Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Phải chăng đó là dấu hiệu?

 

Hàng ngày, tôi thường tìm đọc Tuần báo Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh trên báo giấy và cả mạng xã hội. Tôi thấy đây là tờ Báo Văn nghệ rất hay và bổ ích, lại giàu tính Đảng, tính chiến đấu và tính quần chúng, nên được nhiều văn nghệ sĩ và tác giả các nơi trong nước cộng tác. Mới đây, tôi rất phấn khởi được đọc hai bài viết: “Sự thật về “Đuốc sống” Lê Văn Tám” của tác giả Lý Châu Hoàn, in ở số 303, ngày 29/5/2014 và “Không được xúc phạm liệt nữ Võ Thị Sáu” của tác giả Hoàng Phủ Ngọc Phan, in ở số 608, ngày 20/8/2020, cùng trên mục Trao đổi – Nghiên cứu – Lý luận của Tuần báo Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh. Hai bài viết này đã giúp tôi củng cố thêm niềm tin vững chắc, có từ tuổi nhỏ học sinh, đến hôm nay thuộc lớp người xưa nay hiếm.

So-611--Anh-minh-hoa---Phai-chang-do-la-dau-hieu---Anh-1

Một sự kiện khiến tôi phải suy nghĩ, trăn trở bấy lâu nay. Bắt đầu từ ngày 15/9/1988, khi cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới của quân và dân ta chống quân Trung Quốc xâm lược ở tỉnh Hà Tuyên (cũ, nay là tỉnh Hà Giang) đã tạm lắng xuống, lúc đó, tôi tròn 40 tuổi, cấp bậc Thiếu tá, là thương binh hạng 3/4, tỷ lệ thương tật 51%, không còn đảm bảo sức khỏe chỉ huy đơn vị chiến đấu. Cấp trên quyết định điều tôi về phụ trách Ban Khoa học Lịch sử Quân sự (KHLSQS), Bộ Chỉ huy Quân sự (CHQS) tỉnh Hà Tuyên (cũ). Để tham gia công tác nghiên cứu, sưu tầm và biên soạn cuốn sách LSQS tỉnh Hà Tuyên (cũ), giai đoạn 1945 – 1975. Sau đó, tôi được cử đi dự lớp tập huấn chuyên môn nghiệp vụ viết sử sách do Phòng KHLSQS, Quân khu 2 (Tây Bắc), mở tại Km 9, thị xã Yên Bái. Đa số học viên chúng tôi đều là những cán bộ sĩ quan Quân đội trưởng thành từ thực tế chiến đấu, chưa có kinh nghiệm công tác chuyên môn nghiệp vụ mới được giao. Từ các Phòng, Ban của cơ quan Quân khu, Bộ CHQS tỉnh, Sư đoàn, Lữ đoàn, Trung đoàn và huyện, thành, thị đội trong toàn Quân khu 2, được cử đi học. Giảng viên đều là các vị có học hàm, học vị cao, như: Giáo sư, Phó Giáo sư, Tiến sĩ, Phó Tiến sĩ Sử học, của Viện KHLSQS Việt Nam và Viện KHLS Việt Nam. Nội dung chương trình lớp tập huấn rất nhiều nhằm trau dồi cho các học viên chúng tôi có đủ kiến thức cơ bản, từ lý luận chuyên môn nghiệp vụ đến phương pháp sưu tầm, nghiên cứu, biên soạn và xuất bản cuốn sách LSQS địa phương, hoặc đơn vị mình. Hôm đó, chúng tôi được học bài “Những thuộc tính phạm trù lịch sử”. Khi giảng viên (của Viện KHLS Việt Nam, tôi không còn nhớ tên) đang trình bày về tính khách quan, trung thực của người viết Sử, đã nhấn mạnh câu nói đại ý là: – Yêu cầu mỗi người viết Sử phải có đức tính trung thực, khách quan và cả lòng dũng cảm. Để viết đúng sự kiện, sự việc, nhân vật, không gian, thời gian, địa điểm trong mỗi chiến dịch, mỗi trận đánh đã xảy ra. Phải viết cả thắng, thua, ưu, khuyết điểm của ta và của địch. Đặc biệt, không bị chi phối bởi tình cảm, cách suy đoán chủ quan hay lệ thuộc vào yếu tố chính trị và quyền lực hiện hành. Mỗi người viết Sử phải noi theo tấm gương dũng cảm của Nhà Sử học Bảng Nhãn Lê Văn Hưu (1230 – 1322), thời Trần, đã có công lớn biên soạn trọn bộ “Đại Việt Sử ký” đầu tiên của nước ta. Trong đó, Cụ dám cả gan có tới 8 lời phê phán chữ “Lễ” đối với các bậc quân vương mà không sợ mắc tội khi quân, sẽ bị mất đầu. Tiếp đến, giảng viên đã liên hệ và phê phán những người viết Sử của nước ta hiện nay, thường bị chi phối bởi hai yếu tố là chính trị và quyền lực. Nên phải viết Sử theo lối văn tuyên truyền, hư cấu, nhiều sự kiện, sự việc và các nhân vật lịch sử như các anh hùng liệt sỹ: Lê Văn Tám, Võ Thị Sáu, Phan Đình Giót, Bế Văn Đàn, Tô Vĩnh Diện… đã làm cho nhân dân ta tin đó là sự thật, dẫn tới hiểu sai sự kiện lịch sử. Vì trình độ dân trí của nhân dân ta còn thấp, chưa được ánh sáng khoa học kỹ thuật của thời đại văn minh soi sáng. Nhưng các Nhà Sử học phương Tây có trình độ văn minh cao hơn, thì họ không tin vào những điều của sử sách ta đã ghi chép một cách thiếu khách quan, trung thực và phi khoa học đó. Họ đã nói thẳng thắn với giới Sử học chúng tôi đại ý là: – Không thể có một Lê Văn Tám dám tẩm xăng dầu vào mình, rồi lại tự châm lửa đốt cháy mình và chạy vào đốt cháy cả kho xăng dầu của đối phương. Dưới góc độ khoa học kỹ thuật mà xét, họ bảo: Khi ngọn lửa đã bùng cháy quanh mình, thì thần kinh của con người sẽ mất hết tự chủ, không còn lý trí để hành động theo ý định từ trước. Càng không thể có một Võ Thị Sáu, khi bị giặc Pháp dẫn giải ra pháp trường để xử bắn, đã bị bịt hai mắt, đeo dây xích sắt và khóa còng cả hai chân, hai tay mà vẫn bình tĩnh, dũng cảm cất cao lời hát. Dưới góc độ khoa học kỹ thuật mà xét, họ bảo: Tâm lý con người ta ai cũng sợ chết. Khi đối diện với cái chết thì thần kinh con người sẽ bị hoảng loạn, biểu hiện ra hành động run sợ, khóc lóc, quỳ lạy, van xin để được tha tội chết. Lại càng không thể có một Tô Vĩnh Diện, có đủ sức khỏe của một con người bình thường, bé nhỏ, để chèn bánh xe khẩu pháo bằng sắt thép vốn nặng hàng tấn, chẳng may đã bị đứt dây kéo, đang đà lăn nhanh xuống đất, mà làm bánh xe ấy dừng lại được. Dưới góc độ khoa học kỹ thuật mà xét thì bánh xe của khẩu pháo khi đang lăn sẽ đè nát qua xương thịt con người, để lao xuống dốc. Vẫn với giọng điệu thao thao bất tuyệt đầy mỉa mai, châm biếm, giễu cợt các anh hùng liệt sỹ cách mạng của chúng ta. Mà thế hệ chúng tôi đã coi đó là những thần tượng, những tấm gương sáng ngời về tấm lòng yêu nước thiết tha và ý chí căm thù giặc sâu sắc, về tinh thần dũng cảm chiến đấu hy sinh, hiến dâng cả cuộc đời thanh xuân tươi đẹp của mình cho độc lập, tự do của Tổ quốc, hạnh phúc, ấm no của nhân dân và tương lai tươi sáng cho con cháu. Bỗng dưng hôm nay các thần tượng đó của chúng tôi bị xúc phạm, bởi một người mang danh Nhà Sử học Việt Nam, đã mượn lời của một Nhà Sử học phương Tây nào đó (?). Chúng tôi cảm thấy như chính mình đang bị giảng viên này xúc phạm danh dự, cho chúng tôi là ngu dốt, đã tin tưởng và noi theo những tấm gương các anh hùng liệt sỹ cách mạng được thêu dệt một cách hoang đường, mà tình nguyện cầm súng lên đường tham gia chiến đấu, phải chấp nhận bao gian khổ, hy sinh vì nước, vì dân. Phải chăng, giờ đây chúng tôi cần phải có quan điểm tư tưởng khách quan, trung thực, góc nhìn khoa học kỹ thuật như người viết Sử phương Tây ấy, để viết Sử sách cho đơn vị mình (?). Chẳng cần ai bảo ai, tất cả học viên chúng tôi đều nóng mặt, muốn cắt ngang lời giảng viên, nên giơ tay xin phát biểu. Chẳng cần nghe thêm lời giảng viên tiếp tục nhận xét về các anh hùng liệt sỹ cách mạng còn lại trong ví dụ đã nêu. Chúng tôi cũng không còn nhớ đến nội quy lớp tập huấn, phải trật tự im lặng, chăm chú lắng nghe và ghi chép đầy đủ nội dung bài giảng, không được cắt ngang lời giảng viên… Một học viên đã đứng phắt dậy, gằn giọng hỏi:

- Chúng tôi đề nghị giảng viên trả lời cho biết, các nhà Sử học Việt Nam đã trả lời nhà Sử học phương Tây ấy như thế nào?

Chắc là đến lúc này, giảng viên mới kịp nhận ra qua lời nói và thái độ của học viên vừa hỏi đã biểu lộ thái độ không bình thường. Chứng tỏ, các học viên chúng tôi là những người có bản lĩnh chính trị vững vàng, lập trường tư tưởng kiên định, nhờ trải qua thời gian dài thử thách trong chiến tranh. Chúng tôi không giống như các sinh viên trẻ tuổi của các trường đại học đã mời họ đến giảng bài, chỉ biết ngoan ngoãn vâng lời thầy giáo. Nên giảng viên lúng túng suy nghĩ một lát và trả lời:

- Theo phép lịch sự ngoại giao, lúc đó chúng tôi xin hoan nghênh và hứa sẽ tiếp thu ý kiến của Nhà Sử học phương Tây để nghiên cứu, xem xét nhằm điều chỉnh, bổ sung cho Công trình biên soạn Bộ sách “Lịch sử Việt Nam” mới, thật hoàn chỉnh. Chúng tôi cũng đã thừa nhận khuyết điểm của những người viết sử sách của nước ta, khác với người viết sử sách phương Tây, ở chỗ chúng tôi viết sử sách để phục vụ nhiệm vụ chính trị, nên nặng về lối viết văn tuyên truyền, thiếu tính khách quan, trung thực và không chú ý đến yếu tố khoa học kỹ thuật.

Học viên nghe xong câu trả lời, liền hỏi tiếp:

- Vậy, tôi xin hỏi giảng viên: Bây giờ chúng tôi trở về để viết cuốn sách LSQS của địa phương, hay đơn vị mình. Nếu không vì mục đích phục vụ nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân địa phương mình, hay đơn vị mình thì phục vụ cho các nhà cầm quyền ở các nước phương Tây hay sao?

Tất cả học viên chúng tôi cùng cười ồ lên và vỗ tay tán thưởng, đồng tình ủng hộ với ý kiến của người đồng đội, đồng chí của mình. Cũng là để tỏ rõ thái độ bất mãn với giảng viên này, khiến đồng chí trực ban lớp tập huấn phải đề nghị cho giải lao, để hội ý, nhằm chấn chỉnh thái độ và ổn định trật tự, tiếp tục học tập. Sau đó, đồng chí cán bộ sỹ quan phụ trách lớp tập huấn đã phát biểu ý kiến chỉ đạo của cấp trên là:

- Tất cả học viên chúng ta đến đây để học tập chuyên môn nghiệp vụ về viết sử sách, nên yêu cầu mọi người phải tuân thủ nội quy và tôn trọng giảng viên. Hãy tiếp thu tất cả các nội dung kiến thức của bài giảng. Để ngày mai trở về vận dụng vào tình hình thực tế của địa phương hoặc đơn vị mình. Quá trình biên soạn cuốn sách LSQS phải tuân theo đúng nguyên tắc: – Đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của cấp ủy, chỉ đạo chặt chẽ, sát sao của chính quyền, hoặc của Chỉ huy đơn vị. Mục đích cao nhất là xuất bản được cuốn sách LSQS để phục vụ nhiệm vụ chính trị của địa phương hoặc đơn vị mình.

Phải giữ đúng nguyên tắc như thế và thực tế trong suốt quá trình tham gia viết các cuốn sử sách, tôi đã tuân theo đúng nguyên tắc như thế, mới hoàn thành được nhiệm vụ của cấp trên giao cho và trở thành hội viên Hội KHLS tỉnh Phú Thọ.

Lúc đó, dù học viên chúng tôi không ai tin vào những lời giảng viên nói, về những ý kiến nhận xét của người viết Sử phương Tây nào đó (?). Nhưng chúng tôi vẫn thấy ấm ức trong lòng, vì các anh hùng liệt sỹ cách mạng của chúng ta hằng được tôn thờ đã bị xúc phạm danh dự một cách trắng trợn, không thương tiếc, có chủ đích xấu. Chúng tôi rất tiếc là mình đã không có đủ điều kiện thời gian, nghiên cứu học hỏi tư liệu, để có đủ kiến thức làm sáng tỏ những ý kiến trái chiều, dẫn tới sự nghi kỵ của người viết Sử phương Tây. Qua đây, tôi thiết nghĩ, phải chăng đó là suy nghĩ của một vài người viết Sử nước ta đã thoái hóa biến chất, dấu hiệu của họ muốn thoát khỏi sự lãnh đạo của Đảng và sự chỉ đạo, quản lý, điều hành của Nhà nước, để tự do viết sử sách theo lối đổi trắng thay đen, bôi nhọ lịch sử dân tộc. Nhằm phụ họa cho chiều hướng suy thoái tư tưởng, đạo đức và lối sống hiện nay, do ảnh hưởng của mặt trái cơ chế thị trường, dẫn tới một số trí thức đã “trở cờ”, chạy theo quan điểm tư tưởng tự do, dân chủ tư sản kiểu phương Tây, đã “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, nằm trong âm mưu “Diễn biến hòa bình”, “Bạo loạn lật đổ” chế độ Việt Nam XHCN, do Đảng ta lãnh đạo, như các thế lực thù địch lâu nay hằng mong đợi.

Nhân dịp này, tôi xin chân thành cảm ơn Tuần báo Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh, cảm ơn hai tác giả Lý Châu Hoàn và Hoàng Phủ Ngọc Phan đã dũng cảm đi tiên phong trên mặt trận Văn hóa – tư tưởng của Đảng ta, có những bài viết thật thông minh và sâu sắc, làm người đọc như tôi phải “Tâm phục, khẩu phục”, đã nâng cao thêm nhận thức về lịch sử cách mạng, để đấu tranh phê phán những quan điểm, tư tưởng sai trái đang phát tán trên mạng xã hội, ít nhiều gây hại về nhận thức tư tưởng cho thế hệ trẻ của đất nước ta. Cái đích sâu xa mà các thế lực thù địch đang nhắm tới, nhằm phá hoại nền tảng tư tưởng truyền thống của Đảng ta, gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân, làm mất ổn định tình hình chính trị và trật tự an toàn xã hội, ảnh hưởng đến sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Bùi Ngọc Quế
(Hội VHNT, Hội KHLS Phú Thọ)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 611

Ý Kiến bạn đọc