XEM BÁO GIẤY
Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Phan Chu Trinh – tư cách con người và chủ trương chính trị

Lts: Nhà Cách Mạng Tôn Quang Phiệt (1900-1973), Nguyên Phó Chủ Tịch Kiêm Tổng Thư Ký Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội, Đã Hoạt Động Trong Các Tổ Chức Tân Việt (1927), Đông Dương Cộng Sản Liên Đoàn (1929), Đầu Năm 1930 Bị Bắt Đày Lên Buôn Ma Thuột. Tôn Quang Phiệt Là Người Cùng Thời Với Phan Chu Trinh (Đến 1926) Và Phan Bội Châu (Đến 1940). Thời Gian Ở Huế Ông Thường Gặp Cụ Phan Bội Châu Và Đứng Ra Tổ Chức Tang Lễ Cho Cụ Phan Khi Cụ Mất Vào Năm 1940. Tôn Quang Phiệt Đồng Thời Sáng Tác Nhiều Thi Văn Và Nghiên Cứu Lịch Sử. Ông Là Một Trong Các Thành Viên Sáng Lập Ban Văn – Sử – Địa, Tiền Thân Của Viện Hàn Lâm Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn Bây Giờ. Tôn Quang Phiệt Đặc Biệt Nghiên Cứu Sâu Sự Nghiệp Của Phan Chu Trinh Và Phan Bội Châu. Bằng Thực Tiễn Hoạt Động Cách Mạng Và Chiều Sâu Học Thuật, Ông Là Tiếng Nói Có Thẩm Quyền Về Phan Chu Trinh. Bài Đăng Dưới Đây Trích Từ Tôn Quang Phiệt 1900-1973 Do Nxb Văn Học Ấn Hành, Hà Nội, 2016. Xin Trân Trọng Giới Thiệu Cùng Bạn Đọc.

3. Đánh giá phan chu trinh trong cuộc vận động ái quốc của nhân dân ta

Những người vận động ái quốc nước ta đầu thế kỷ này có thể chia ra làm hai hạng: hạng người chủ trương bạo động dùng vũ lực đánh đuổi quân Pháp, giành độc lập dân tộc; hạng người chủ trương cải lương lo mở mang dân trí, phát triển kinh tế, cải cách văn hóa, chấn hưng dân quyền, đợi khi dân khôn nước giàu, rồi mới tính chuyện khác. Tiêu biểu cho hạng thứ nhất là Phan Bội Châu; tiêu biểu cho hạng thứ hai là Phan Chu Trinh. Tuy nhiên, cũng có nhiều người yêu nước lúc bấy giờ đối với hai nhà lãnh tụ đều tỏ lòng kính phục vì hai người đều là yêu nước và chống Pháp. Nên trong lúc góp phần vào hoạt động cải lương của Phan Chu Trinh, họ vẫn giúp đỡ chủ trương bạo động của Phan Bội Châu, chứ không có một thái độ dứt khoát theo chủ trương nào là chính. Đến lúc phong trào nhân dân lên, các cuộc chống đối chính phủ bùng nổ, thì thực dân Pháp và Nam triều thẳng tay đàn áp; chúng đã “vơ đũa cả nắm” bắt bớ tù đày mọi người có hoạt động mà không phân biệt ai theo chủ trương gì. Chỉ có Phan Chu Trinh đã tỏ rõ thái độ của mình trong bức thư gửi cho Toàn quyền Bô đã được một bọn Pháp biết rõ, mà được phân biệt đối xử.

Cả hai phái bạo động và cải lương đều đã thất bại, vì lúc đó nước ta chưa đủ các điều kiện chủ quan và khách quan để đuổi được ngoại xâm, giành được độc lập. Tuy nhiên, chủ trương cách mạng võ trang của Phan Bội Châu là đúng. Các nhà hoạt động cách mạng thường nói “thất bại là mẹ thành công”, trường hợp này rất đúng. Còn chủ trương cải lương của Phan Chu Trinh thì bị thất bại và bị phá sản luôn. Sau Phan Chu Trinh, những nhà chân chính ái quốc của nước ta không ai đi theo con đường ấy nữa. Những kẻ theo con đường cải lương sẽ là những kẻ hợp tác với bọn thực dân thống trị, trở thành những tay sai của chúng không hơn không kém, mà không người nào có thể được sự hâm mộ của nhân dân như Phan Chu Trinh nữa. Điều ấy tỏ ra rằng nhân dân ta rất là sáng suốt, phân biệt được kẻ gian người ngay.

Bia-sach-Ton-Quang-Phiet-1900-1973---Quyen-1

Với chủ trương dùng phương pháp cải lương để diệt thù cứu nước căn bản là không đúng, cho nên Phan Chu Trinh dầu là thành tâm ái quốc, dầu là thật có can đảm, cũng không khỏi có những nhận định mù quáng, chỉ thấy ngọn mà không thấy gốc, chỉ lưng chừng nửa vời mà không triệt để, có khi lại tự hại mình mâu thuẫn với mình. Điều vô lý thứ nhất là tin rằng người Việt Nam có thể dựa vào thực dân Pháp mà đánh đổ quan lại hủ bại của Nam triều, rồi dùng một lớp người tân tiến để sửa sang việc nước, làm cho dân giàu nước mạnh để đưa dân tộc đến độc lập! Dùng võ lực đánh chiếm nước ta, thực dân Pháp cốt kiếm lợi: quan trường ta càng thối nát, nhân dân ta càng lạc hậu thì cuộc đô hộ của chúng càng dễ dàng, các nhà tư bản Pháp vì thế tha hồ bóc lột nhân công rẻ mạt, khai thác các nguyên liệu dồi dào, hết đầu hóa sang đầu tư, mà nhân dân bổn xứ không thể cạnh tranh được với chúng. Một thuộc địa như thế là nơi thiên đường của thực dân, cho nên chúng càng duy trì được tình trạng thấp kém ấy càng lâu càng hay. Cố nhiên trong chính giới Pháp theo chế độ nhiều đảng của Pháp cũng có lớp người tiến bộ. Các phần tử bênh vực cho Phan Chu Trinh là thuộc lớp tiến bộ ấy. Tuy nhiên, họ cũng chỉ bênh vực thuộc địa đến chỗ thi hành một ít cải cách là cùng. Thực dân nào cũng thế, mỗi khi đi lấy nước ngoài thì bao giờ cũng tuyên bố là chúng làm nhiệm vụ khai hóa cho dân, khi nào dân đủ điều kiện độc lập thì chúng sẽ trả lại độc lập. Đó chỉ là một cách tuyên truyền lừa bịp; tin lời nói ấy là vô cùng ngớ ngẩn. Trong một văn kiện của mật thám Pháp nhan đề Những hoạt động chống Pháp từ 1905 đến 1918 có nói tới Phan Chu Trinh và Phan Bội Châu trong một đoạn như sau: “Việc đưa Cường Để đi Nhật để làm lãnh tụ cho đảng quốc gia đã bị Phan Chu Trinh và Phan Phúc Duyện phản đối. Phan Bội Châu đã tranh luận kịch liệt với các ông này. Các ông này, được một số người Pháp khuyến khích, cũng là do thành tâm của họ thôi, đã tố cáo mãnh liệt sự tham tàn của quan trường và lý luận của họ đưa họ đến chỗ lên án chế độ quân chủ mà họ cho là không thể đi đôi với quyền lợi thực sự của nước”. Một số người Pháp khuyên Phan Chu Trinh đó là ai? Nhất định cũng không phải những người muốn cho Việt Nam độc lập mà nhất định là những người chống lại chủ trương của Phan Bội Châu. Đó là một cách chia rẽ thâm độc. Cũng nhờ Phan Chu Trinh là người chân thành yêu nước, muốn nước thoát khỏi ách nô lệ và tình trạng lạc hậu mà không tìm kiếm lợi lộc, an toàn riêng cá nhân, nên thực dân không mua chuộc nổi. Tuy vậy, mãi về sau Phan Chu Trinh vẫn tỏ ra cảm động trước thái độ của một số chính khách Pháp đối với Phan. Trong bức thư gửi cho Khải Định năm 1922, Phan có viết “nếu không có những bậc chí sĩ nhân nhân nước Pháp, thể cái nghĩa bình đẳng, bác ái, ghé vai gánh vác cho Trinh thì cái thân này còn đâu đến ngày nay. Trinh sở dĩ còn được chút sống thừa, đều là nhờ ở cái văn minh của dân tộc Pháp cả”. Nhắc lại việc này, cố nhiên Phan Chu Trinh dụng ý chỉ trích chính sách độc tài của triều đình nhà Nguyễn đối với các phần tử yêu nước, nhưng không khỏi đề cao thực dân một cách quá đáng, làm cho nhân dân ta hiểu lầm. Sau nữa, sở dĩ Phan Chu Trinh được giảm án và sang lưu trú ở Pháp cũng là vì đương thời có phe bạo động gây lo sợ cho thực dân nhiều hơn, nên chúng mới phân biệt đối xử, có ý cảnh cáo cho người Việt Nam biết là nếu họ muốn hoạt động yêu nước thì đi con đường Phan Chu Trinh ít nguy hiểm hơn con đường Phan Bội Châu. Chủ nghĩa cải lương mà bị thực dân đô hộ lợi dụng được thì rất là nguy hiểm.

Những tệ lậu trong xã hội Việt Nam, trong bức thư gửi cho Bô, Phan Chu Trinh đổ tội cho quan lại Nam triều cả. Bọn quan lại Nam triều là một bọn thối nát có phần trách nhiệm rất lớn với tình cảnh khốn khổ của nhân dân, chúng ta cũng không bênh vực chúng làm gì. Nhưng thủ phạm chính có nhiều tội ác với nhân dân ta phải là bọn cướp nước là thực dân Pháp rồi mới đến bọn đầu hàng bán nước là vua tôi nhà Nguyễn. Đả kích Nam triều mà không lên án chính sách bảo hộ, tức là đánh vào ngọn mà không đánh vào gốc. Kẻ cướp đến nhà mà chủ nhà hèn yếu không dám chống lại, phải đưa của nộp cho nó, rồi trở lại làm tôi tớ cho nó để được an thân, như thế mà không đả kích kẻ cướp lại đả kích chủ nhà, đổ tội cho chủ nhà cả, thì rất không đúng. Huống chi về thời Phan Chu Trinh, bọn đi làm quan chưa phải đã hoàn toàn hư hỏng cả; vẫn có người biết cái nhục mất nước và còn để hi vọng vào những người yêu nước. Chúng ta vẫn thấy có những quan đại thần, như Hồ Lệ, Nguyễn Thảng liên lạc và trao đổi ý kiến với Phan Bội Châu, có người đã làm tri huyện như Lương Văn Thành bỏ quan để theo Phan Bội Châu xuất dương du học (Phan Bội Châu niên biểu). Tất cả những lực lượng chống Pháp cần phải khai thác cho hết, lúc mà trong giai cấp phong kiến đang có những phần tử kháng chiến. Phan Chu Trinh, đối với nhân dân thì cho là quá ngu dốt, đối với quan trường thì cho là hoàn toàn thối nát, đối với hạng người theo phái bạo động đi cầu ngoại viện thì lại cho là “bạo động là chết, vọng ngoại là ngu”. Ấy thế mà không thấy khi nào Phan Chu Trinh thẳng tay chỉ trích người Pháp cả. Trong thư gửi cho Bô, Phan Chu Trinh chỉ trách người Pháp đã dung túng cho quan lại Nam triều làm bậy, mà không nói ra một tội ác nào của chính người Pháp cả; trong thư gửi cho Khải Định, Phan Chu Trinh nhiều chỗ ca tụng công đức người Pháp. Lập trường bạn, thù như thế đảo điên. Phan Chu Trinh công kích người khác “trông ngoài là ngu” thế mà tự Phan lại muốn dựa vào Pháp. Phải chăng đối với Phan, Pháp không phải là ngoài, chính quyền thực dân Pháp ở nước ta là chính quyền hợp pháp!? Vì không đồng ý với Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh đã tuyên truyền chống lại phong trào bạo động, làm hại cho cuộc vận động của Phan Bội Châu. Lúc Phan Chu Trinh đi Trung Quốc và Nhật về, Nguyễn Hàm, một đồ đệ Phan Bội Châu ở Quảng Nam, đã viết thư cho Phan Bội Châu phàn nàn là: “Tây Hồ về đây rất bất lợi cho bạn buôn”. Bạn buôn đây là nói bóng là chỉ những người theo chủ trương bạo động (Phan Bội Châu niên biểu).

Nếu giữa Phan Chu Trinh và Phan Bội Châu có sự phối hợp cộng tác, lấy việc khai dân trí, chấn dân quyền, các cải cách kinh tế, văn hóa mà phục vụ cho công việc cách mạng vũ trang thì có lợi cho phong trào chống Pháp biết bao nhiêu. Đường này Phan Chu Trinh lại cản trở các chiến sĩ yêu nước dùng thủ đoạn bạo động, xướng ra cái thuyết “bộ Đông đảng” (bắt đảng Đông, tức là đảng đi Nhật). Những người yêu nước chân chính theo chủ trương Phan Bội Châu lúc bấy giờ như Đặng Văn Bá, Lê Huân, Nguyễn Đình Kiên… mà tôi được gặp sau này, rất chê trách Phan Chu Trinh về những hành động có tính chất phá hoại phong trào, mặc dầu không phải có dụng tâm xấu.

Còn chủ trương đả kích chủ nghĩa quân chủ của Phan Chu Trinh như thế nào? Trước khi bị đày ra Côn Lôn và sau khi được sang lưu trú ở Pháp, Phan Chu Trinh có biến chuyển về tư tưởng. Trong bức thư gửi cho Bô, Phan chỉ đả kích các quan mà không động gì đến vua cả. Trong thư gửi cho Khải Định thì Phan đề ra 7 tội của Khải Định. Phan cho rằng: “7 tội đó, đều là những điều quan hệ với quốc kế dân sinh mà thôi, chớ còn những tội lặt vặt khác, thì không kể xiết, hoặc là những việc không quan trọng gì đến quốc sự, hay việc riêng của một người nên cũng chẳng xá kể chi”. Nếu ta xét 7 tội mà Phan nêu ra là: 1- Tôn bậy quân quyền; 2- Lạm hành thưởng phạt; 3- Thích dùng những sự quì lạy; 4- Xa xỉ quá độ; 5- Ăn mặc không phải lối; 6- Chơi bời vô độ; 7- Chuyến này đi Tây có một sự ám muội; thì thấy quả Khải Định có 7 tội đó thật. Nhưng đó đã phải là tội nặng nhất của Khải Định đối với quốc kế dân sinh chưa? Cái tội to nhất của Khải Định cũng như của các vua nhà Nguyễn trước Khải Định là đã đầu hàng Pháp để cho Pháp chiếm nước ta, rồi quay lại làm tay sai cho Pháp kìm hãm nhân dân ta trong tình trạng nghèo nàn lạc hậu, giúp cho Pháp bóc lột nhân dân, đàn áp các phần tử ái quốc của ta. Còn các tội khác chẳng qua là kết quả tất nhiên của một ông vua mất nước, làm bù nhìn tay sai cho địch mà thôi. Song xét ra cho kỹ, thì Phan Chu Trinh tuy ghét quân chủ, nhưng chưa phải đã đả kích hẳn vào chế độ quân chủ. Phan chỉ công kích các vua hôn ám, chứ không phải muốn lật đổ cơ sở quân chủ, chỉ bỏ cái chế độ quân chủ độc tài, truất bỏ quan lại bất lực, thế vào đó một chế độ mà vua ít quyền với một bộ máy cai trị tiến bộ. Trong thư viết cho Khải Định, Phan Chu Trinh nói: “Chính phủ Nam triều lâu nay quen thói chuyên chế, chỉ mong sao cho vinh thân phì gia lấy một mình, thấy ai nói đến cải cách thì ghét như cừu địch, coi nhân dân như cỏ rác, ấy chính là những cái mầm cách mạng nổi lên”. Rõ ràng là Phan sợ “cách mạng nổi lên” nên muốn vua bớt chuyên chế, cho dân nhiều quyền hơn mà làm việc cải cách để tránh “cách mạng nổi lên”. Và ở một đoạn khác, Phan nói: “Xét xem chính thể văn minh lập hiến ở các nước Âu – Á, mỗi khi nhà vua có phạm điều gì, quốc dân được phép hỏi tội; dẫu nước ta bây giờ dân quyền chưa có, hiến pháp chưa lập, nhà vua còn nắm cái quyền độc đoán, nhân dân chưa được nghị luận tự do, nếu theo lấy cái đại nghĩa ấy mà làm, thì bệ hạ tất phải chịu những búa rìu của quốc dân…”. Xem thế nếu vua không độc đoán, dân có quyền tham chính thì Phan Chu Trinh sẽ mãn nguyện. Lúc về Sài Gòn, Phan vẫn nói trong bài “Quân trị chủ nghĩa và dân trị chủ nghĩa” như sau: “Cũng có một cái dịp dùng cái quyền quân chủ rất tốt, như nước Nhật, nước Xiêm, khi nước Âu châu mới qua thì dân còn khờ khạo không biết gì, thế mà nhờ trên có ông vua anh hùng, dưới có các quan tài trí đem đường chỉ lối cho dân tấn tới lại càng mau. Vậy thì cũng là một sự hay…”. Thế thì sở dĩ Phan công kích vua nhà Nguyễn, chỉ vì vua nhà Nguyễn thối nát. Chứ nếu vua nhà Nguyễn được như vua Nhật, vua Xiêm, thì Phan Chu Trinh cũng vui lòng đóng vai một ông “quan tài trí” thôi. Không phải Phan Chu Trinh đã đi đến chủ trương đánh đổ chế độ quân chủ.

Chủ trương dân chủ của Phan Chu Trinh cũng chưa đến mức độ của hội Việt Nam quang phục của Phan Bội Châu. Phan Chu Trinh có nghiên cứu các tân thư của phái tân học Trung Quốc cuối thế kỷ thứ XIX và các nhà triết học Pháp thế kỷ thứ XVIII, nhưng căn bản lý luận của Phan Chu Trinh vẫn là dựa vào Nho giáo, mà Nho giáo chủ yếu là tôn quân. Để tiếp thu được ý kiến dân chủ tư sản Tây phương, Phan Chu Trinh muốn có sự dung hòa giữa Đông – Tây. Đại để cũng theo như cái thuyết “Trung học vị thể, Tây học vị dụng” (Trung học làm nòng cốt, Tây học làm tác dụng) của một số nhà lý luận Trung Quốc thời Khang, Lương. Trong bức thư gửi Khải Định, Phan có nhắc câu nói của Khổng Tử về vua tốt và vua xấu. Khổng Tử cho rằng một ông vua có thể làm cho nước hưng vượng bằng một câu nói, câu nói ấy là: “Làm vua khó, làm tôi không dễ” và một câu nói có thể làm cho nước suy vong, tức là câu “Ta chả thích gì làm vua, chỉ muốn không ai trái lời ta mà thôi”. Phan cũng nhắc câu nói của ông Mạnh “Dân là quí, rồi đến xã tắc, vua là khinh”. Rồi Phan kết luận: Bệ hạ thử giở các sách Ngũ kinh, Tứ thư mà xem, có câu nói nào làm chứng tôn quân được không?”. Phải chăng Phan Chu Trinh cho rằng Khổng, Mạnh cũng chủ trương quân chủ lập hiến? Thế thì chủ nghĩa dân chủ mà Phan Chu Trinh muốn thực hiện là một thứ dân chủ dung hòa giữa cũ và mới, giữa Đông và Tây, giữa vua và dân, chứ không phải thứ dân chủ giống hệt như của giai cấp tư sản Tây phương mà cuộc cách mạng Pháp tiêu biểu.

Vào thời Phan Chu Trinh, nhân dân ta cũng như nhân dân nhiều nước nhỏ yếu, về nhận thức chính trị còn rất là ấu trĩ, khó mà thấy được hết cái dã tâm của bọn thực dân và sức mạnh của nhân dân mình. Do đó về chủ trương chính trị, mặc dầu là người chân thành, cũng có thể đi sai đường lối. Ngày nay mọi người chúng ta đều có điều kiện để thấy rằng bọn thực dân cướp nước không bao giờ lại muốn thành tâm khai hóa cho nhân dân các nước thuộc địa và một nước bị nạn ngoại xâm mà muốn giành lại độc lập, thì nhất định phải làm cuộc đấu tranh cách mạng, kể cả vũ trang bạo động, mới có thể đi đến thắng lợi, mà thắng lợi đó có thể đến nhanh hay chậm tùy ở các điều kiện chủ quan và khách quan.

Chính sách cải lương là một chính sách lưng chừng, không triệt để, không do tự nhân dân chủ động được mà tùy thuộc vào bọn thống trị, cho nên khi thực hiện thường gặp mắc mứu không thông suốt, không đi đến đâu mà chệch hướng đi là có tác hại. Chủ nghĩa cải lương của Phan Chu Trinh bị phá sản cũng là qui luật không thể tránh được.

Tuy nhiên, về nhân cách của Phan Chu Trinh thì có nhiều điều khả thủ. Sinh vào một nước bị ngoại địch xâm lược, Phan Chu Trinh thành thực muốn cứu nước bằng một cách riêng do ông nghiên cứu mà đề ra. Mặc dầu học giỏi, thi đậu và được bổ làm quan, Phan không muốn nhân thế mà mưu cầu phú quí cho riêng mình; ra hoạt động cứu nước Phan đã phải chịu tù đày mà không sờn lòng; lúc ở Pháp có khi bị nghèo đói phải làm thuê làm mướn sinh nhai, sống cuộc đời gian khổ, chứ không thèm chiều lụy thực dân để kiếm tiền phụ cấp. Trước sức mạnh của thực dân Pháp, trước pháp luật tàn bạo của vua quan Nam triều, Phan cũng không thay đổi chí hướng của mình. Phan Chu Trinh thiệt là có cái thái độ “phú quí bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất” của một người vĩ đại trượng phu. Đất nước còn bị luân vong, nhân dân còn sống dưới ách nô lệ thì Phan cũng suốt đời sống thanh bạch gian khổ, giữ cái chí kiên cường cho đến hơi thở cuối cùng. Vì bị các điều kiện thời đại, giai cấp, hoàn cảnh gia đình và xã hội mà Phan Chu Trinh đã chọn con đường cải lương, cho đó là con đường duy nhất đúng để đem nước nhà đến độc lập phồn vinh; còn đi con đường bạo động thì Phan chỉ thấy chết chóc, tù đầy mà kết cuộc không được lợi ích gì cả, nên Phan khuyên nhân dân tránh con đường ấy. Vì thành thực Phan Chu Trinh tin tưởng như thế nên đã hành động như thế, Phan không dối mình, không dối người.

Được các kinh nghiệm phong phú của hàng trăm năm chiến đấu của các bậc ái quốc tiền bối chúng ta, được sự giáo dục của Đảng của giai cấp công nhân hơn 30 năm nay, chúng ta thấy rõ con đường cải lương nói chung và con đường cải lương của Phan Chu Trinh nói riêng không thể đưa lại lợi ích gì cho quốc gia dân tộc, chúng ta bài kích con đường đó. Nhưng phần tích cực của Phan Chu Trinh luôn luôn đáng được chúng ta khâm phục và học tập.

Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 70, tháng 1-1965, tr.11-18.

Tôn Quang Phiệt
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 437

Ý Kiến bạn đọc


Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Phan Chu Trinh – tư cách con người và chủ trương chính trị

Kỳ 1

Lts: Nhà Cách Mạng Tôn Quang Phiệt (1900-1973), Nguyên Phó Chủ Tịch Kiêm Tổng Thư Ký Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội, Đã Hoạt Động Trong Các Tổ Chức Tân Việt (1927), Đông Dương Cộng Sản Liên Đoàn (1929), Đầu Năm 1930 Bị Bắt Đày Lên Buôn Ma Thuột. Tôn Quang Phiệt Là Người Cùng Thời Với Phan Chu Trinh (Đến 1926) Và Phan Bội Châu (Đến 1940). Thời Gian Ở Huế Ông Thường Gặp Cụ Phan Bội Châu Và Đứng Ra Tổ Chức Tang Lễ Cho Cụ Phan Khi Cụ Mất Vào Năm 1940. Tôn Quang Phiệt Đồng Thời Sáng Tác Nhiều Thi Văn Và Nghiên Cứu Lịch Sử. Ông Là Một Trong Các Thành Viên Sáng Lập Ban Văn – Sử – Địa, Tiền Thân Của Viện Hàn Lâm Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn Bây Giờ. Tôn Quang Phiệt Đặc Biệt Nghiên Cứu Sâu Sự Nghiệp Của Phan Chu Trinh Và Phan Bội Châu. Bằng Thực Tiễn Hoạt Động Cách Mạng Và Chiều Sâu Học Thuật, Ông Là Tiếng Nói Có Thẩm Quyền Về Phan Chu Trinh. Bài Đăng Dưới Đây Trích Từ Tôn Quang Phiệt 1900-1973 Do Nxb Văn Học Ấn Hành, Hà Nội, 2016. Xin Trân Trọng Giới Thiệu Cùng Bạn Đọc.  

Từ năm 1956, tôi đã có bài nói chuyện về Phan Chu Trinh trong dịp kỷ niệm ngày từ trần của Phan. Bài nói chuyện của tôi được in vào tập sách nhỏ Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh do Ban nghiên cứu Văn Sử Địa xuất bản. Sau đó được một vài bạn góp ý kiến về quyển sách này trong tập san Nghiên cứu Văn Sử Địa và tôi cũng đã có dịp phát biểu thêm ý kiến của mình.

Nay tạp chí Nghiên cứu lịch sử lại đặt vấn đề thảo luận về nhân vật Phan Chu Trinh, tôi rất mừng lại có một cơ hội nữa để nói ra những ý kiến của tôi về Phan Chu Trinh một cách có hệ thống hơn.

Tôi xin nói ra nhận định của tôi về Phan Chu Trinh trên hai mặt: một là tư cách con người của Phan Chu Trinh, hai là chủ trương chính trị của Phan Chu Trinh.

1. Tư cách con người của phan chu trinh

Muốn nhận rõ tư cách con người của Phan Chu Trinh như thế nào, chúng ta cần phải nghiên cứu lịch sử của Phan Chu Trinh, xem Phan đã có chí hướng như thế nào, đã hành động như thế nào và đã kết thúc cuộc đời như thế nào. (Gác một đoạn dài nói về thân thế, gia đình và những hoạt động của Phan Chu Trinh – Tạp chí N.C.L.S).

Theo các người đồng thời với Phan Chu Trinh như Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Đức Kế nói lại, thì Phan Chu Trinh là người rất cương trực nên ai giao thiệp với ông cũng đều kính trọng mà e sợ. Mỗi lúc có việc gì bọn quan cai trị Pháp gọi Phan đến nói chuyện, nếu chúng tỏ vẻ kiêu ngạo không mời Phan ngồi thì nhất định Phan cự tuyệt không thèm trả lời các câu hỏi của chúng. Bọn này phải mời ngồi ghế đường hoàng, Phan mới chịu nói chuyện với chúng. Trước mặt các quan lại Nam triều, Phan luôn luôn mắng chửi vào cái thối nát của chúng. Cho đến các bạn hữu đồng lứa trong nước, ai có làm việc gì bất chính thì thường tránh không dám gặp Phan, vì gặp thì chắc là bị mắng vào mặt. Thế thì cái cá tính của Phan Chu Trinh cũng có chỗ khác người.

Xét cả quá trình lịch sử và tính tình đạo đức của Phan Chu Trinh, ta thấy Phan là một người thành thực yêu nước và muốn giúp ích cho nước, nghĩa là muốn đuổi bọn cướp nước là thực dân Pháp, đánh đổ quan lại của chế độ thối nát Nam triều, thành lập một nước Việt Nam độc lập dân chủ, giàu mạnh, trong thì nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân, ngoài thì đủ sức mạnh để chống lại bất kể nước ngoại xâm nào. Để thực hiện mục đích của mình, Phan Chu Trinh đã bỏ con đường phú quý bản thân, công kích chế độ hiện thời, không sợ gì tù tội cả. Khi bị đày ra Côn Đảo, bị lưu vong ở nước ngoài, Phan cứ khư khư giữ cái chí hướng của mình không thay đổi. Lúc trở về nước tuổi đã già sức đã yếu, Phan cũng vẫn cố gắng truyền bá tư tưởng yêu nước của mình cho lớp thanh niên.

Bia-sach-Ton-Quang-Phiet-1900-1973---Quyen-1

Về mặt này, nhân dân ta sùng bái Phan Chu Trinh là hoàn toàn đúng.

Tuy nhiên, hoạt động chính trị là một vấn đề phức tạp. Thành thực yêu nước và muốn giúp nước là một chuyện, nhưng có phương pháp đúng đắn để cứu nước cho có kết quả lại là chuyện khác. Do đó cái chủ trương chính trị là điều rất quan trọng làm tiêu chuẩn cho chúng ta phê phán các nhân vật lịch sử.

2. Chủ trương chính trị của phan chu trinh

Từ khi nước ta bị Pháp xâm lược và cuộc kháng chiến của triều đình nhà Nguyễn dần dần bị thu hẹp rồi chấm dứt bằng các bản hòa ước 1862, 1874, 1884, thì những người yêu nước chúng ta chống lại triều đình, tiếp tục đánh Pháp, trước hết là dưới sự lãnh đạo của các phần tử phong kiến kháng chiến đã phân hóa với bọn phong kiến đầu hàng. Mặc dù phạm vi rộng hẹp, qui mô to nhỏ có khác nhau, chủ trương đường lối về chi tiết cũng có chỗ không giống nhau, nhưng nói chung, các cuộc nổi dậy đều là dùng võ lực đánh lại giặc xâm lược để mưu độc lập cho dân tộc. Trương Định (1862-1864), Nguyễn Trung Trực (1861-1868), Nguyễn Hữu Huân tức Thủ khoa Huân (1868) ở Nam kỳ; cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy của Nguyễn Thiện Thuật (1885-1909) ở Bắc kỳ; cuộc văn thân nổi dậy ở Nghệ Tĩnh (1874), cuộc khởi nghĩa Cần Vương của Phan Đình Phùng (1885-1896), Đinh Công Tráng ở Trung kỳ… đều là dùng võ trang mà đánh lại quân địch. Mặc dầu các cuộc nổi dậy đã kế tiếp bị dìm trong vũng máu, nhiều chiến sĩ đã hi sinh, nhưng kẻ trước ngã xuống, người sau đứng lên, ai cũng cho rằng “không đem máu rửa máu thì không cải tạo được xã hội” như Phan Bội Châu đã dẫn trong bài tựa của quyển Phan Bội Châu niên biểu. Cho đến phong trào Phan Bội Châu bắt đầu từ đầu thế kỷ này đồng thời với lúc Phan Chu Trinh hoạt động. Các nhà hoạt động lúc này dần dần có xu hướng tư sản chứ không thuần túy phong kiến như trước nữa. Trong cuộc đấu tranh chống Pháp về thời Phan Bội Châu, người ta đã dùng khá nhiều lời nói và văn thơ để tuyên truyền tinh thần yêu nước ghét thù, chứ không phải chỉ dùng vũ lực mà thôi. Tuy vậy, “thiệt chiến” (đánh bằng lưỡi) và “bút chiến” (đánh bằng bút) chính cũng là phục vụ cho “thiết chiến” (đánh bằng sắt); cho nên vũ trang bạo động vẫn là chính.

Tại sao Phan Chu Trinh là một người yêu nước, muốn nước được độc lập, không đi con đường ấy mà lại muốn tìm con đường khác, con đường cải lương? Muốn trả lời câu hỏi này, chúng ta cần đặt nhiều vấn đề ra thảo luận:

a) Trước hết, chủ trương cải lương của Phan Chu Trinh như thế nào? Phan Chu Trinh cho rằng trình độ nhân dân ta còn thấp quá, chưa có thể làm dân một nước độc lập được. Sau khi đi tham quan Nhật Bản, Phan Chu Trinh đã nói với Phan Bội Châu: “trình độ quốc dân người ta như thế ấy, trình độ quốc dân mình như thế kia, không làm nô lệ sao được?”(1) và Phan Chu Trinh khuyên Phan Bội Châu “không cần hô hào đánh Pháp, chỉ nên đề xướng dân quyền; dân đã giác ngộ được quyền lợi của mình, bấy giờ mới có thể dần dần mưu tính việc khác”(2). Trong ý nghĩ của Phan Chu Trinh, Nhật Bản là một nước mới tiến lên từ mấy năm mà trình độ nhân dân đã cao như thế, huống chi thực dân Pháp, nhân dân châu Âu thì chắc vượt ta lại xa hơn nữa; ta làm sao bị Pháp chiếm mà giành độc lập ngay được! Thực ra trong lúc đi diễn thuyết chỗ này chỗ khác, khuyên sĩ phu bỏ cách học cử tử cũ mà theo cách học mới của Tây phương, trong lúc khuyên các người có tiền hùn nhau lại thành lập các cơ sở kinh doanh nông nghiệp, công, thương nghiệp, Phan Chu Trinh chính đã muốn thực hiện chương trình khai dân trí, xướng dân quyền của mình; dân đã khôn ngoan tiến bộ về mọi mặt, đã biết dùng quyền của mình thì mới có thể độc lập được. Tuy nhiên, cứ lấy tư cách một người thân sĩ chân không mà hô hào cải lương thì làm sao mà được toàn dân hưởng ứng, toàn dân thực hiện được; mà toàn dân không hưởng ứng, không thực hiện, thì cải lương với ai? Do đó cuộc cải lương phải làm từ chính phủ, làm từ trên xuống dưới như kiểu hiến pháp duy tân của Nhật Bản. Nhưng chính phủ Nam triều là một chính phủ thối nát, gồm một bọn người ngu dốt mà lại không có quyền hành gì; cho nên phải chính phủ Bảo hộ Pháp mới thực hiện chủ trương cải lương được. Do đó mà Phan Chu Trinh đã gửi thư cho Toàn quyền Bô. Trong bức thư này Phan Chu Trinh trình bày nỗi cực khổ, lạc hậu của nhân dân Việt Nam và quy trách nhiệm cho quan lại Việt Nam và chính phủ Bảo hộ theo ba nguyên nhân sau đây:

“Một là, nhà nước Bảo hộ dung dưỡng quan lại An Nam để gây thành tệ lậu. Hai là, việc chính phủ Bảo hộ xem khinh dân An Nam, gây thành cái tệ cách biệt. Ba là, quan lại An Nam nhân sự ly gián đã gây thành cái tệ ngược dân”. Sau khi đã trình bày với một giọng gay gắt tình trạng nghèo đói lạc hậu của nhân dân và tính cách tồi tệ xấu xa của quan lại và trách nhiệm của chính phủ Bảo hộ, Phan Chu Trinh kết thúc: “quan lớn Bảo hộ mà quả có tấm lòng thành thật khoản đãi người nước Nam, tất cũng lượng xét lòng tôi, nhận lời nói của tôi, cho tôi được đến trước thềm, thong dong hỏi han, khiến có thể thổ lộ gan ruột, trình bày lợi hại, ngõ hầu quốc dân có được cái hy vọng khởi tử hồi sinh, đó là cái may cho nước Nam, là nguyện vọng của tôi vậy…”. Trình bày như thế, Phan Chu Trinh muốn đi đến đâu? Theo Ngô Đức Kế kể lại thì ý Phan Chu Trinh là muốn chính phủ Bảo hộ làm một cuộc cải cách triệt để về bộ máy nhà nước, bỏ bọn quan lại Nam triều hủ bại và thay thế vào đó những người tiến bộ theo tân học, cố nhiên những người đó phải là hạng người có học thức tư tưởng như Phan Chu Trinh. Còn vua thì thế nào? Bài của Phan Chu Trinh không động gì đến vua cả. Nhưng chắc rằng Phan muốn có một chế độ quân chủ lập hiến do một ông vua không quyền đứng đầu. Nắm được bộ máy chính quyền rồi thì lúc đó dưới sự bảo hộ của Pháp, chính phủ mới sẽ xúc tiến những việc cải cách về kinh tế, văn hóa, xã hội, nâng cao trình độ vật chất và tinh thần của nhân dân. Lúc dân đã giàu, đã mạnh, đã khôn và biết dùng quyền của mình thì sẽ tính đến việc đấu tranh giành độc lập, thoát khỏi ách đô hộ của Pháp, đó là việc sau, chứ nay Phan chưa nghĩ đến.

Viết xong thư ấy Phan Chu Trinh chờ chính phủ Bảo hộ suy nghĩ và “tỉnh ngộ”. Nếu chúng “tỉnh ngộ” mà gọi Phan đến bàn công việc nhà nước thì Phan sẽ sẵn sàng đến ngay. Không may cho Phan là ít lâu nữa Phan sẽ bị đưa đi đày ở nhà ngục Côn Đảo, chứ không phải được mời đến “trước thềm” của quan Bảo hộ để được “thong dong hỏi han”.

b) Vì sao Phan Chu Trinh lại có chủ trương cải lương như thế? Sở dĩ Phan Chu Trinh muốn dùng chính sách cải lương để cứu nước ra khỏi tình cảnh nô lệ, lạc hậu, không phải là do một đêm nằm nghĩ ra. Xu hướng này sinh ra là do nguồn gốc giai cấp của Phan Chu Trinh, do hoàn cảnh gia đình và xã hội của Phan Chu Trinh, do cách nhận xét tình hình của Phan Chu Trinh và hơn nữa do ảnh hưởng của thời đại mà Phan Chu Trinh sống.

Dưới thời nhà Nguyễn, nền kinh tế nước ta là một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, công nghiệp hầu như không có, thương nghiệp quan trọng thì ở trong tay Hoa kiều. Những nhà giàu bổn xứ chủ yếu là bóc lột tô tức, bóc lột sức lao động của người nghèo; các nhà buôn có vài chiếc mành vượt bể vào Nam ra Bắc đã cho là to lắm. Tức lúc Pháp sang đô hộ, dần dần có những nhà thầu khoán làm được nhiều tiền, những nhà buôn cất hàng nhập cảng, mua hàng xuất cảng thu được những món lời lớn. Các bọn làm giàu ấy mầm mống của giai cấp tư sản sau này có khi thì dính liền hẳn với quyền lợi của bọn thực dân, có khi thì kinh doanh độc lập mà quyền lợi có va chạm với thực dân. Hạng người này muốn có một ít cải cách để họ có thể kinh doanh bình đẳng với người Pháp, không bị người Pháp chèn ép. Lớp người này càng ngày càng phát triển và hình thành ra giai cấp tư sản dân tộc. Họ muốn được yên ổn để làm ăn thuận lợi, mở mang kinh doanh. Họ sợ có sự xáo trộn xã hội của một cuộc cách mạng, nhưng họ cũng chống Pháp vì người Pháp có thể chèn ép họ trên con đường kinh doanh công, thương nghiệp. Phan Chu Trinh là người đại diện cho tầng lớp này. Phan Chu Trinh là một người tinh thông Nho học nằm trong hệ thống phong kiến; nhưng nguồn gốc Phan Chu Trinh không giống hẳn như Phan Bội Châu. Phan Bội Châu xuất thân từ một gia đình Nho học thuần túy, cha ông không làm chức tước gì của triều đình, nghiệp nhà vẫn giữ thuần phong mỹ tục đã mấy đời người, không bao giờ đi chệch hướng của đạo Khổng, luôn luôn lấy đạo nghĩa làm lẽ sống, không ham chuộng những thứ lợi vật chất.

Ở xứ Nghệ từ khi Pháp xâm lược, các cuộc võ trang khởi nghĩa kế tiếp nổi lên, nhắc nhở cho mọi người cái nhiệm vụ diệt thù cứu nước. Tất cả những sự việc đó đã vạch ra cho Phan Bội Châu con đường cứu nước là con đường phải quyết liệt, một còn một mất với kẻ thù. Còn Phan Chu Trinh thì cha là quan võ nhỏ, mẹ là con nhà quan có học. Cha Phan Chu Trinh lại bị tình nghi oan mà bị quân Cần Vương giết. Theo những người đương thời biết chuyện, thì Phan Chu Trinh mỗi khi nói đến việc này vẫn cho là vô lý mà lấy làm bực mình. Ở tỉnh Quảng Nam, hoạt động tư sản bắt đầu tương đối sớm hơn các tỉnh khác. Thương cảng Đà Nẵng có tàu buôn ngoại quốc đi lại khá nhiều; thành phố Fai-fô là nơi mà các người ngoại quốc đến buôn bán sớm. Việc đó tạo điều kiện cho nền tư sản bổn xứ phát triển sớm hơn các nơi khác. Cuộc vận động Cần Vương ở Quảng Nam lại rất kém. Các thân sĩ nổi dậy chưa được bao lâu thì nội bộ mất đoàn kết, nghi kị lẫn nhau, chả bao lâu bị thực dân dẹp tan. Sự việc này không khuyến khích cho nhân dân tiếp tục cuộc vũ trang bạo động. Đó là tấm gương thất bại của chủ trương bạo động mà Phan Chu Trinh trực tiếp trông thấy xung quanh mình. Phan Chu Trinh lại có thể đem tầm con mắt của mình mà nhìn xa đến tình hình cả nước từ khi Pháp sang xâm lược. Khi Pháp mới gây cuộc chiến tranh, triều đình nhà Nguyễn cũng có một lực lượng võ trang để chống lại, lực lượng của cả nước khá lớn do triều đình tự do sử dụng. Thế mà không địch lại quân đội Pháp có khí giới tối tân hơn, có kỹ thuật tác chiến cao hơn. Nhiều cuộc thất bại của quân ta rất là thảm hại; có khi một tên tướng Pháp với vài ba chục quân mà có thể đánh chiếm luôn mấy tỉnh. Thế thì quả là về quân sự, thực dân Pháp quá mạnh mà quân lực ta không sao chống nổi được. Vua Hàm Nghi xuất bôn, hầu hết cả nước nổi dậy hưởng ứng, dùng vũ lực để chống kẻ thù. Chẳng bao lâu các cuộc nổi dậy kế tiếp bị tan, hàng ngàn hàng vạn người bị chết. Cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy của Nguyễn Thiện Thuật, cuộc kháng chiến Ba Đình của Đinh Công Tráng, cuộc khởi nghĩa Hương Sơn của Phan Đình Phùng… tuy có giết được ít nhiều quân đội thực dân, nhưng kết cục đều bị tiêu diệt cả. Phan Chu Trinh lại đi tìm hiểu cuộc đánh Pháp hiện tại của Hoàng Hoa Thám ở Yên Thế, thì thấy cũng không có tương lai. Số quân lính không có bao nhiêu mà lại nhiều anh nghiện ngập; sản xuất nông nghiệp thì lạc hậu không thể tự túc được mà phải bắt dân đóng góp nhiều, trình độ hiểu biết của quân đội cũng như nhân dân lại quá thấp chưa đủ làm việc lớn được. Mà thực dân thì dùng chính sách đàn áp rất dã man. Hễ có một cuộc vũ trang nổi dậy là chúng bắt bớ tù đày, chém giết không biết bao nhiêu mà kể. Có lúc chỉ vì một vụ chống đối nhỏ mà thực dân cho đốt cả làng, gặp ai giết nấy, không cần xét xử, gây ra tổn thất rất lớn. “Không bạo động, bạo động là chết”, Phan Chu Trinh lấy câu đó mà ngăn đe mọi người. Thế thì có thể nhờ sức một nước ngoài giúp đỡ đánh tan Pháp được không? Câu hỏi này cũng dễ trả lời thôi. Lúc đánh với Pháp, triều đình nhà Nguyễn đã cầu viện binh nhà Mãn Thanh là nước mà ta vẫn triều cống. Nhà Thanh cũng đã đưa quân khá nhiều sang giúp đỡ ta và đã đánh với quân Pháp nhiều trận, có thua có được. Nhưng về sau Pháp đã tiến công đất nước Trung Quốc, gây áp lực với nhà Mãn Thanh và kết quả Pháp và Trung Hoa đã ký trên lưng chúng ta bản hòa ước bất bình đẳng Thiên Tân, thừa nhận quyền bảo hộ của Pháp ở nước ta. Vả lại đem quân sang ta, nhà Thanh lại có âm mưu là nếu thắng thì sẽ chiếm giữ Bắc kỳ, chứ không phải muốn cho nước ta độc lập. Còn nói gì Nhật Bản, xưa nay chưa có quan hệ tốt với ta, sao họ lại chịu giúp công không cho ta? “Không trông ngoài, trông ngoài là ngu”, Phan Chu Trinh quả quyết như thế.

Thế thì làm thế nào để cứu nước? Phan Chu Trinh thấy có thể đi con đường cải lương. Phan lấy thí dụ ở Nhật Bản. Trước thời Minh Trị Duy Tân (1868) nghĩa là vào khoảng Pháp chiếm Nam kỳ của ta, tình trạng Nhật không khác Trung Hoa mấy. Các nước tư bản phương Tây cũng đưa hạm đội đến bắt Nhật phải mở cửa cho vào và ký những điều ước bất bình đẳng. Nhưng vì nhiều nguyên nhân, Nhật có điều kiện thuận lợi để làm cuộc “duy tân” nên đã thoát khỏi xiềng xích các nước Tây phương mà tự mình lại bước được lên tư bản chủ nghĩa rồi cùng Âu, Mỹ chia xẻ Trung Quốc nữa. Từ Minh Trị về sau, Nhật áp dụng phương thức sản sinh mới, tổ chức công nghiệp cơ khí có kế hoạch, dần dần tư bản hóa bọn phong kiến địa chủ và các nhà buôn.

Cuộc cải cách từ trên xuống dưới thực hiện trong 30 năm làm cho Nhật Bản từ một nước phong kiến lạc hậu nhảy lên một nước tư bản rồi đế quốc. Các nước châu Á lúc đó đều hâm mộ Nhật Bản và muốn theo con đường Nhật Bản để đưa nước mình đến phú cường. Sao nước ta không làm được như Nhật? Nhưng muốn thế phải có một ông vua giỏi, một chính phủ giỏi. Đó là điều ta không có. Cứ để bọn quan lại Nam triều ngồi ì ra đó thì không làm được gì cả. Cần phải bẩy chúng nó đi và thay vào đó một lớp người nhiệt tâm với con đường duy tân. Làm thế nào mà hạ chúng nó? Phan Chu Trinh muốn làm những việc mà Khang Hữu Vi và Lương Khải Siêu đã làm ở Trung Quốc.

Gửi thư cho Toàn quyền Bô đả kích quan lại Nam triều một cách tàn tệ, nói cho Bô biết trong nước vẫn có những kẻ có lương tâm và hiểu biết tình hình, ý Phan Chu Trinh muốn chính phủ Bảo hộ bỏ cái bộ máy cai trị Nam triều đi, đưa hạng người có đạo đức, có học thức vào thay thế, để thực hiện một cuộc cải cách về mọi mặt từ trên xuống dưới. Việc Phan Chu Trinh gửi thư cho Bô cũng tương tự như Khang Hữu Vi dâng thư cho Quang Tự. Chỉ khác một điều là Khang Hữu Vi đã dâng thư 7 lần muốn gạt quyền lực của Từ Hi Thái Hậu và bè lũ thủ cựu của nhà Mãn Thanh mà nâng cao địa vị của Quang Tự với phái duy tân để thực hiện cải cách trong nước. Còn Phan Chu Trinh thì mới gửi một bức thư muốn dựa vào Pháp mà đánh đổ bọn quan lại hủ nát Nam triều, giao quyền cho lớp sĩ phu tiến bộ để trông coi việc nước. Khác một điều nữa là cuộc “Mậu Tuất chính biến” được thực hiện trong một trăm ngày, phái cải lương đã tham chính và muốn lật đổ phe cánh Từ Hi thái hậu, nên “6 quân tử” bị rơi đầu, vua Quang Tự mất ngôi và Khang, Lương phải trốn đi ngoại quốc. Còn bức thư của Phan Chu Trinh thì chỉ được đăng vào báo Pháp, được một số người Pháp tán thành và về sau tuy Phan Chu Trinh bị bắt về vụ “xin xâu” nhưng được cánh Pháp này bênh vực xin tha và được đi lưu trú ở Pháp. Cái tác dụng bức thư Phan Chu Trinh chỉ có một mình Phan Chu Trinh ký tên đã không có kết quả bằng bức thư của Khang Hữu Vi thu thập được hơn 1.000 chữ ký. Đó là vì cái tương quan giữa Phan Chu Trinh với chính phủ Bảo hộ và chính phủ Nam triều với cái tương quan giữa Khang Hữu Vi với Từ Hi Thái Hậu và Quang Tự. Từ Hi Thái Hậu có thể nhường quyền cai trị cho Quang Tự là con nuôi của bà nếu Quang Tự không phạm đến quyền lực của bà. Còn Pháp thì không thể nghe lời Phan Chu Trinh là người muốn mưu lợi ích cho nhân dân Việt Nam mà gạt bọn Nam triều là bọn tay sai đắc lực của chúng ra được; vì Pháp xâm chiếm nước Việt Nam là vì quyền lợi của chúng, chứ đâu phải vì quyền lợi của nhân dân Việt Nam.

Còn tiếp một kỳ

Tôn Quang Phiệt
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 436

________________

1, 2. Phan Bội Châu niên biểu.

Ý Kiến bạn đọc