Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Phạm Quỳnh không phải học phiệt

Ông Phan Toàn trên Xưa & Nay số 478 tháng 12/2016 có bài “Phan Khôi và câu chuyện học phiệt” của cụ Chương Dân (Phan Khôi) hồi năm 1930 kết tội học phiệt cho Phạm Quỳnh và liên hệ với tình hình học thuật hiện nay, cho rằng Luận văn của một nhà giáo có khuynh hướng thoát ra ngoài khuôn khổ chính thống là nạn nhân của nạn học phiệt cũng như Nhân văn – Giai phẩm và Cách mạng văn hóa (của Mao). Đây là một đề tài thú vị và đang có tính thời sự nên chúng tôi muốn trao đổi với ông Phan Toàn theo đúng tinh thần của Phan tiên sinh: “Mà đã không cãi cọ (trao đổi, tranh luận – tiếng miền Trung, nhất là Quảng Nam: Quảng Nam hay cãi… (N.C.Đ) thì không nảy sinh chơn lý, không có ánh sáng của chơn lý thì học giới tối tăm…” (Xưa & Nay, số đã dẫn, trg. 21).

Thứ nhất, phải cảm ơn Phan tiên sinh đã vận dụng từ quân phiệt bên Tàu mà sanh ra được từ học phiệt. Lại đem ra mà phân tích đời sống học thuật rất xác đáng: Đó là thói “Kiêu căng của mấy ông học phiệt” họ “ôm lấy cái độc quyền dư luận, trở ngại sự tấn bộ của học giới nước ta. Ai nói họ không thèm nói với, tức là có ý để một mình họ nói thôi, thế chẳng phải ôm lấy độc quyền dư luận là gì?” (Báo đã dẫn, trg. 21). Đây là tình trạng vẫn đang xảy ra trong học giới ở ta hiện nay.

So-491--Pham-Quynh---Anh-3
Phạm Quỳnh (1893-1945).

Thứ hai, Phan tiên sinh “kết tội” cho Phạm Quỳnh là học phiệt căn cứ vào sự im lặng của Phạm Quỳnh sau bài “Luận cùng chánh học và tà thuyết” của cụ Ngô Đức Kế năm 1924, công kích sự tán dương quá mức Truyện Kiều với ý đồ xấu (tà thuyết). Bài của cụ Ngô nói đến một anh văn sỹ kiến thức còn “lốp lép” đứng ra xướng xuất cuộc tôn vinh Truyện Kiều, nào là quốc hoa, quốc hồn, quốc túy. Cứ theo cái đà đó thì nước Việt Nam này có ngày sẽ thành ra “Kim Vân Kiều quốc”. Viết thế thì bạn đọc hiểu nhà văn sỹ lốp lép đang xướng lên tà thuyết là ai rồi. Đến bài “Cảnh cáo các nhà học phiệt” thì Phan tiên sinh chỉ đích danh đó là Phạm Quỳnh: “Tôi chẳng nói gần nói xa chi hết, tôi nói ngay rằng hạng học phiệt ấy ở nước ta chẳng bao lăm người, mà Phạm Quỳnh tiên sinh là một. Thử xách ra một việc. Chắc chắn nhiều độc giả còn nhớ chuyện Ngô Đức Kế tiên sinh công kích sự đề xướng Truyện Kiều hồi mấy năm trước nên đã viết một bài trong Tạp chí Hữu Thanh (tức là bài Luận cùng chánh học tà thuyết – chú của P.T) lấy đại thể mà nói, thì cách công kích như vậy là chính đáng. Vả lại nó là vấn đề lớn… dầu phải dầu chăng, cũng không thể nào bỏ qua đặng. Vậy mà bên Phạm Quỳnh tiên sinh nín lặng, chẳng thèm nói đi nói lại nửa lời” (Bđd, trg. 20).

Tôi khâm phục Phan Khôi tiên sinh đã nói thật nói thẳng vấn đề: Bài của Ngô Đức Kế tiên sinh là chính đáng là vấn đề lớn và Phạm Quỳnh tiên sinh đã nín lặng, chẳng thèm nói đi nói lại nửa lời.

Đến đây kẻ hậu sinh muốn thưa với Cố tiên sinh Phan Khôi: Cụ đã kết án oan cho Phạm Quỳnh tiên sinh.

Chúng tôi cho rằng Phạm Quỳnh tiên sinh thừa biết chánh học và tà thuyết là vấn đề lớn, quan hệ đến vận mệnh quốc gia, như sau này Cụ Huỳnh Thúc Kháng đã khẳng định. Sự biện luận của Ngô Đức Kế tiên sinh “… Nghĩa lý thì quang minh chính đại, thật là một bài quan hệ trong học giới rất to tát, mà về lời biện bác thì lời nghiêm nghĩa chánh, có một cái mãnh lực như sét phang trước trán, nước xối sau lưng, khiến cho ai đọc đến cũng tỉnh giấc hôn mê”. Độc giả thử xem một bài biện luận xác đáng rạch ròi như vậy, sao lại gọi là câu chuyện cá nhân quyền lợi mà không quan hệ đến học vấn tư tưởng?

Về thân nhân Ngô Đức Kế tiên sinh, Cụ Huỳnh Thúc Kháng cũng nêu ngắn gọn nhưng đanh chắc, cung kính: Ông Ngô Đức Kế là một người tài học trổ từ lúc thiếu niên, nếu như ông có ý thờ cái chủ nghĩa vinh thân phì gia mượn lối văn chương để tiện đường mua giầu chác tiếng như ai, thì trong đám người đời mà lên mặt sang trọng thông thái ấy, ông làm đến đâu cũng thừa ra. Thế mà hi sinh cả thảy, chỉ ôm một lòng lo việc chung cho đất nước, trọn đời đày đọa mà cứ khăng khăng một mực cho đến ngày đậy nắp hòm… (Tiếng Dân – số 317).

Về giá trị của bài Luận cùng chánh học và tà thuyết, Cụ Huỳnh xem như “… cột đá giữa dòng sông lở, ngọn đuốc trong khoảng đêm trường, có công với thế đạo nhân tâm không phải là ít. Vì cái mãnh lực của ông đủ kéo được biết bao kẻ sa hầm sụp hố kia”.

(Tiếng Dân – số 317. Ngày 17-9-1930)

Thực tế là Phạm Quỳnh tiên sinh đuối lí, không thể nói lại, không dám nói lại với Cụ Ngô Đức Kế khi Cụ còn sống. Không phải Phạm Quỳnh học phiệt trong trường hợp này. Có thể nói ý đồ tôn vinh Truyện Kiều của Phạm Quỳnh dù có người Pháp đứng sau, đã bị nhà chí sĩ đập cho tan tành. Điều này càng thấy rõ, khi đáp lại bài của Phan Khôi tiên sinh, Phạm Quỳnh đã không cầu thị, không đứng đắn về tư cách học thuật, đã xuyên tạc bài viết của cụ Ngô Đức Kế, cho đó là chuyện hiềm khích cá nhân, hàng thịt nguýt hàng cá, không quan hệ gì đến tư tưởng, đến học vấn… khiến Cụ Huỳnh Thúc Kháng phải lên tiếng vạch trần cái “học phiệt giả” của Phạm Quỳnh. Chúng tôi đồng tình với Phan Khôi tiên sinh là có tình trạng học phiệt trong học giới. Phạm Quỳnh cũng là một nhà học phiệt nhưng ở chỗ khác, không phải ở chuyện “nín lặng” trước bài viết của Cụ Ngô Đức Kế. Đọc Thượng Chi văn tập, Tiểu luận bằng tiếng Pháp 1922-1932, Hoa Đường tùy bút… thì Phạm Quỳnh tỏ ra rất học phiệt, “thanh gươm trăm rèn nghìn đúc” kia mà!

So-491--Pham-Quynh---Anh-2
Thẻ căn cước của Phạm Quỳnh (nguồn: Motthegioi.vn).

Có thể nói Phạm Quỳnh là một nhà học phiệt trong vụ tôn vinh Truyện Kiều năm 1924 đã bị Cụ Ngô Đức Kế phê phán rất xác đáng. Phạm Quỳnh đã biết điều, chịu nín lặng không dám nói lại với một bậc chí sĩ đã có cái lịch sử “mười năm ở tù Côn Đảo”, tuy đây là cái mẹo “tẩu vi”, đã bị Cụ Huỳnh Thúc Kháng vạch trần.

Chuyện Phạm Quỳnh có phải học phiệt hay không trong vụ tôn vinh Truyện Kiều thực ra không đáng nhắc lại. Bởi vì nó quá rõ, quá dễ hiểu như đã nói trên.

Nhưng ông Phan Toàn liên hệ với đời sống học thuật gần đây và hiện nay, cho các sự kiện Nhân văn – Giai phẩm, Luận văn của một nhà giáo theo tinh thần phi chính thống đều là nạn nhân của nạn học phiệt là điều không đúng nên chúng tôi cần phải trao đổi lại.

Ông Phạm Toàn dẫn ra nhiều tự điển có mục từ học phiệt. Cái đó rất cần. Nhưng cần hơn là phải xem xét bản chất của sự việc. Nếu cứ sách in mõ tre theo tự điển thì dễ nhầm lẫn hình thức bên ngoài với nội dung bên trong.

Chúng tôi nghĩ học phiệt thì nó phiệt ở chỗ học, sự học. Cũng như quân phiệt là cái phiệt ở đám quân sự, như các phái quân phiệt bên Tàu mà Phan Khôi tiên sinh đã dẫn. Nếu đám quân phiệt phải có cái thực lực vũ lực của nó thì nhà học phiệt trước hết phải có cái học lực, cái sự nghiệp học thuật được học giới tôn vinh. Rồi từ vị thế đó mà áp chế hay lũng đoạn học giới. Tập hợp, lôi kéo, khuyến dụ, nâng đỡ những người đồng thanh khí và đè nén, bài bác, xuyên tạc, hạ thấp những người có tư tưởng học thuật bất đồng. Do đó cần phải thấy rõ quan hệ giữa chính trị và học thuật trong các sự kiện văn hóa. Nhà cầm quyền can thiệp vào học giới là thực tế từ thời cổ đại đến nay. Tính chất của mối quan hệ (can thiệp) này ở mỗi thời đại, mỗi thực thể chính trị – lịch sử mỗi khác. Vì thế, chúng tôi nghĩ sự kiện phần thư khanh nho đốt sách, chôn học trò thời nhà Tần bên Tàu không phải là nạn học phiệt mà là đường lối, chính sách, hành động của nhà cầm quyền. Các vụ án “văn tự ngục” bên Tàu hay vụ cha con Nguyễn Văn Thành thời nhà Nguyễn cũng vậy.

Ông Phan Toàn cho Cách mạng văn hóa của Mao là học phiệt là rất sai. Hình thức là đàn áp các nhà học thuật nhưng nội dung không phải học phiệt mà là mưu đồ chính trị của Mao: Diệt trừ các đối thủ chính trị thậm chí những người có khả năng không nhất trí với mình. Lưu Thiếu Kỳ, Hạ Long, Bành Đức Hoài… đâu phải là các nhà khoa học, nhà văn hóa… mà bị giam cầm cho đến chết. Khi Lâm Bưu còn đắc sủng, có câu nói: Ra khơi phải có tay lái vững. Làm cách mạng phải có tư tưởng Mao Trạch Đông. Khi Mao diệt Lâm thì đưa ra câu: Phê Lâm phê Khổng ủng hộ công nông. Cuối cùng thì cha con Lâm Bưu bị chết cháy trên đường chạy trốn. Cách mạng văn hóa của Mao là một đề tài rất lớn. Chúng tôi chỉ muốn nói đến sự thâm độc của Mao: tập hợp, kích động tầng lớp bần cùng nhất, vô sản lưu manh. Số người này đông đảo trong xã hội. Do nhận thức kém, vì có được học đâu, nên được một chút quyền lợi trước mắt là họ ào theo như thác lũ. Các tiểu tướng Hồng vệ binh là một tiêu biểu. Phim Phải sống (của Trương Nghệ Mưu) đã dựng lại rất sinh động, đầy ấn tượng: Nữ tiểu tướng ở đây là một cô gái bị câm. Trước đó, phim Bạch Mao nữ, truyện ký Lôi Phong, rồi Phòng đọc sách của Mao chủ tịch (Vương Minh: Năm mươi năm Đảng Cộng sản Trung Quốc và…), rồi Mao chủ tịch bơi qua sông Dương Tử làm nức lòng nhân dân Trung Quốc… Tư tưởng Mao ảnh hưởng rất tai hại đến CCRĐ ở Việt Nam. Bắt rễ xâu chuỗi vào tầng lớp cố nông (Ba người khác – Tô Hoài)… Mao có ý đồ đưa 500 triệu nông dân Trung Quốc di cư xuống Đông Nam Á… (Trần Đức Thảo: Triết gia Trần Đức Thảo. NXB Đại học Huế – 2016). Cũng nói thêm, câu khẩu hiệu Trí phú địa hào đào tận gốc trốc tận rễ (1930) chắc là do ảnh hưởng từ tư tưởng Stalin. Hệ quả và hậu quả của triết học Stalin – Mao Trạch Đông còn kéo dài về sau. Năm 1966, Đội cải tiến Hợp tác xã nông nghiệp về địa phương cũng tổ chức ôn nghèo gợi khổ hâm nóng lập trường giai cấp y như hồi CCRĐ. Người viết bài này lúc đó đang là xã viên, đội viên đội thủy lợi 202, chứng kiến. Sau này xuất hiện câu “Mo cơm quả cà với tấm lòng cộng sản quyết tâm thay trời đổi đất sắp đặt lại giang sơn” (Quỳnh Lưu – Nghệ An), cũng là một hậu quả. Nói thêm như vậy để nhắc với các ông Phan Huy Lê và Dương Trung Quốc rằng cái “khoảng trống cực kỳ nguy hiểm hồi CCRĐ” không đơn giản như các ông hiểu và định lấp bằng theo cách nói của các ông là xong đâu.
Trở lại với ông Phan Toàn. Ông cho rằng Nhân văn – Giai phẩm là một nạn học phiệt. Nhìn bề ngoài có vẻ như thế. Nhưng đây thực chất là vấn đề chính trị. Trong lúc những bộ não năng động nhất và có trách nhiệm nhất của cách mạng Việt Nam đang phải căng ra tìm con đường giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Phải tập trung toàn lực để thực hiện nhiệm vụ chính trị to lớn đó. Miền Bắc là hậu phương. Hậu phương phải ổn định mới có sức mạnh. Nó như cái bệ phóng tên lửa. Bệ phóng xộc xệch thì có khi tên lửa lại rơi vào Đại bản doanh của mình. Xây dựng miền Bắc, ổn định hậu phương là câu khẩu hiệu rất khái quát. Nhưng bên trong mới là vấn đề quan trọng. Có những vấn đề thuộc bí mật quốc gia, bí mật chiến lược, bí mật quân sự tuyệt mật, cơ quan có trách nhiệm mới biết. Người có trách nhiệm mới biết. Ai làm nấy biết như các ông Mười Hương (Trần Quốc Hương), Vũ Ngọc Nhạ, Phạm Xuân Ẩn, Phạm Ngọc Thảo… Lẽ ra các văn nghệ sĩ trong quân đội phải tự hiểu điều đó. Phải vận dụng bài bắn cơ bản vào tình hình lúc đó. Lại đi theo gương ở Hunggari, ở Ba Lan, rồi thách thức với cả chính quyền (Lê Đạt)… Đòi tự do cho văn nghệ, chính trị đừng can thiệp vào… Trong lúc đồng bào miền Nam đang chịu cảnh đầu rơi máu chảy, ngày ngày “từng viên đạn Mỹ/ Bắn miền Nam nát thịt da xương tủy/ Anh chị em ta ai mất ai còn…” (Tố Hữu), mà các văn nghệ sĩ ở hậu phương lại đòi tự do muốn viết gì thì viết, chính quyền chính trị đừng có can thiệp vào… Vấn đề Nhân văn – Giai phẩm là bài học cho cả hai phía. Chính quyền thì xử lý nghiêm khắc quá, kéo dài quá. Các văn nghệ sĩ thì… nghệ sĩ quá. Nếu uyển chuyển, tin tưởng, không quá nặng vì lập trường giai cấp thì hãy mời anh chị em vào miền Nam, vào tuyến lửa (đương nhiên phải có chọn lọc) để các văn nghệ sĩ tai nghe mắt thấy về tự do và tự do sáng tác. Nếu chưa sáng tạo được giá trị có tầm nhân loại thì hãy đóng góp làm đẹp cho dân cho nước cho công cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà như Nguyễn Tuân (Sông Tuyến), Hoàng Hiệp (Câu hò trên bến Hiền Lương), Hoàng Vân (Quảng Bình quê ta ơi), Đi dọc miền Trung (Phạm Đình Ân), Nguyễn Thi (Người mẹ cầm súng), Lê Anh Xuân (Dáng đứng Việt Nam)… Phạm Tiến Duật nhờ gắn bó với đường 559 mà nên sự nghiệp. Trong nghệ thuật ngôn từ, hình khối cũng nên như nghệ thuật quân sự: Hiểu mình hiểu đời văn chương đắc dụng. Sự này nói nhẹ như lông hồng mà làm khó hơn Ngu Công dời núi. Vì vậy nói sự kiện Nhân văn – Giai phẩm là nạn học phiệt là không đúng, dù vô tình hay vô vô tình!

Ông Phan Toàn viết: Nhưng cái họa “học phiệt” hình như vẫn chưa chịu chấm dứt để rồi xảy ra vụ xử lý một nhà giáo có bản luận văn theo khuynh hướng thoát ra ngoài khuôn khổ chính thống (Xưa & Nay. Bđd, trg. 23). Chúng tôi xin trao đổi với ông mấy điểm sau:

1. Sao ông không theo gương của Phan tiên sinh, nói thẳng đích danh nhà giáo và bản luận văn đó, và đã bị xử lý như thế nào?

Song bạn đọc đều hiểu đó là bản Luận văn Vị trí của kẻ bên lề dưới góc nhìn văn hóa: thực hành thơ của nhóm Mở Miệng của nghiên cứu sinh Đỗ Thị Thoan thực hiện ở Khoa Ngữ văn Đại học Sư phạm Hà Nội. Xin đính chính với ông rằng Đỗ Thị Thoan mới là nhân viên Hợp đồng càng chưa phải là nhà giáo theo đúng nghĩa.

2. Việc xử lí như thế nào chắc ông đã biết. Còn bị xử lí do luận văn có khuynh hướng thoát ra ngoài khuôn khổ chính thống chứng tỏ ông đã không nghiên cứu kỹ hoặc lẩn tránh chức năng và nhiệm vụ đào tạo ở Đại học Sư phạm. Để đơn giản vấn đề, xin ông tham khảo mấy tư liệu sau đây:

a/ Ở vị trí trang trọng nhất phía mặt tiền của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội phía đường Xuân Thủy, có đặt câu nói của Hồ Chủ tịch khi Người đến thăm trường vào năm 1961, đại ý: Phải xây dựng nhà trường không những là trường sư phạm mà còn là nhà trường mô phạm cho cả nước.

b/ Nhân sự kiện cô giáo phải quì trước phụ huynh học sinh ở Long An, nhà giáo cao niên, Thạc sỹ Lê Ngọc Điệp viết:

“Thầy, cô giáo được ví như nhà sư phạm. Sư là ông thầy, còn phạm là cái khung tức là ông thầy giáo dục học sinh trong một cái khung với những nguyên tắc nhất định. Có những việc được làm và không được làm”.

(Tuổi trẻ, số 57/2018 ngày 6-3-2018)

c/ Cố giáo sư Đặng Thanh Lê, trong buổi làm việc ở Khoa Ngữ văn Đại học Sư phạm Hà Nội về Luận văn này, đã hỏi Thầy hướng dẫn và Hội đồng chấm Luận văn: Các vị có dám đem Luận văn này về cho con em mình đọc không? Các vị đã đồng tình im lặng, như là nín lặng, theo cách nói của Phan Khôi tiên sinh.

d/ Tác phẩm Đường cách mạng xuất bản năm 1927 theo chú thích của chính tác giả Luận văn, là bảo vật quốc gia (Xếp hạng của Bộ Văn hóa) nhưng nhóm Mở Miệng đã diễu nhại như thế này: Em ngồi khóc như mưa/ Sao chúng ta không lên giường/ Đào những con mương/ Giữ mãi lời thề xưa…

e/ Nội dung Luận văn này được chuyển thành tiểu luận Những tiếng nói ngầm với bút danh Nhã Thuyên đăng tải trên Da Mau (Da Màu) và nhiều mạng khác nhưng có phải xử lí gì đâu. Điều đó chứng tỏ một tác phẩm của một tác giả khi công bố khác với một Luận văn ở trường Đại học Sư phạm. Vì như ThS. Lê Ngọc Điệp, thì nhà trường sư phạm có nguyên tắc của nó. Khoa Ngữ văn Đại học Sư phạm Hà Nội (và ở đâu cũng vậy) đâu có phải là một góc của chợ Hòa Bình (Chợ Trời – Hà Nội) phải không? Cũng như sách Trên đường biên của lý luận văn học của GS-TS Trần Đình Sử in ở NXB Văn học (2016), được ông Phạm Xuân Nguyên trao giải thưởng của Hội Nhà văn Hà Nội. Đó là tự do ngôn luận. Nhưng các học trò của tác giả Trần Đình Sử có dám đem vào khoa Ngữ văn làm giáo trình chính thức không?

Vì thế, mong ông Phan Toàn hãy theo gương Phan tiên sinh, thấy có thể cãi cọ (trao đổi, tranh luận – lời của cụ Phan Khôi) được điều gì giúp vào việc nảy sinh chơn lí (cũng lời cụ Phan) thì cứ nói thẳng ra, đừng phiếm chỉ lẫn lộn sư phạm với sư hổ mang!
Xin cung kính.

Hà Nội, đầu xuân Mậu Tuất
19-3-2018

Năm Châu Đốc
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 491

——————————

* Bài bắn cơ bản: Các yếu lĩnh của bài bắn cơ bản của bộ binh là: sau khi đã lấy được đường ngắm (ngắm đúng mục tiêu) phải nín thở bóp cò. Cơ thể của xạ thủ phải thật sự ổn định. Cũng như sự ổn định của bệ phóng tên lửa. Và sự ổn định của Hậu phương trong chiến tranh.

Ý Kiến bạn đọc