Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Phản biện phải có lý

Thật ra, nói về sự “đổi mới” của ông Trần Đình Sử “trên đường biên của lý luận văn học” phải nói về sự phản biện đối với “phản ánh luận” trong văn học. Đó mới là cái “gốc” của nhiều chuyện “đổi mới” khác.

Chuyện phản biện các lý thuyết này khác là chuyện bình thường, cần khuyến khích trong mọi lĩnh vực hoạt động xã hội, không riêng gì trong học thuật. Tuy nhiên, phản biện phải có lý. Nói theo lôgích học là phải “chứng minh” được sự đúng đắn của mình khi bác bỏ một luận điểm nào đó.

Phản biện phản ánh luận mà nói như ông nào đó là “Nếu mà bây giờ vẫn nói khái niệm “phản ánh” chẳng hạn, thì vẫn bị vướng víu vào những định đề cũ, khi đó văn học vẫn chỉ được hiểu là công cụ”. Không biết ông ấy sẽ chứng minh thế nào nhưng người ta có thể không thấy sự phản biện đó có lý. Chính luận điểm đó cần phản biện! Văn học không là “công cụ” thì nó là gì? Nó phải được dùng vì mục đích nào đó của con người, trước hết là người sáng tác các tác phẩm văn học chứ! Với sự phản biện của ông Trần cũng vậy. Cần phải xem xét cái “có lý” trong lời phản biện của ông.

Trước tiên, từ chỗ xem lại “lịch sử vấn đề” về chuyện phản ánh trong văn học, ông đi đến chỗ nêu luận điểm phản biện của mình: “Giá trị của thuyết phản ánh là khẳng định hiện thực cuộc sống là cội nguồn của ý thức và văn học nghệ thuật (…) Tuy nhiên coi phản ánh luận là nền tảng duy nhất của sáng tạo văn nghệ thì không đúng.”

Và ông bắt đầu “chứng minh”. Đầu tiên ông xác lập vị trí của phản ánh trong hoạt động sáng tạo nghệ thuật, bởi sáng tạo nghệ thuật có nhiều bình diện. Ông dựa vào luận thuyết của nhà lý luận văn học Mỹ M. H. Abrams trong sách Gương và đèn – lý luận chủ nghĩa lãng mạn và sự phê bình truyền thong (xuất bản 1953). Ông này, theo lời thuật của ông Trần, đã nhắc đến mô hình quan hệ văn học với thế giới (hiện thực), tác giả, người đọc, từ các quan hệ đó có thể phân chia ra bốn khuynh hướng lý luận chung. Tác phẩm với thế giới: thuyết bắt chước, sau này là phản ánh; tác phẩm với người đọc: thuyết giáo huấn, sau này là tiếp nhận; tác phẩm với tác giả: thuyết biểu hiện; tác phẩm với chính nó: thuyết khách quan, sau này là cấu trúc, ký hiệu, ngôn ngữ. Dựa vào một lý thuyết gia Tây đó rồi, ông kết luận “Trong số bon bình diện đó phản ánh chỉ lý giải văn nghệ từ một bình diện nhận thức, chứ không phải toàn bộ hoạt động văn nghệ như trước đây lầm tưởng. Còn ba bình diện nữa không thể giải thích bằng phản ánh.” Đáng tiếc là khi chỉ ra sự phiến diện của phản ánh luận – thực ra là sự chỉ “coi phản ánh luận là nền tảng duy nhất của sáng tạo văn nghệ”- ông đã không thận trọng khi dùng luận cứ. Ý của ông Tây này đâu có gì ghê gớm nếu không nói mấy mối quan hệ này không xa lạ gì với những người trong giới lý luận phê bình từ cả nhiều thế kỷ. Việc ông dùng ý ông Tây này như một luận cứ còn kém thuyết phục ở chỗ khác. Sao lại có thể bóc tách các “bình diện” kiểu ấy ở một sáng tác văn học một cách “cơ học” như thế được? Sao có thể chứng minh rằng nói đến phản ánh ở tác phẩm văn học là “phiến diện”! Thực ra cũng như một lời giao tiếp, một tác phẩm văn học thực hiện các chức năng “phản ánh”,  “biểu hiện”, “giáo huấn” và các chức năng khác trong sự hợp nhất của nó chứ! Phản ánh là để biểu hiện, để giáo huấn… nặng nhẹ, nhiều ít là tùy mục đích, tùy chiến lược giao tiếp của chủ thể sáng tạo, đâu có tách bạch máy móc như ông hiểu! Dù cũng đã biết đến những lần ông viết những điều không hiểu rõ về chính những vấn đề ông giảng dạy, chúng tôi vẫn ngạc nhiên trước cách hiểu và cách lập luận của ông Trần với việc phản biện này. Một người giảng dạy lý luận văn học mấy chục năm mà không hiểu sự liên kết, phục vụ nhau, tôn vinh nhau của các thành phần chức năng như thế ở một tác phẩm văn học mang tính “chỉnh thể”!

Đọc tiếp các lý lẽ bác bỏ trong bài của ông Trần chúng tôi lại gặp một cách làm khá quen thuộc của ông khi ông chứng minh, giảng giải những luận điểm khoa học của mình. Ông tung ra rất nhiều những kiến thức từ các đại gia Đông Tây kim cổ nhiều khi chỉ để làm lạc hướng người theo dõi lập luận của ông.

Như cái chuyện ông nói đến những đổi thay trong lý luận nhận thức thế kỷ XX để xem lại lý thuyết phản ánh. Ông đưa ra bốn lý thuyết quan trọng về nhận thức luận. Nào là thuyết cơ học lượng tử. Nào là lý thuyết khoa học thần kinh tri nhận. Nào là lý thuyết kiến tạo. Rồi lý thuyết ngôn ngữ – ký hiệu. Mà lý thuyết nào cũng đầy tên các đại gia lạ hoắc như Fran Crick, Theodor Hobbes, David Hume, Piaget… và các khái niệm ít khi được nghe tên kiểu “sơ cấu” (scheme), “hoàn hình” (gestalt ), “phàm lệ”… Đọc mới có ba cái lý thuyết đã thấy choáng ngợp những kiến thức uyên bác thừa thãi. Trong khi những người bình thường ngày nay có thể không biết đến cơ học lượng tử vẫn biết được rằng không có những thiết bị liên lạc hay nghe nhìn thì ta không nhận thức nổi sự tồn tại những sóng truyền thanh, truyền hình! Cũng không cần biết sâu lắm về “khoa học thần kinh tri nhận” người ta vẫn biết được “đại não không phản ánh theo lối sao chép” mà chế biến, lưu giữ và cả cải biến nữa các thông tin nó thu nhận. Sự “tràn vào lĩnh vực nhận thức” của các tri thức ngày càng phát triển thực ra càng làm cho nhận thức luận tiến lên miễn là con người vận dụng nó không bảo thủ. Điều đó đâu có thể làm mất giá hay “phủ định bản thân sự phản ánh hoặc phản ánh luận”. Sự phô trương những kiến thức bao la bát ngát kiểu này cơ hồ giống như người lớn hay chỉ trỏ lung tung mọi thứ cho đứa trẻ đang đòi theo mẹ để nó quên cái mục đích của nó. Ông dẫn người đọc đi xa như thế thì nhiều khi không có kiến thức đa ngành hay thần kinh không vững người đọc sẽ mất tập trung, dễ bị “dắt mũi”, nhầm tưởng rằng lý thuyết phản ánh trực quan (tức “phản ánh luận”?) đã bị đánh một đòn chí mạng, chết tốt! Hơn nữa trong những dẫn chứng triền miên trong bài của ông, ta thấy cái đúng hiển nhiên kiểu “sự thật La Palice” nằm lẫn với những ý còn phải suy xét thêm. khiến người đọc dễ bị… tù mù! Xin đọc vài câu:

Văn học phản ánh hiện thực là phản ánh các hiện tượng mang nghĩa của hiện thực, chứ không phải phản ánh hình ảnh hiện thực hay “sự thật hiện thực”.

Văn học không giản đơn phản ánh các ký hiệu của hiện thực, sáng tạo những cái biểu đạt, mà còn phản ánh các ý nghĩa sâu xa, phong phú của hiện thực mà thực tiễn phơi bày ra cho con người.

Nhà lý luận Pháp R. Barthes khẳng định: “Không có ngôn ngữ thì không có hiện thực.” (Khoái lạc của văn bản), con người phải thông qua ngôn ngữ mới vào được hiện thực, mà bản thân hiện thực cũng do ngôn ngữ kiến tạo, từ đó chủ nghĩa cấu trúc khẳng định: văn học không phản ánh hiện thực, mà kiến tạo hiện thực.

Trong Bút ký triết học, ông (Lênin) đã có khi đổi lập phản ánh với sáng tạo khi viết “Ý thức con người không phải chỉ phản ánh thế giới khách quan, mà còn tạo ra thế giới khách quan”, như thế trong khi nói đúng về bản chất của ý thức thì khái niệm phản ánh ở đây theo ông không bao hàm sáng tạo, nghĩa là có thể biểu diễn bằng công thức: ý thức = phản ánh

+ sáng tạo, đảo ngược là, phản ánh = ý thức – (trừ đi) sáng tạo. 

Ngoài chiêu dân người đọc sa vào những thứ kiến thức bao la để họ dễ bị hoang mang “tù mù”, ông còn tài dựng ra lý luận “giả” của đối phương để “hạ gục” họ. Ông gán cho Lênin cái lỗi “Xem cảm giác là hình ảnh (oõpa3, image) sao chép của sự vật khách quan” để có dịp đem kiến thức tâm lý về cảm giác ra khoe và ra sức chứng minh rằng như thế “là một quan niệm không chính xác” rồi cao giọng về những điều gần như ai cũng hiểu như ông về cơ bản tuy không thật chấp nhận cách diễn đạt có thể “có sạn” của ông “Vì thế, tuy vẫn cần thừa nhận phản ánh là cội nguồn của văn học, nhưng nó phải quan tâm tới ngôn ngữ, xem ngôn ngữ là bản chất của văn học, văn học không làm nhiệm vụ sao chụp hiện thực mà là kiến tạo bức tranh về thế giới”.

Cũng nên dân thêm một dân chứng về cách làm kiểu ấy. Đó là đoạn sau đây: Một thời gian dài nhiều người trong chúng ta chỉ bám vào một số câu chữ thiếu chính xác (?) của Lênin mà hình thành một quan niệm máy móc, giản đơn về phản ánh, coi đó là lý luận duy nhất đúng về nhận thức, là lý luận về ý thức xã hội, đem vận dụng vào lĩnh vực nghệ thuật, xem nghệ thuật là sự phản ánh copy đời sống xã hội, gây rất nhiều ngộ nhận và tranh cãi. Một trong những ngộ nhận đó là coi đối tượng của ký là các sự thật, coi đối tượng của tiểu thuyết lịch sử là sự thật lịch sử, mà không thấy trong ký cũng như trong tiểu thuyết lịch sử, sự thật là một loại ngôn ngữ đặc trưng của thể loại dùng để tạo sức thuyết phục cho người đọc. Còn nội dung của các loại văn học đó là các ý nghĩa, các thông điệp của nhà văn Một lý luận như thế tất nhiên chưa tạo đủ cơ sở khoa học để giải quyết những vấn đề phức tạp như phản ánh trong văn học và nghệ thuật 

Cuối cùng, không thể không nói đến cái yêu cầu trong chuyện phản biện này của ông Trần. Xin đọc đoạn kết trong bài của ông:

Toàn bộ những gì nêu trên cho thấy, phản ánh luận với tư cách là lý luận nhận thức đã chỉ ra được cội nguồn hiện thực của văn học, là một trong nhiều lý thuyết nhận thức và do đó có ý nghĩa trong một phạm vi nhất định đối với lý thuyết nghệ thuật. Tuy nhiên nó vốn có rất nhiều hạn chế và ngộ nhận mà chúng ta đã thể nghiệm nhiều năm qua thực tiễn nhận thức và sáng tạo, mà chủ yếu là không giải thích được cơ chế kiến tạo ý thức của con người bằng ngôn ngữ. Ngày nay trong bối cảnh nhiều lý thuyết ngữ học ký hiệu học phát triển, chúng ta không nên coi đó là lý thuyết duy nhất để giải thích về nghệ thuật. Muốn trở về với chủ nghĩa Mác thì nên coi trọng ý thức luận của Karl Marx với nội dung kiến tạo và đặt nó trong bối cảnh liên hệ sâu sắc của các khoa học nhân văn hiện đại.

Có nhiều điều có thể nói về đoạn văn này. Nhưng như chúng tôi nhấn mạnh hai chỗ trong đoạn để lưu ý cái đích đòi “đổi mới” với việc phản ánh hiện thực. Đó cũng là cái ông dặn học trò trong buổi hội thảo về cuốn sách của ông. Đối với nhiều người chúng ta, kiến tạo là một thuật ngữ mới và nghĩa của nó cũng chưa được ai giảng cho rõ ràng. Đọc cả đoạn dài trong bài này nói về thuyết kiến tạo cũng không thấy ông Trần giảng về khái niệm này. Nghe nói có ông còn bảo cái chữ cấu trúc trong “chủ nghĩa cấu trúc” phải dịch là “kiến tạo”! Thôi thì bằng lòng với cái nghĩa đại khái là “xây dựng, tạo lập ra”! Và như thế ta hiểu cái đích ông đòi là văn học “kiến tạo” hiện thực! Đòi hỏi đó có lý do như thế nào? Ông Trần trước đó có đoạn viết thế này: “Chẳng những thế, mà bản thân hiện thực cũng do ngôn ngữ kiến tạo. Dĩ nhiên, đó là cái hiện thực mà con người đã nắm được. (…) Nhà lý luận Pháp R. Barthes khẳng định: “Không có ngôn ngữ thì không có hiện thực.” (Khoái lạc của văn bản), con người phải thông qua ngôn ngữ mới vào được hiện thực, mà bản thân hiện thực cũng do ngôn ngữ kiến tạo, từ đó chủ nghĩa cấu trúc khẳng định: văn học không phản ánh hiện thực, mà kiến tạo hiện thực”.

Đọc đoạn này, dù là dẫn lời của một ông Tây viện sĩ uyên bác như có lần ông Trần nói về ông ấy, chúng tôi vẫn thấy… không đúng. Ông viện sĩ ấy có thể uyên bác nhưng câu nói và lý luận của ông ở đoạn này thì sai. Sai rõ trong thực tế. Hiện thực thiên nhiên, xã hội, lòng người là hiện thực khách quan, sao lại do “ngôn ngữ kiến tạo”? Chỉ cần có kiến thức tâm lý học sơ giản cũng có thể chỉ ra căn cứ khoa học để chứng minh cái sai đó. Trước các sự vật, con người vận dụng bộ não của mình để nhận thức. Ở giai đoạn cảm tính, người ta dùng các cơ quan cảm giác, tri giác để có được hình ảnh của sự vật; hình ảnh này gọi là biểu tượng lưu giữ trong bộ não, lúc cần não tái hiện lại. Tiến sang giai đoạn lý tính, não người sẽ vận dụng các thao tác trí tuệ như so sánh, phân tích, để hình thành khái niệm; sau đo não tiến hành phán đoán, suy lý để hoàn chỉnh hiểu biết của mình về sự vật. Ở cả hai giai đoạn nhận thức đó, ngôn ngữ tham gia để củng cố các kết quả hoạt động của bộ não. Như vậy không thể nói như ông viện sĩ nọ. Phải nói rằng “ngôn ngữ củng cố nhận thức về sự vật, hiện thực’”. Nếu dùng chữ kiến tạo thì cũng chỉ là dùng theo một nghĩa chuyển nào đó mà thôi. Không hiểu sao một GS TS. NGND như ông Trần mà cũng dễ tin vào cái luận điểm kiểu đó như thế? Có thể đây là một kiểu “mèo trắng mèo đen không quan trọng, miễn là nó giúp ta bắt chuột”!

Về sự đòi hỏi nhà văn phải hiểu và thực hiện “phản ánh là kiến tạo” thì chúng tôi thấy khác. Chúng tôi thấy mấy ông nhà văn không khổ công tìm hiểu hiện thực để hiểu rõ, hiểu sâu về nó mà cứ “kiến tạo” nó theo những cái “khả nhiên” tưởng tượng ra thì làm sao “phản ánh các ý nghĩa sâu xa, phong phú của hiện thực mà thực tiễn phơi bày ra cho con người” như chính ông Trần yêu cầu trong đoạn trước đó?! Thiển nghĩ sự phản ánh của nhà văn có thể xuất phát từ những lập trường xã hội, thẩm mỹ khác nhau, với những phong cách khác nhau nhưng đều cần đáp ứng yêu cầu góp vào cuộc đấu tranh cho cái Chân, cái Thiện, cái Mỹ, vì lợi ích thật sự của cộng đồng. Đó mới là điều đòi hỏi nhà văn. Và đó cũng là cái đích mà lý luận văn học cần hướng tới. 

GHI CHÚ

(1)        Và nếu đúng là ông ấy cho rằng quan hệ “tác phẩm với người đọc”: dẫn đến thuyết giáo huấn, sau này là tiếp nhận, thì ông ấy đã hỉểu không đúng. Giáo huấn là hoạt động của người viết, còn tiếp nhận lại là hoạt động của người đọc! Tiếp nhận làm sao lại là một “bình diện” của sáng tạo tác phẩm được!

(2)        Chúng tôi đã chỉ ra những lầm lẫn của ông về văn nghị luận khi ông hướng dẫn giáo viên “dạy Làm văn lớp 12″ Hai bài viết đã in ở tạp chí Dạy và học ngày nay số 6/2011 và 8/2011. In lại trong Môn Văn trong nhà trường phổ thông (NXB Dân Trí và Thaihabook 2012 ) 

(3)        Thành ngữ tiếng Pháp chỉ một “sự thật” đúng đến mức hài hước. Nó bắt nguồn từ câu nói của anh lính về cái chết của ông tướng La Palice như sau: “Một khắc trước khi chết ngài vẫn còn sống”

(4)        Cách suy luận của ông Trần thật “đặc biệt”! Người ta tách “phản ánh” và “sáng tạo” là để phân biệt hai thứ với sự nhấn mạnh cần thiết. Ông lại đòi cấp cho hai khái niệm một quan hệ bao hàm theo một cách trình bày khác! Câu của Lênin cũng không nói “Ý thức” bao gồm hai thứ đó để ông làm phép cộng phép trừ!

(5)        Chúng tôi nhấn mạnh câu này để lưu ý đến cái “sự thật La Palice” trong câu. Có điều ông Trần lại quên nguyên lý tổ chức nội dung – hình thức một tác phẩm theo thi pháp học để chuyển tải cái “thông điệp” – “nội dung cốt lõi” trong văn học! Ký không “coi đối tượng của ký là các sự thật (người thật việc thật)” thì phải coi cái gì là chất liệu để dựng bức tranh cuộc sống nhằm thể hiện cái “nội dung” mà ông nói?

LÊ XUÂN MẬU
(Q. Ba Đình – Hà Nội)


 

 

Ý Kiến bạn đọc