Trong nước

PGS – TS – Nhạc sĩ Nguyễn Văn Nam: “Tôi rất trăn trở…”

“Khi bắt tay vào viết quyển sách “Nghệ thuật sáng tác khí nhạc”, tôi rất trăn trở. Vì nền nhạc giao hưởng thính phòng Việt Nam còn son trẻ, tôi không chỉ muốn chia sẻ kinh nghiệm làm nghề với những thế hệ đồng nghiệp sau mà còn muốn chia sẻ với cả người thưởng thức… Ước mơ còn lại của tôi… là quyển sách này chào đời…”.

Đó là những lời tâm sự của Phó Giáo sư – Tiến sĩ, nhạc sĩ Nguyễn Văn Nam về quyển sách “Nghệ thuật sáng tác khí nhạc” mà ông vừa cho phát hành trong tháng 7-2016. Sách gồm có 3 phần. Trong Phần Một có tiểu mục “Lịch sử phát triển khí nhạc”; tiểu mục này có hai chương: Chương I nói về “Lịch sử phát triển khí nhạc thế giới, gồm: Sơ lược; Tóm tắt lịch sử qua từng thời kỳ: Thời kỳ trung cổ (từ năm 400 đến 1400); Thời kỳ phục hưng (từ năm 1400 đến 1600); Thời kỳ tiền cổ điển; Thời kỳ cổ điển (từ năm 1750 đến 1820); Thời kỳ lãng mạn; Thời kỳ đương đại (thế kỷ XX – từ năm 1900 đến 2000); ở Chương II nói về “Lịch sử phát triển khí nhạc Việt Nam”, chia làm hai phần nhỏ: Sơ lược; Nhạc sĩ tiêu biểu.

Nhac-si-Nguyen-van-Nam

Ở Phần Hai nói về các thể loại nhạc, và chia làm 2 chương; chương I gồm có giao hưởng, với: Ouverture; Thơ giao hưởng; Tổ khúc giao hưởng; Concerto; Liên khúc giao hưởng – Symphony; Sự kết hợp nghệ thuật giao hưởng và một số thể loại nghệ thuật khác. Chương II nói về thính phòng, trong đó có các phần: Thính phòng; Tác phẩm viết cho các nhạc cụ; Song tấu, tam tấu, tứ tấu, ngũ tấu… Hòa tấu nhạc cụ dân tộc; Nocturne; Đàn ca tài tử.

Phần Ba của quyển sách “Nghệ thuật sáng tác khí nhạc”, nhạc sĩ Nguyễn Văn Nam nói về kỹ năng và chia làm 5 chương.

Trong Chương I ông nói về chất liệu với: Những điều cơ bản; Năng khiếu; Tư duy ý tưởng; Vốn sống; Khả năng sử dụng một nhạc cụ hoặc nhiều nhạc cụ; Kiến thức âm nhạc; Kiến thức cơ bản; Tính năng nhạc cụ; Viết và đọc tổng phổ.

Trong Chương II ông bàn về chủ đề với các phần: Xác định chủ đề và Phát triển chủ đề.

Trong Chương III ông nói về cấu trúc: Cấu trúc chủ đề; Cấu trúc tác phẩm; Một đoạn đơn; Hai đoạn đơn; Ba đoạn đơn; Ba đoạn phức…; Sonata; Biến tấu; Cấu trúc dàn nhạc; Cấu trúc hình tượng nghệ thuật.

Trong Chương IV, ông viết về Kỹ thuật sáng tạo, trong đó có: Giai điệu; Tiết tấu; Hòa âm; Phức điệu; Phối khí; Kịch tính; Sự đối tỉ của hình tượng nghệ thuật; Sự đối tỉ màu sắc của nhạc cụ trong cấu trúc dàn nhạc; Sự đối tỉ về âm sắc, âm lượng, âm khu, âm vực…; Động lực thúc đẩy sự phát triển trong tác phẩm thể loại khí nhạc (dinamique); Hình tượng nghệ thuật chi tiết từng chương; Sự khác nhau trong tư duy sáng tác nhạc khí và nhạc có lời.

Bia-sach-Nghe-thuat-sang-tac-khi-nhac---Nhac-si-Nguyen-Van-Nam

Trong Chương V, ông viết về tính thời đại, tính nhân văn và hồn dân tộc.

Phó Giáo sư – Tiến sĩ, nhạc sĩ Nguyễn Văn Nam sinh ngày 14-7-1936, quê ở Vĩnh Kim, Châu Thành, Tiền Giang, là giảng viên Khoa Sáng tác của Nhạc viện TP.Hồ Chí Minh.

Ông tham gia kháng chiến từ năm 1947, nằm trong Ban Tuyên truyền tỉnh Mỹ Tho. Năm 1948, ông học trường Văn hóa Kháng chiến Phan Lương Trực tại Đồng Tháp Mười. Năm 1949, vào bộ đội, công tác tại Tổ Quân nhạc khu 8, sau đó chuyển sang Đoàn Văn công Mặt trận Đồng Tháp Mười.

Năm 1954, từ người lính theo đường bộ đội, ông tập kết ra Bắc. Năm 1959, ông trúng tuyển vào trường Âm nhạc Việt Nam (nay là Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam). Năm 1966, ông được Nhà nước cử sang học chuyên ngành sáng tác âm nhạc tại Nhạc viện Léningrad, nay là Nhạc viện Saint – Pétersbourg (CHLB Nga).

Năm 1973, ông tốt nghiệp Đại học (thủ khoa) với Bản giao hưởng số 1 mang tên Tặng đồng bào miền Nam anh dũng. Năm 1976, ông hoàn thành luận án tiến sĩ ngành sáng tác qua tác phẩm “Giao hưởng số 3 – Tặng những em bé mồ côi sau chiến tranh”. Tác phẩm đã được công diễn thành công tại Đại hội Âm nhạc mùa xuân Léningrad lần thứ 12 – năm 1976. Sau đó, tác phẩm được dàn dựng thành kịch múa “Việt Nam của tôi” công diễn tại Cung điện Kremlin – Mátxcơva vào năm 1979. Năm 1981, với công trình “Những nét cơ bản của âm nhạc truyền thống Việt Nam”, ông đã nhận thêm bằng tiến sĩ lý luận âm nhạc. Năm 2001, ông được mời sang Mỹ tham gia Hội thảo “Sự kết hợp âm nhạc truyền thống và âm nhạc hàn lâm hiện đại trong sáng tạo tác phẩm mới”. Đồng thời, ông cũng có tác phẩm tham gia buổi hòa nhạc tại Chicago – Mỹ. Ông tham gia công tác giảng dạy bậc Cao học chuyên ngành sáng tác tại Nhạc viện TP.HCM và Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam. Là hội viên Hội Âm nhạc TP.Hồ Chí Minh, hội viên Hội Nhạc sĩ Việt Nam và hội viên Hội Nhạc sĩ CHLB Nga.

Những tác phẩm ông viết đã biểu diễn thành công trong và ngoài nước (Nga, Mỹ, Trung Quốc, Ba Lan, Anh…) gồm có:

* Giao hưởng: Giao hưởng số 1 – Tặng đồng bào miền Nam anh dũng (1972), Giao hưởng số 2 – Uống nước nhớ nguồn (1974 – Nhân kỷ niệm 30 năm thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam), Giao hưởng số 3 – Tặng những em bé mồ côi sau chiến tranh (1975), Giao hưởng số 4 – Giao hưởng Ađưks (1986), Giao hưởng số 5 – Mẹ Việt Nam (1994), Giao hưởng số 6 – Sài Gòn 300 năm (1998), Giao hưởng số 7 – Chuyện nàng Kiều (2000), Giao hưởng số 8 – Đất nước quê hương tôi (2003), Giao hưởng số 9 – Cửu Long dậy sóng (2012).

* Các thể loại giao hưởng khác: Tổ khúc bài ca chim Đrao (1971), Giao hưởng thơ Poème symphonique (1982), Tổ khúc giao hưởng tiếng sáo I (1986 – Phổ thơ từ Nhật ký trong tù của Bác Hồ bằng tiếng Nga) – Tổ khúc tiếng sáo II (2004 – Phổ thơ từ Nhật ký trong tù bằng tiếng Việt), Fantaisie Tưởng nhớ (1994) do Tổng cục Chính trị đề nghị, Kịch múa Việt Nam của tôi (1979) – lần đầu tiên được biểu diễn tại hội trường Cung điện Kremlin (Mátxcơva), kịch múa Huyền thoại mẹ (1995)…

* Hợp xướng: Oratorio Hòa Bình cho các dân tộc (1976), Oratorio Hát cho đồng bào tôi nghe (1995), Cantate Bức tranh phương Bắc (1982), Liên khúc thác nước Tcheghem (1987), Liên khúc mùa xuân – Hợp xướng không phần đệm (1994).

*Nhạc thính phòng: Biển đêm cho violoncelle và piano (1962), Rủ nhau đi gánh lúa vàng cho piano (1964), Sonatine Trỗi dậy cho violon và piano (1964), Sonate cho piano (1970), Liên khúc cây trúc xinh cho violon và piano (1969), Ngũ tấu dây và piano (1970), Liên khúc Hoa mận trắng (1973 – thất tấu 7 nhạc cụ), Tứ tấu dây (1973), Tứ tấu hỗn hợp (1982 – giọng nữ cao, sáo, clarinetto và arpe), Tổ khúc con cò trắng (gồm 10 tiểu phẩm độc tấu piano – 1984), Khúc nhạc chiều cho violon và piano (1990)…

Các giải thưởng ông đã đoạt được:

- Giải thưởng cho thơ giao hưởng “Tưởng nhớ” do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ký năm 1994.

- Giải thưởng cho giao hưởng số 8 “Quê hương đất nước tôi”, UBND TP.HCM ký năm 2005.

- Giải thưởng Nhà nước do Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết ký ngày 8-2-2007 qua các tác phẩm: Giao hưởng số 3 – “Tặng những em bé mồ côi sau chiến tranh”, Tổ khúc giao hưởng “Tiếng sáo 1”, Thơ giao hưởng “Tưởng nhớ”, Giao hưởng số 5 “Mẹ Việt Nam”, Giao hưởng số 6: “Sài Gòn 300 năm”.

- Giải thưởng cho giao hưởng “Nhật ký trong tù” do Ban chấp hành TW Đảng ký 2009.

- Giải thưởng cho độc tấu sáo và dàn nhạc “Miền đất thiêng” do Chủ tịch UBND TP.HCM ký năm 2012.

Đông Lan
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 410

Ý Kiến bạn đọc