Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Phan Bội Châu Với dải đất phương nam

Phan Bội Châu ra đời tại quê mẹ là thôn Sa Nam, làng Đông Liệt, tổng Đồng Xuân (nay thuộc xã Nam Thái). Khi Phan lên 3 thì bố mẹ dời nhà riêng của họ về quê nội là làng Đan Nhiễm, tổng Xuân Liễu (nay là xã Nam Hòa). Cả hai xã đó cùng thuộc huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Chi họ này đã mấy đời, cho đến lúc ấy cũng vẫn chỉ có San là trai, tục gọi là độc đinh. Theo phong tục địa phương, những người con như Phan đáng ra phải luôn ở nhà, lo việc hương khói phụng thờ tổ tiên (ngoài việc đi làm quan). Nhưng hoàn cảnh của Phan, mẹ mất sớm, qua thời gian đi học, đi dạy để nuôi cha và các em, Phan nổi tiếng là hay chữ nhưng đã lận đận vô cùng trong thi cử. Ấy là do vì Phan, phần thì thường thiếu cẩn trọng đối với trường quy, phần thì lo làm bài giúp bạn. Vả, Phan luôn luôn lo nghĩ đến cách làm sao mà đuổi được người Tây để cho dân mình khỏi khổ nhục vì mất nước. Bởi thế, từ buổi thiếu niên Phan đã viết những lời kêu gọi bạn bè, dân chúng đứng lên chống sự xâm lược của người Pháp như bài “Bình Tây thâu Bắc” (1883), “Song Tuất lục” (1886), cũng như đã từng rủ các bạn thiếu niên trong vùng lập đội Thí sinh quân nhằm để chống lại giặc Pháp (1885). Rồi mẹ mất, cha thêm già yếu, Phan phải vừa học vừa dạy các lớp trẻ để lấy chút ít sự thù lao của họ mà giúp gia đình. Đến khoa thi Hương năm Đinh Dậu (1903), Phan vẫn hỏng, nên đã tự giải tỏa bằng những chuyến đi ra Bắc rồi vào Kinh kỳ, cũng là nhằm thăm dò tình hình đất nước, để liên kết nhân tâm.

Tại Huế, qua việc tiếp xúc với các vị trọng thần, các nhà khoa bảng có tâm huyết, nhất là việc thử sức bằng bài phú “Bái thạch vi huynh” (tại giảng đường Quốc tử giám), với câu văn thần: “Tam sinh điền hải chi tư, vị vong tương bá; Nhất phiến bổ thiên chi lực hựu thị phùng quân” của mình, Phan đã thu phục được cảm tình của nhiều người.

Hoàng giáp Nguyễn Thượng Hiền đã bình về tác phẩm đó của Phan:

“Khâm hoài lỗi lạc đến như ông
Dời non lấp bể chí bình nhật
Sức bút tuôn ra như cầu vồng
Trời ngiêng đất ngả dạ không đổi”.

Rồi qua việc bàn luận về văn chương, danh tính, vị Hoàng giáp họ Nguyễn nói vui với Phan bằng cách dẫn một câu trong sách “Trung dung”: “Thành trung nga my nữ, châu bội hà san san, thư đồng văn, xa đồng quỹ”. Nghĩa là: “Trong thành có cô gái mày ngài, mang chiếc đai mà nơi đó nổi lên những hạt ngọc; sách thì cùng văn tự mà các cỗ xe thì cùng một lối đi”. Phan thấy buổi trò chuyện như nhắc nhở mình một điều gì và nhận ra là đã đến khoa thi Canh Tý (1900), rồi ngẫm nghĩ đến mấy chữ “châu bội hà san san” nên về Nghệ, Phan đổi tên là Bội Châu, lại ứng thí, đỗ Giải nguyên và quan Chủ khảo kỳ thi ấy là Khiếu Năng Tĩnh cho treo riêng một bảng, đề là “Hương khoa Nghệ An khảo trường Đệ nhất danh”. Tuy vậy, chuyện đỗ đạt của Phan như thế là muộn mằn nên khi đó vị Giải nguyên tân khoa đã làm câu đối tự mừng: “Bất như ý thường bát cửu sự, sầu sinh liêm ngoại tây phong; hỗn thiết xuy ư tam bách nhân, quý tử môn tiền Nam Quách” (Không như ý thường tám chín việc, ngoài rèm căm tức ngọn gió tây; Thổi sáo lẫn trong ba trăm người, trước cửa thẹn thùng chàng Nam Quách)(1). Chuyện học tài thi phận rồi khoa cao nhưng chưa chắc đã được bước vào hoạn lộ, ấy là điều Phan đã từng nếm trải. Vả, thực tâm, ông cũng không phải cốt học để làm quan. Nhưng đạt được học vị Giải nguyên thì như Phan nói trong “Niên biểu”(2): “Thế là tôi đã nhờ cái hư danh đó để che mắt đời. Tháng 9 năm đó, cha tôi bị bệnh rồi mất, gánh gia đình đã được nhẹ nhàng, lúc ấy tôi rảnh tay để hoạt động cách mạng”.

Phan-Boi-Chau---Anh-1
Phan Bội Châu (1867-1940)

Năm Quý Mão (1903), Phan lại vào Kinh kỳ, xin học ở Trường Quốc tử giám mà thực ra là để tiện liên kết với các bạn đồng tâm, nhằm lo việc nước. Từ đó, Phan vào đất Quảng mà điểm dừng chân quan trọng là nhà ông Nguyễn Thành, tự là Tiểu La, ở huyện Thăng Bình.

Đất Quảng là quê hương của Hoàng Diệu, người đã từng làm Tổng đốc Nghệ An (hồi Pháp đánh Bắc kỳ lần thứ hai, trước khi ra Bắc giữ Hà Nội và đã tử tiết sau khi kinh thành mất vào tay giặc, 1882). Đất Quảng cũng là nơi sinh các nhà yêu nước hoạt động đồng thời với Phan như Trần Quý Cáp, Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng… Và đấy cũng là quê hương của các vị đại khoa, trọng thần có tâm huyết mà Phan từng được tiếp kiến. Đối với Nguyễn Thành, về sau Phan viết trong sách “Niên biểu” rằng: “Tuy trước khi tôi xuất dương 3 năm mới được gặp ông Tiểu La để bàn tính công việc mà nói về tinh thần thì hai người như đã quen nhau hơn 10 năm rồi”. Để lập tổ chức lo việc lớn thì phải hiểu biết nhiều được bao nhiêu hay bấy nhiêu về các vùng đất, các miền dân cư của Tổ quốc mình, Phan nghĩ vậy, lại được mấy người khác khuyến khích, nhất là ông Nguyễn Hàm lo cho giấy thông hành, tiền lộ phí và cử một người bạn là Tư Doãn cùng đi, để họ hôm sớm có nhau.

Sau khi rời Sài Gòn, Chợ Lớn (lúc đó gọi là Bình Giêng), Phan đi vào tận miền Bảy Núi, nơi Tổ quốc mình tiếp giáp với đất bạn Cao Miên (nay gọi là Campuchia). Vùng ấy cũng như ngọn Sam ở Châu Đốc và ngọn Bà Đen, đấy là những núi non hiếm hoi của miền Tây Nam bộ. Đoạn, Phan trở ra. Đến Mỹ Tho rồi cứ mé Tây của đất Nam kỳ đi tiếp, lên Mỹ An (nay thuộc Đồng Tháp), nơi hai dòng Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây cùng đổ vào sông Tiền. Phan nhìn mãi một khu đất nổi, trên có tòa tháp tuy đã đổ nát nhưng lữ khách còn có thể hình dung là nó cao nhiều tầng, vốn gọi là gò Tháp Mười. Tên gò cũng là tên một vùng ruộng đất mênh mông, nên vùng đất lúa tưởng như không có bờ bến ấy được mang tên là Đồng Tháp Mười. Cũng nhờ phương tiện của những con người sĩ khí, hào phóng của vùng đồng bằng sông Cửu Long mà Phan được ghé nhà thờ của cụ Đồ Chiểu, ngôi sao tiêu biểu của bầu trời thi ca Nam bộ hồi thế kỷ XIX. Và tại miệt vườn của bậc thi nhân lỗi lạc vùng đất Bến Tre hồi ấy, khi nghe người con gái của ngài là nữ sĩ với tên hiệu Sương Nguyện Ánh đọc lại mấy vần thơ của thân phụ bà làm điếu Phan Tòng, người anh hùng chống Pháp hy sinh ở Giồng Gạch:

“Tinh thần hai chữ phau sương tuyết
Khí phách ngàn thu rỡ núi non.
Ngẫm chuyện ngựa Hồ chim Việt cũ,
Lòng đây tưởng đấy mất như còn”

Thì Phan mãi ngẫm nghĩ: “Ngựa Hồ, chim Việt ”, ý trong thuật ngữ “Việt điểu sào nam chi”, tức con chim Việt làm tổ ở cành Nam mà tự đặt tên hiệu cho mình là “Sào Nam”. Từ đó, ông có hiệu “Sào Nam tử ”, rồi dân Nghệ quen gọi tên vị Đầu xứ nổi danh của đất mình ấy là Phan Sào Nam. Về sau, ở trang bìa của sách “Ngục trung thư”, ông cũng đề tên tác giả là “Sào Nam tử Phan Bội Châu”.

Phan nhớ, theo sách “Bạch thiệp” thì trên núi Dẫn Lĩnh xưa có một thứ cây mai mà khi hoa ở trên cành phía bắc rụng thì hoa ở cành phía nam lại nở. Nên người ta nói: “Nam chi hướng noãn bắc chi hàn, nhất chủng xuân phong hữu lưỡng bản”. Nghĩa là: “Cành nam hướng về nơi ấm, cành bắc lạnh, cũng gió xuân thổi lại mà gây ra hai hiện tượng khác nhau”. Rồi Phan liên tưởng, nước mình cũng gồm hai miền khí hậu hơi có dị biệt mà mức độ ôn, nhiệt có phần bổ sung cho nhau, rồi nghĩ thêm, phải chăng câu thơ của cụ Đồ Chiểu đã nhắc nhở phường hậu bối phải luôn luôn chú ý đến phương Nam, vùng đất hứa của Tổ quốc thân yêu. Và rồi đến năm 1908, đồng bào Nam bộ đã hưởng ứng công cuộc Đông du của Phan Bội Châu bằng cách giúp tài chính và gửi đông con em sang học tại các trường võ bị, văn hóa ở Nhật, để rồi về giúp vào việc nước.

Phan trở ra. Dặm dài của Trung và Nam kỳ như vậy đã giúp thêm sự giàu có ở vốn hiểu biết về đất nước, nhân quần trong con người Phan.

Ấy là năm Nhâm Thìn (1904), đã sang mùa nắng, từng đàn hồng nhạn lại thiên di về cõi Bắc, Phan vội ra Huế, đưa Cường Để trở vào trại Nam Thịnh, lập hội Duy Tân. Rồi hội cử Phan Đông du sang Nhật.

Ngày 20 tháng Giêng năm Ất Tỵ (22-3-1905), Hải Phòng, thành phố cửa bể miền Bắc của Tổ quốc tiễn vị Giải nguyên đất Nghệ 38 tuổi sục sôi nhiệt huyết, ra đi. Con người ấy mang trong mình một niềm tin mãnh liệt:

“Ư bách niên trung ưng hữu ngã
Khởi thiên tải hậu cánh vô thùy”
(Trong quãng trăm năm đành có tớ
Ngàn xuân sau nữa há không ai)

Với một sự hăm hở:

“Nguyện trục trường phong Đông hải khứ
Thiên trùng bạch lãng nhất tề phi”
(Muốn vượt bể Đông theo cánh gió
Muôn trùng sóng bạc thảy cùng bay)

Và mang hoài bão “Đạp toang hai cánh càn khôn”.

Phan Bội Châu không kết thúc quãng đời hàn vi của mình bằng bước công danh, vinh hiển nơi quyền quý mà lại xông vào con đường mạo hiểm, truân chuyên để nhằm cứu nguy cho đất nước và mong giải phóng dân tộc.

10-11-2017

Chu Trọng Huyến
(TP. Vinh, tỉnh Nghệ An)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 483

_________
(1), (2): Lời dịch câu thơ của Tùy Viên cũng như với đôi câu đối và những đoạn trích ngắn được dẫn ở trên đều lấy từ sách “Phan Bội Châu niên biểu” (nguyên văn chữ Hán), bản dịch của Phạm Trọng Điềm và Tôn Quang Phiệt, NXB Văn Sử Địa, Hà Nội, 1957.

Ý Kiến bạn đọc