiếu” của người anh hùng và chính tư tưởng này đã chi phối toàn bộ tác phẩm, khiến cho nhân vật Trần Quốc Tuấn trước sau như một, chỉ có một mục đích là trung với quân, bảo vệ xã tắc trước họa xâm lăng…

… Khai thác từ các sự kiện lịch sử nhà Trần, nhà Nguyễn, Hoàng Cao Khải đã viết ba kịch bản Tuồng: Trung hiếu thần tiên, Tây Nam đắc bằng, Tượng kỳ khí xa. Phạm vi phản ánh của các kịch bản này đều xoay quanh các nhân vật anh hùng, xả thân vì vua, vì đất nước. Trong các nhân vật lịch sử này, tác gia Hoàng Cao Khải có cảm hứng đặc biệt với nhân vật Trần Quốc Tuấn, ông dành 22 hồi Tuồng mô tả về chân dung người anh hùng dân tộc với tấm lòng trung hiếu, quyết tâm bảo vệ vương thất nhà Trần và đánh đuổi giặc Nguyên mang lại cuộc sống ấm no, thanh bình cho nhân dân. Ở kịch bản “Tượng kỳ khí xa”, ông phác họa chân dung các nhân vật anh hùng Võ Tánh, Ngô Tùng Chu, Nguyễn Tấn Huyên đã bị đẩy đến bước đường cùng và đã dẫn tới bi kịch, bi kịch của người anh hùng hy sinh vì tấm lòng trung trinh, tiết tháo của kẻ sĩ, phản ánh tư tưởng “trung quân” của họ. Tuy rằng mỗi nhân vật lịch sử ở giai đoạn khác nhau, mỗi người hiện lên một vẻ, nhưng ở họ đều có phẩm chất chung của người anh hùng, như: nhân vật Trần Quốc Tuấn, Trần Thủ Độ, Võ Tánh, Ngô Tùng Chu, Lê Văn Duyệt, Chu Văn Tiếp… là “trung quân”, có tài thao lược, vị chủ tướng anh minh, sáng suốt chỉ huy trong từng trận chiến với kẻ địch, nguyện xả thân vì nhà vua, và họ đều sống trong hoàn cảnh đất nước có chiến tranh. Họ là hình ảnh đại diện cho những tướng tài, người anh hùng dân tộc không bị quyền thế lung lay, tận trung với vua, tận hiếu với nước.

Nguyễn Thị Thanh Vân

 

MINH OAN CHO HOÀNG CAO KHẢI

“Muốn viết sử, phải biết phương pháp Sử học, và trước hết, phải là người trung thực, chứ không phải là tên cơ hội”. GS. Hà Văn Tấn (Lịch sử, sự thật & sử học, 1999, trg.15).

Sau năm 1975, một vài người Việt Nam ở nước ngoài tìm cách “minh oan” cho một số nhân vật từng phục vụ các thế lực nước ngoài xâm lược và thống trị Việt Nam. Mấy năm gần đây, một số người trong nước cũng làm chuyện tương tự.

Điển hình là một Phó giáo sư đã viết trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, cơ quan chính thức của Viện Sử học Việt Nam: “Hoàng Cao Khải là một nhân vật lịch sử có vấn đề. Vấn đề của ông cần phải nghiên cứu để có được những nhận định rạch ròi và xác đáng… Cuộc đời của ông, có thể nói, đặt ra những câu hỏi cần giải đáp để đảm bảo được sự công bằng trong lịch sử” (1).

Mục đích của chúng tôi là cùng bạn đọc trong và ngoài nước xác định rõ ràng con người Hoàng Cao Khải trong bối cảnh lịch sử Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX. Việc đề cập tới bài báo nói trên là điều bất đắc dĩ, do đó chúng tôi thấy không cần thiết nêu tên tác giả của bài báo ấy.

Mấy dòng trích dẫn trên đây hàm ý rằng, hiện nay chưa có những nhận định rạch ròi, xác đáng và công bằng về nhân vật họ Hoàng. Do đó, trước hết chúng ta cần biết…

Hoàng Cao Khải là ai?

Ở làng Đông Thái, huyện La Sơn (nay thuộc xã Tùng Ảnh, huyện Đức Thọ), tỉnh Hà Tĩnh, có hai nhân vật cùng thời, cùng nổi tiếng.

Người thứ nhất là Phan Đình Phùng (1847-1895), đỗ Đình nguyên tiến sỹ (1877), làm Ngự sử ở huyện Đô Sát. Sau khi thực dân Pháp chiếm kinh thành Huế (1885), ông dựng cờ khởi nghĩa ở Hưng Khê (Hà Tĩnh). Vua Hàm Nghi cử ông làm Hiệp thống quân vụ, chỉ huy nghĩa quân ở ba tỉnh Nghệ An – Hà Tĩnh – Quảng Bình. Được nhân dân ủng hộ, nghĩa quân lập nhiều chiến công. Thực dân Pháp dùng mọi thủ đoạn, từ lấy tiền tài chức tước mua chuộc, đến đào mồ mả tổ tiên, bắt giam người thân của ông, nhưng tất cả đều không thể khuất phục nhà yêu nước họ Phan. Ông bị thương trong một trận đánh và sau đó qua đời khi mới 48 tuổi.

Người thứ hai cũng nổi tiếng, nhưng theo chiều ngược lại: Hoàng Cao Khải (1850-1933). Sau khi đậu kỳ thi Hương năm 1868, “ở nhà nhàn cư vô sự, cờ bạc chơi bời, đến nỗi bán hết gia viên điền sản, chỉ còn một nước tự tử đến nơi, họ Hoàng bỏ nhà đi ra Bắc Hà” (2). Với bằng cử nhân, Khải được bổ làm huấn đạo huyện Thọ Xương rồi giáo thụ phủ Hoài Đức.

Ngày 25/4/1882, thực dân Pháp chiếm thành Hà Nội lần thứ hai, Tổng đốc Hoàng Diệu tuẫn nghĩa. Sau đó, Pháp đánh nống ra các tỉnh khác của Bắc kỳ.

Các cuộc khởi nghĩa nổ ra khắp nơi. Pháp xua quân đi đánh nhưng không thể dập tắt ngọn lửa kháng chiến của nhân dân Bắc kỳ. Chúng nghĩ tới việc áp dụng ở Bắc kỳ thủ đoạn “dùng người Việt đánh người Việt” mà trước đó chúng đã thi hành ở Nam kỳ và Trung kỳ với những Việt gian khét tiếng như Trần Bá Lộc, Huỳnh Tấn, Nguyễn Thân…

Hoàng Cao Khải tự nguyện theo giúp quân xâm lược, được Pháp rất tin dùng. Ông được cử làm Tiễu phủ sứ, phụ trách “dẹp loạn” ở các tỉnh Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Dương.

Sau đó, ông được thăng chức Tổng đốc Hải Yên (liên tỉnh Hải Dương – Quảng Yên); đến năm 1889, ông leo lên địa vị cao nhất xứ Bắc kỳ: Kinh lược sứ, được Pháp gọi là “phó vương Bắc kỳ” (vice-roi du Tonkin), một chức quan không hề có trong sử sách Việt Nam. Việc này được De Lanessan (làm Toàn quyền Đông Dương từ ngày 21/4/1891 đến 29/12/1894) nhắc tới trong cuốn Công cuộc thuộc địa hóa ở Đông Dương (La colonisation francaise en Indochine): “Thấy tuyệt vọng không thể bình định được vùng đồng bằng Bắc kỳ bằng những đội quân chính quy và những đội dân vệ mà lúc đó quân số cũng đã lên 88.000 người, viên toàn quyền tạm quyền Francois Bideau và viên thống sứ Eusèbe Parreau đã tổ chức, với những dân vệ và những lính cơ dưới quyền của vị kinh lược Hoàng Cao Khải và vài vị quan, những “đội quân cảnh sát” hành động trong các tỉnh bị rối loạn nhất, đặc biệt là ở Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Dương, Hà Nội…” (3).

Trong báo cáo ngày 27/3/1889, thống sứ Bắc kỳ Eusèbe Parreau cũng viết: “Cần có biện pháp mới, nghĩa là phải làm sao cho dân bản xứ chống lại nhau. Tôi đã giao nhiệm vụ này cho Tổng đốc Hoàng Cao Khải, viên quan rất có nghị lực và đầy tham vọng” (4). Theo nhà Sử học Pháp Philippe Devillers, thi hành chủ trương của Pháp: “Hoàng Cao Khải tập hợp gồm 400 lính tình nguyện lấy trong số những lính khố đỏ cũ và 500 vệ binh dân sự do các công sứ cung cấp. Lực lượng này đi ngang dọc khắp nơi ở Bãi Sậy, có khi đụng độ với những nhóm kháng chiến chính yếu, nhưng thường là hành động theo chiều sâu, trên cơ sở những tin tức tình báo, do đó bắt được nhiều người và thường là hành quyết ngay…” (5). Phối hợp với quân viễn chinh Pháp, “đội quân cảnh sát” của Khải mở các cuộc hành quân càn quét vào những khu căn cứ của nghĩa quân (Bãi Sậy ở Hưng Yên, Hai Sông ở Hải Dương…), bao vây dài ngày để cắt đứt việc tiếp tế lương thực, chém giết bừa bãi nhằm khủng bố dân chúng để họ không dám giúp đỡ nghĩa quân. Nghĩa quân ở các tỉnh đồng bằng Bắc kỳ chịu nhiều tổn thất nặng nề.

Ở Trung kỳ, Pháp đánh mãi mà không đàn áp được cuộc khởi nghĩa Hưng Khê, nên tháng 11/1894 toàn quyền De Lanessan sai Hoàng Cao Khải lấy danh nghĩa đồng hương và có quan hệ thông gia để viết thư dụ Phan Đình Phùng. Trong thư, Khải khẳng định việc Pháp cướp nước ta là điều không thể xoay đổi (“Sự thế gần đây đã xoay đổi ra thế nào, thử hỏi việc đời có thể làm được nữa không, dầu kẻ ít học thức, kém trí khôn cũng đều trả lời không được”), do đó kháng chiến giành lại độc lập chỉ làm cho “quê hương điêu đứng xiêu tàn” (“Nếu như ngài cứ khăng khăng làm tràn tới mãi thì e rằng khắp cả sông Lam núi Hồng đều biến thành hồ cá hết thảy”), và như thế có lỗi với dân (“Dân ta có tội gì mà vướng phải nông nỗi lầm than thế này, là lỗi tại ai?”). Khải ca ngợi “nhà nước Bảo hộ khoan dung biết nhường nào!”, khoe “với quan toàn quyền vốn có tình quen biết nhau lâu; lại có quan khâm sứ ở kinh đô và quan công sứ Nghệ Tĩnh cùng tôi quen thân, hiệp ý nhau lắm” nên đã từng “bảo toàn” cho người “ra thú” được “yên ổn vô sự” (6).

Phan Đình Phùng viết thư khước từ, đồng thời nói với người đưa thư: “Tôi thề quyết làm việc tôi làm đây tới cùng, dầu sấm sét búa rìu cũng không làm sao cho tôi thay lòng đổi chí được. Anh về nói dùm cho Hoàng Cao Khải biết như thế” (7). Khải cho dịch thư của Phan Đình Phùng ra chữ Pháp, gửi kèm theo báo cáo lên toàn quyền De Lanessan: “Bổn chức đã lấy hết sự thế lợi hại để tỏ bày khuyên nhủ Phan Đình Phùng ra hàng thú, nhưng y vẫn tỏ ý hôn mê bất ngộ (mê mẩn tối tăm, không tỉnh). Giờ xin Chính phủ Bảo hộ vì dân [!] mà dùng binh lực tiễu trừ cho hết văn thân loạn phỉ” (8). Hành động của Khải bị người dân Nghệ – Tĩnh – Bình phê phán trong bài vè Vè quan Đình (tức Đình nguyên Phan Đình Phùng):

Thua cơ, Tây phải cầu hòa
Sai Hoàng Cao Khải
tiến thư thuyết hàng
Quan Đình sắt đá bền gan
Lòng trung bạch nhật
minh quang chẳng dời
Hoàng Cao nói chẳng đắt lời
Lại xui Tây tặc phải thời tiến binh
Sao không biết hổ với mình? (9)

Ngày 27/12/1896, Paul Doumer được cử làm toàn quyền mới của Đông Dương. Hơn nửa năm sau, để thực hiện chủ trương trực trị đối với Bắc kỳ, Pháp bãi bỏ chức Kinh lược, chuyển toàn bộ quyền hành vào tay viên thống sứ Pháp. Khải được điều động vào Huế, làm phụ chính đại thần, cố vấn đặc biệt cho vua Thành Thái (lúc đó mới 18 tuổi), có chân trong Viện Cơ mật, Thượng thư Bộ Binh. Năm 1903, Khải về hưu với hàm thái tử thái phó, Văn Minh Điện Đại học sĩ, tước Duyên Mậu Quận công.

(Còn tiếp)

Nguyễn Thị Đông Thái

 

Lê Vĩnh Trường
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 566

———————-
(1) Việt sử yếu và tác giả của nó, tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 5 (385), 2008, tr.72-79.
(2) Đào Trinh Nhất, Phan Đình Phùng, Nxb. Tân Việt, Sài Gòn, 1950, tr.168. Quyển Phan Đình Phùng xuất bản lần đầu tiên ở Hải Phòng năm 1936, chỉ 3 năm sau Hoàng Cao Khải chết. Do đó, chi tiết nêu trên phải tuyệt đối chính xác; nếu không, thực dân Pháp và “con cái một nhà hai tổng đốc” của họ Hoàng sẽ không để tác giả yên.
(3), (5) Philippe Devillers, Người Pháp và người An Nam bạn hay thù?, Ngô Văn Quỹ dịch, Nxb. Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, 2006, tr.493, 511, 512.
(4) Nguyễn Phan Quang, Việt Nam cận đại – những sử liệu mới, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 1995, tr.126.
(6), (7), (8) Đào Trinh Nhất, sđd, tr.169, 171, 172, 173, 177.
(9)) Thơ văn yêu nước nửa sau thế kỷ XIX (1858-1900), Nxb. Văn học, Hà Nội, 1976, tr.536, 562, 563.

 

Ý Kiến bạn đọc