Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Phan Chu Trinh

“… Có một số người Việt Nam đang ngụy biện về sự nghiệp Phan Chu Trinh, cố hóa sai thành đúng, nhằm phủ nhận giá trị của toàn bộ cuộc kháng chiến giành độc lập của dân tộc Việt Nam, với ý đồ chính trị cực kỳ nguy hiểm!”

Phan Chu Trinh là người tha thiết yêu nước và trong 20 năm đã tích cực hoạt động vì nước. Tuy nhiên, sách lược cứu nước của cụ sai lầm hết sức trầm trọng từ đầu đến cuối. Trong hoàn cảnh bình thường, ta nay có thể vì tấm lòng rất đáng trân trọng mà không nhắc đến cái nghĩ sai làm sai của người trước ấy. Nhưng có một số người Việt Nam đang ngụy biện về sự nghiệp Phan Chu Trinh, cố hóa sai thành đúng, nhằm phủ nhận giá trị của toàn bộ cuộc kháng chiến giành độc lập của dân tộc Việt Nam, với ý đồ chính trị cực kỳ nguy hiểm! Không đừng được, chúng tôi sau đây tham gia phản bác ngụy biện.


Về giá trị của sách lược cứu nước của Phan Chu Trinh, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhận định: “Cụ (…) sai lầm chẳng khác gì đến xin giặc rủ lòng thương”(1).

Quả thực, đó là một con người hết sức bất cận nhân tình. “Ỷ Pháp tự cường”!!! Ai lại đi nghĩ cái thằng giặc đang cướp của nước lột sức dân mình sướng muốn chết, thằng ấy nó sẽ tự nó làm, hay ngay cả để cho người mình làm, cái việc cải cách xã hội Việt Nam nhằm khiến ta trở nên mạnh. Ta mạnh, để không cho nó cướp lột ta nữa à!!! Việc cải cách có làm là phải làm hồi thời Tự Đức kìa, khi nước chưa mất, khi còn làm được. Chủ trương hết sức viển vông của Phan Chu Trinh đem ra thực hiện chỉ hai năm thì có kết quả hoàn toàn minh bạch: Pháp dẹp tan phong trào Duy Tân và suýt nữa thì đưa người khởi xướng phong trào ra pháp trường.

Lạ lùng, đại bại trên không làm cho Phan Chu Trinh tỉnh ngộ mà thôi “đến xin giặc”. Suốt đời cụ không từ bỏ mơ tưởng xây dựng một xã hội Việt Nam theo ý mình, với sự hợp tác của Pháp!!!


Khi Phan Chu Trinh mất, trong lời khóc của một bạn thân là Huỳnh Thúc Kháng có chỗ tóm tắt chính kiến của người vừa quá cố: “Chủ nghĩa tiên sinh đệ nhất là đánh đổ chuyên chế, làm cho dân quyền tự do”(2).
Chuyên chế bấy giờ là bù nhìn của thực dân. Đánh thực dân, chứ đánh làm chi chuyên chế?!

Còn dân quyền, hay dân chủ, thì trong thư của một bạn thân khác của Phan Chu Trinh là Phan Bội Châu, giữa những câu rào trước đón sau, dỗ dành ngon ngọt, là lời nhận định sáng suốt: “Ôi dân chủ! Dân không còn nữa thì chủ vào đâu? (…) Lý luận không đi sát thực tế, thi hành thì chỉ là một việc tai hại”(3).

Có nước, mới có dân. Nước mất rồi, chỉ có nô lệ thôi. Nô lệ thì “chủ vào đâu”!!! Nô lệ mà đánh đổ chuyên chế, dựng lên chính quyền “dân chủ”, thì chính quyền đó cũng chỉ là một cái bù nhìn và thân nô lệ cũng vẫn chỉ y nguyên là thân nô lệ. Phải tập trung giải phóng dân tộc trước đã, dựng gì đấy thì dựng sau; mọi cải cách sớm chỉ nên tiến hành nếu có lợi cho kháng chiến, như sau này Đảng Cộng sản tiến hành cải cách ruộng đất để động viên nông dân hết sức tiếp tục đánh Pháp. Còn tại sao “tai hại”? Bởi Phan Chu Trinh đã đặt một lý thuyết chính trị lên trên độc lập của Tổ quốc, làm cho một số người Việt Nam hoang mang, không tập trung được vào công cuộc giành độc lập.

“Không đi sát thực tế” là nói hết sức nhẹ nhàng. Nói cho chính xác, Phan Chu Trinh đã phiêu diêu trên những cõi trời lý luận mà xa lìa hẳn thực tế phũ phàng của quê hương Việt Nam.


Thành tích sai lầm của Phan Chu Trinh phi thường. Về cuối đời, cụ cổ vũ giáo dục trẻ em Việt Nam bằng tiếng Pháp!!!
Cái sai này khiến ngay một trí thức Việt Nam hợp tác chặt chẽ với Pháp là Phạm Quỳnh cũng phải lên tiếng gay gắt phê phán: “Thái độ bất ngờ của nhà ái quốc Phan Chu Trinh (…) hoàn toàn ủng hộ tiếng Pháp và hy sinh hẳn tiếng Việt Nam (…) ông nói ông phản đối sự dạy bằng quốc ngữ ở các trường tiểu học (…) Ðối với một việc dễ dàng như việc này mà còn có người ngộ nhận như thế (…) nghĩ cũng tiếc và cũng ngán thay! Việc dễ, việc nhỏ còn thế, việc lớn, việc khó thời thế nào?”(4). Lúc cụ Phan gần mất thì người Việt nói tiếng Việt viết tiếng Việt là quyết định cực kỳ hiển nhiên mà cụ còn nghĩ sai, thì gánh vác việc cứu nước là gánh thế nào, vác thế nào?!

Đây tâm sự của đông đảo học sinh Việt Nam độ mười năm sau khi Phan Chu Trinh qua đời: “Trong chương trình của ban học thành chung, mỗi tuần chỉ có một giờ dạy tiếng Việt (…) chúng tôi yêu quốc văn với tấm lòng người con thương mẹ, yêu thương người mẹ đẻ bị rẻ rúng, bị xem thường. Lòng yêu quốc văn của chúng tôi lúc đó (…) là một biểu hiện của lòng yêu nước”(5). Và đây một nhà văn Việt Nam nói về tiếng Việt: “Nghĩ về sự (…) đẹp đẽ (…) sang giàu của tiếng nói Việt Nam, có những lúc tôi (…) lặng cúi xuống mặt trang giấy trắng tinh (…) mà nói bật lên những lời biết ơn đối với đất nước, ông bà, tiên tổ (…) đã truyền cho tôi thứ tiếng nói đậm đà (…) Trong hương hoa thừa hưởng đấy, lẫn vào với vô số thanh âm từ điệu, thấy như biểu hiện lên không biết bao nhiêu là mồ hôi và máu huyết của đời sống ông bà khai rừng, vỡ ruộng, mở cõi, giữ nước chống giặc, tiến lên tới đâu là xây dựng ngôn ngữ tới đó. Nay mỗi lần đụng tới di sản nhiệm màu ấy, thấy bổi hổi bồi hồi, như vấn vương với một cái gì thật là thiêng liêng, vô giá (…) không, không thể nào quên được cái tiếng Việt Nam hữu cơ, cái tiếng Việt Nam linh diệu ấy được”(6).

Phan Chu Trinh mà thành công (sự không thể!) thì tội nghiệp cho “những người con (…) yêu thương người mẹ đẻ bị rẻ rúng” biết bao nhiêu, thì chao ơi là cái cách đối xử của con cháu đối với cái “hương hoa thừa hưởng”, cái “di sản nhiệm màu (…) thiêng liêng, vô giá”!

Tố Hữu có câu thơ “Phan Chu Trinh lạc lối trời Âu”(7). Lòng cụ Phan không bao giờ lạc ra khỏi con đường yêu nước, nhưng trí óc của cụ thì có bị cái “trời Âu” nó lung lạc. Trong khi bôn ba rất lâu năm ở Tây phương, mà Nguyễn Ái Quốc trước sau cả lòng lẫn óc không hề “lạc”. Ngay sau khi lên làm Chủ tịch nước, Hồ Chí Minh quyết định lập tức đánh giặc dốt, cấp tốc dạy cho toàn dân biết đọc biết viết tiếng Việt.


Trong kháng chiến chống Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh có lần phát biểu: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ cướp nước và lũ bán nước!”(8).

Do đó dân tộc Việt Nam đặc biệt quý những người yêu nước. Chỉ nói riêng thời Pháp thuộc cho đến năm Phan Chu Trinh qua đời, bao nhiêu tên tuổi đã đi vào lòng dân, được mãi mãi ghi nhớ. Đám tang cụ Phan to hơn đám tang những nhà ái quốc khác không phải vì người Việt Nam quý cụ hơn những người kia. Sở dĩ nó to, chủ yếu vì ba lý do này. Thứ nhất, Phan Bội Châu mới bị giặc Pháp bắt. Danh sĩ thiết tha với nước và còn đang hoạt động giờ còn hết sức ít nên dân có ý trông mong nơi Phan Chu Trinh, nào ngờ hồi hương chưa được bao lâu cụ đã mất, khiến lòng dân thê thảm, trong cái khóc một người có chen bao nhiêu nước mắt rơi cho vận nước. Thứ hai, nhiều người Việt Nam muốn nhân cơ hội bày tỏ nhiệt tình ái quốc. Tức cái đám này vừa là một đám khóc vừa là một cuộc biểu tình có trật tự nhằm phản đối thực dân. Thứ ba, đám tang Phan Chu Trinh to là vì đã có điều kiện để tổ chức to. Có phải dân ta không muốn đi đám tang Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám hay Nguyễn Thái Học đâu, chẳng qua có đám đâu mà đi!

Trong điếu văn của Huỳnh Thúc Kháng có chỗ viết: “Tiên sinh thường nói rằng (…) nếu muốn cải cách thì cần liên lạc đoàn thể mới được. Tiếc (…) đồng chí với tiên sinh chẳng được mấy người. Vì vậy mà tấm lòng bị phân hóa ra uất ức, uất ức hóa nên đại bệnh (…) thương ôi!”. Đó, rõ ràng là quốc dân đã chủ yếu “thương ôi” một tấm lòng yêu nước chân thành bền bỉ, chứ đâu phải ủng hộ một sách lược cứu nước sai lầm cơ bản.

Cuối cùng, thiết tưởng lời ghi đậm nét của Nguyễn Ái Quốc về đám tang Phan Chu Trinh là rất có hậu ý. Lịch sử dân tộc biết bao nhiêu việc quan trọng hơn việc ấy. Và cái “quốc gia chủ nghĩa” đặt quốc gia dưới chủ nghĩa (!) của Phan Chu Trinh thì có nghĩa lý gì so với cái “lòng nồng nàn yêu nước”, cái “truyền thống quý báu” luôn luôn đặt nước lên trên tất cả của người Việt Nam. Ta đã có ý thức dân tộc từ đời xửa đời xưa, đã tác giả bản tuyên ngôn đầu tiên về quyền tự quyết dân tộc và đã đưa ra định nghĩa đầu tiên của nhà nước dân tộc trên thế giới!(9). Thời Pháp thuộc, bao nhiêu nho sĩ chống giặc Pháp đều là vì ái quốc chứ đâu phải vì trung quân (cho nên các cụ mới nghe lời ông vua yêu nước mà không đếm xỉa đến cái bù nhìn làm nhục nước!). Nho giáo Việt Nam khác Nho giáo Trung Quốc trước tiên chính là ở cái chỗ đặt nước trên vua, mọi người đều biết cả đấy cơ mà. Vậy tại sao Nguyễn Ái Quốc lại ghi đậm thế? Xin để ý rằng mấy dòng tường thuật nằm trong một bản báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản đúng vào cái khoảng thời gian mà Nguyễn đang hết sức kêu gọi Quốc tế giúp đỡ giải phóng dân tộc Việt Nam(10). Hẳn Nguyễn đã lợi dụng “thời cơ”, cố ý nhấn mạnh lòng yêu nước của dân mình để lời xin giúp thêm thuyết phục. Bởi người Tây phương bấy giờ còn vô cùng lờ mờ về lịch sử và văn hóa ta (đến thời Mỹ vẫn chưa biết gì cả như Đại tướng Võ Nguyên Giáp nói với McNamara!), Nguyễn không nhắc đến quá khứ xa hay gần mà chọn luôn cái đám tang to còn nóng hổi của một người Việt tương đối nhiều Tây biết, cho nó chắc ăn!


Nghĩ về Phan Chu Trinh, làm sao khỏi nhớ lời trăn trối của nhà ái quốc tiền bối Lương Văn Can: “Bảo quốc túy, tuyết quốc sỉ”. Giữ hồn nước, rửa nhục nước, hai việc nước căn bản nhất, thế mà có người yêu nước lại đi chủ trương không đặt ưu tiên!!!

Ấy bởi vì Phan Chu Trinh đã lấy làm quá quan trọng dân chủ, là chẳng qua cái triết lý chính trị hãy còn non trẻ của một bộ phận của nhân loại. Triết ấy kể cũng có chỗ hay, nhưng đáng lẽ ra cụ chỉ nên để bụng để sau này nếu có dịp thì cố đúc cái hay vào chính thể riêng của nước Việt Nam độc lập, chứ cụ đâu có được phép đi say sưa nó đến mức “tai hại” thế! Phan Chu Trinh đặt ưu tiên sai còn vì một lý do song song nữa: ấy là cụ đã không hiểu mấy về văn hóa Việt Nam truyền thống, nói chi hiểu nhiều hơn người khác. Bấy giờ thất thế vô cùng nhục nhã, nhưng thực ra trong không biết bao nhiêu đời cái truyền thống tinh thần riêng của dân tộc ta đã bền bỉ duy trì được một nền đạo lý hết sức cao và “đẻ” ra được vô số nhân cách đáng quý mà chính cụ là một! Và tuy không dẫn tới máy móc tối tân nào nhưng về nghệ thuật nó đã lập được những thành tích từ không kém ai cho đến hơn hẳn mọi dân tộc khác. Chỉ biết cái mới của Tây (làm sao đã thực biết được, vì nó còn mới!), không biết cái cũ của Đông (tuy cũ nhưng có những chỗ rất hay), mà cứ khăng khăng đòi đổi trọn gói ngay lập tức cho bằng được, “thương ôi”!

Bây giờ mới nói tới cái thiểu số đang công kênh Phan Chu Trinh với ý đồ “thay đổi chế độ”. Thời cụ Phan, ở Tây phương dân chủ còn chừng mực, nhưng từ khá lâu nó đã trở nên quá độ, dẫn tới những kết quả cực xấu: văn hóa tinh thần tụt dốc thê thảm, quan hệ giữa người với người sa sút vô phương cứu chữa, và gần đây nhất là hiện tượng bệnh đồng tính lan rộng tới mức được coi là bình thường! Dân chủ quá độ làm cho ở Tây phương con người lành mạnh đang giãy chết. Thế mà có những người Việt Nam hăm hở đòi rước cho bằng được thứ dân chủ ấy về! Họ yêu nước mà mù, họ yêu tham vọng hơn là yêu nước, họ căm thù chế độ vì lẽ riêng, họ vô tư a dua… Chỉ cần biết, vì sự thực lịch sử, vì tình yêu Tổ quốc, ta phải hết sức ngăn chặn, không cho họ thành công.

Tháng 9-2015

Thu Tứ

_________
(1) Trần Dân Tiên, “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch”, Nxb. Sự Thật, 1975.
(2) Xem chẳng hạn, trang vi.wikipedia.org.
(3) Phan Bội Châu, Tự phán, Nxb. Nhân Chủ Học Xã, 1987.
(4) Trong bài “Ông Phan Châu Trinh đối với chữ quốc ngữ”, Nam Phong số 95, 5-1925.
(5) Huy Cận, “Hồi ký song đôi”, tập 2, Nxb. Hội Nhà Văn, 2003.
(6) Nguyễn Tuân, “Về tiếng ta”, đăng trên Văn Học số 3, 1966, in lại trong “Các nhà văn nói về văn”, Nxb. Tác Phẩm Mới, tập I, 1985.
(7) Trong bài thơ “Theo chân Bác”.
(8) Trong “Báo cáo chính trị” trình bày trong đại hội lần thứ hai của Đảng Lao Động Việt Nam họp tại Việt Bắc tháng 2-1951.
(9) Trong “Bản sắc văn hóa Việt Nam”, Nxb. Văn Hóa – Thông Tin, 1998.
(10) Xem bài “Hồ Chí Minh” của TT.

Ý Kiến bạn đọc