Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Ông Nguyễn Bá Thành đạo văn?

Đạo văn hay đạo ý tưởng là một trong hai lựa chọn cho TS. Nguyễn Bá Thành, tác giả Đề tài trọng điểm cấp Nhà nước: Toàn cảnh thơ Việt Nam 1945-1975 (NXB Đại học Quốc gia Hà Nội – 2016), khi khảo sát hai đoạn văn sau:

Đặc biệt chúng tôi thấy giáo sư Anh coi thời kỳ Pháp thuộc “bắt đầu từ 1858 và chấm dứt năm 1949 khi người Pháp trao trả quyền tự trị cho Việt Nam” (lời tựa) hoặc ngày 5-6-1948, một thỏa hiệp được ký kết trong vịnh Hạ Long… Song phải đợi đến ngày 8-3-1949, một thỏa hiệp được ký giữa Tổng thống Pháp, Vincent Auriol và Bảo Đại mới xác định thỏa hiệp ngày 5-6-1948; ngày 24-4-1949, Bảo Đại về nước; và ngày 30-12-1949, nước Pháp bàn giao quyền hành cho nước Việt Nam độc lập trong Liên hiệp Pháp (trang 369, đoạn kết thúc cuốn sử).

Chúng tôi chưa dám phê phán việc coi chế độ thuộc địa chấm dứt năm 1949 và Việt Nam được độc lập từ 1949 là đúng hay sai. Phải chăng giáo sư Anh cho rằng độc lập chỉ thực sự có và hợp pháp khi người Pháp thuận tình tự ý trao trả, còn lúc 45, 56, vụ đảo chánh mùng 9-3 và cách mạng tháng 8 không đáng kể vì ngoài ý muốn của người Pháp? Chúng tôi chỉ muốn xác định là việc coi Việt Nam chỉ độc lập từ 1949 là một quan điểm chính trị, một lựa chọn chính trị, chứ không phải là thái độ khách quan vô tư của nhà viết sử. Nhiều đoạn trình bày khác của giáo sư cũng biểu lộ một phê phán rõ rệt, một quan điểm chính trị, chẳng hạn khi nói về phong trào Cộng sản: “Đây là một phong trào phá hoại phát khởi ở ngoài nước Việt Nam bởi Nga Sô để gây khó khăn cho chính phủ Pháp” (trg.331); hoặc “Vào tháng 7-1947, chính phủ Pháp đòi hỏi Việt Minh phải đầu hàng vô điều kiện, Việt Minh rút vào miền rừng núi và từ nay trở đi tự coi là chính phủ lưu vong trong các chiến khu” (trg.367); hoặc về tính chất cuộc kháng chiến chống Pháp, giáo sư viết: “… Vì vậy, chiến tranh Đông Dương càng ngày càng gột bỏ tính chất một cuộc chiến để tái chiếm thuộc địa và trở thành một chiến tranh chống Cộng sản” (trg.375).

Nhận định về chính phủ Trần-trọng-Kim hồi 1945, giáo sư cho là bù nhìn vì “Chỉ độc lập trên giấy tờ” (trg.357). 1945, 1949 cũng vẫn là Bảo Đại, nhưng phải chăng độc lập do Nhật trao cho là bù nhìn và độc lập do Pháp trao cho mới thực sự? Còn độc lập do người Việt tranh đấu, giành lại không đáng kể, bất hợp pháp?

(“Việt Nam dưới thời Pháp đô hộ” của Nguyễn Thế Anh. Lửa thiêng. Sài Gòn – 1970. Theo Nguyễn Văn Trung trong Trường hợp Phạm Quỳnh. Nam Sơn. Sài Gòn – 1975. Trg.228-229)

Và:

“Giai đoạn 1945-1954, khi Pháp trở lại xâm lược Việt Nam, chính thể Dân chủ Cộng hòa phải rời thủ đô, sơ tán về khu Việt Bắc, hoạt động như một chính thể bất hợp pháp. Chính phủ Dân chủ Cộng hòa tiến hành tổ chức kháng chiến chống Pháp. Trong khi đó thì phía Pháp, cùng với các nhóm chính trị thân Pháp lại tái lập một chính thể quân chủ, lấy tên là Quốc gia Việt Nam, Quốc trưởng là Cựu hoàng Bảo Đại, Pháp vẫn giữ quyền kiểm soát tài chính, thương mại, chính sách đối ngoại và quân sự của Việt Nam. Thủ đô đặt tại Sài Gòn, Quốc trưởng Bảo Đại sống và làm việc tại biệt điện ở Đà Lạt. Chính phủ này, sau Hiệp định Giơ-ne-vơ đã tập kết về phía Nam sông Bến Hải, từ vĩ tuyến 17 trở về Nam. Cuộc trưng cầu dân ý vào năm 1955 tại miền Nam đã phế truất Quốc trưởng Bảo Đại, đưa Thủ tướng Ngô Đình Diệm lên làm Quốc trưởng. Sau đó Quốc trưởng Ngô Đình Diệm tổ chức bầu Quốc hội Lập hiến cho Quốc gia Việt Nam. Quốc hội này ban hành Hiến pháp đổi tên Quốc gia Việt Nam thành Việt Nam Cộng hòa (Toàn cảnh thơ… Sđd. Trg.39).

TS. Nguyễn Bá Thành có thể biện hộ rằng đoạn văn của ông không trùng lặp với GS. Nguyễn Thế Anh nên không thể xem là đạo văn. Nhưng về nội dung văn bản rõ ràng là lặp lại ý tưởng của GS. Nguyễn Thế Anh. TS. Nguyễn Bá Thành còn diễn giải thêm là chính thể này có “Thủ đô đặt tại Sài Gòn, Quốc trưởng Bảo Đại sống và làm việc tại biệt điện ở Đà Lạt…” đúng như là một chính thể hợp pháp có Thủ đô, có Quốc trưởng, dù Quốc trưởng không làm việc ở Thủ đô nhưng đã có Biệt điện ở Đà Lạt. Có thể nói từ khóa hay nhãn tự trong đoạn văn của GS. Anh và TS. Thành là trùng lặp. Câu “Việt Minh rút vào miền rừng núi… tự coi là chính phủ lưu vong…” của GS. Anh với câu “Chính thể Dân chủ Cộng hòa phải rời thủ đô, sơ tán về khu Việt Bắc, hoạt động như một chính thể bất hợp pháp”. Từ khóa trùng lặp đó là chính thể bất hợp pháp và chính phủ lưu vong.
Cái khác nhau chút ít là GS. Anh gán cho “Việt Minh… tự coi là chính phủ lưu vong” còn TS. Thành thì khẳng định với cái nhìn của ông: “… hoạt động như một chính thể bất hợp pháp”.

Phân tích sâu hơn nữa thì ta thấy GS. Anh gán cho Việt Minh “tự coi là chính phủ lưu vong” là một sự xuyên tạc hoàn toàn. Bởi vì Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chưa bao giờ tự coi, tự nhận là chính phủ lưu vong, vì thực tế đó là chính phủ hợp pháp hợp hiến do Quốc hội bầu ra. Còn ở thủ đô hay sơ tán về chiến khu là chiến thuật. Cụ Hồ Phi Huyền đã nói với Cụ Hồ trước ngày 19-12-1946: Tình thế lúc này phải là “Bảo quốc thiên đô độn thổ trường kì kháng địch” (Nhân đạo quyền hành. NXB Văn hóa. H.2000). Nhưng dù xuyên tạc như thế, GS. Anh vẫn coi Việt Minh là một chính phủ lưu vong. Dù lưu vong, nó vẫn là một chính phủ. Còn TS. Thành thì tệ hơn, khẳng định đây là một chính thể bất hợp pháp, bởi vì, hoạt động như một chính thể bất hợp pháp cũng đồng nghĩa với chính thể bất hợp pháp.

Tư tưởng của GS. Nguyễn Thế Anh công bố năm 1970.

Tư tưởng của TS. Nguyễn Bá Thành công bố năm 2016.

Nếu tính theo thế hệ tri thức, nhất là trong văn học, cứ 10 năm lại xuất hiện một thế hệ mới, thì tư tưởng của TS. Nguyễn Bá Thành là hậu duệ thế hệ thứ tư của GS. Nguyễn Thế Anh. Còn tính theo thế hệ gia tộc, là đời cháu!

Dù gián cách bao lâu thì đó vẫn là sự lặp lại, mà nói thẳng ra, là đạo văn hoặc đạo ý tưởng.

Ở đây chúng tôi xem là đạo ý tưởng.

TS. Nguyễn Bá Thành có thể biện hộ là ý tưởng hay tư tưởng của ông hoàn toàn độc lập với GS. Nguyễn Thế Anh. Rằng ông không hề biết có một tác giả là GS. Nguyễn Thế Anh có một công trình như thế có ý tưởng, tư tưởng như thế. Thưa rằng, trong nghiên cứu khoa học không chấp nhận điều đó. Điều khoản lịch sử vấn đề là không thể bỏ qua trong nghiên cứu khoa học. Bởi nó có tầm quan trọng trong sự xác nhận khả năng hiểu biết vấn đề và đâu là chỗ khác biệt, đóng góp mới của người nghiên cứu. Nếu không phải là đạo ý tưởng thì chứng tỏ khả năng chiếm lĩnh vấn đề của TS. Nguyễn Bá Thành là rất hạn chế, do vậy đã vô tình lặp lại những tri thức bất lương, tri thức sai lầm của người đi trước và công trình Toàn cảnh thơ Việt Nam 1945-1975 dù được 23 Tiến sĩ, Phó Giáo sư – Tiến sĩ “im lặng nghĩa là đồng ý” đồng tình ủng hộ cũng là không đáng tin cậy.

Trong Lời nói đầu của công trình TS. Nguyễn Bá Thành có vẻ tự hào về phương pháp tiếp cận liên ngành, tổng thể, nghiên cứu liên ngành. Đây là phương pháp nghiên cứu có tính khả quan nhưng không dễ khả thi và TS. Nguyễn Bá Thành tỏ ra không khả thi, khi ông không nắm được bản chất của các tri thức liên ngành ở ngay đoạn này:
“Chính phủ này (Quốc gia Việt Nam) sau Hiệp định Giơ-ne-vơ đã tập kết về phía Nam sông Bến Hải, từ vĩ tuyến 17 trở về Nam”.

Xin TS. Nguyễn Bá Thành hãy xem xét lại một cách nghiêm túc Hội nghị Giơ-ne-vơ và Hiệp định Giơ-ne-vơ. Tại Hội nghị này, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không thừa nhận Quốc gia Việt Nam và Hiệp định chỉ kí kết với Pháp. Trong Hội nghị, Pháp không thèm hỏi đến Bảo Đại, mặc dù cũng thuê cho phái đoàn Bảo Đại một chỗ trọ ở xa địa điểm Hội nghị. Bảo Đại đã bỏ Hội nghị. Sau khi lật đổ Bảo Đại, Diệm vẫn lấy cớ không kí Hiệp định để không thi hành Hiệp định (“Bảo Đại hay những ngày cuối cùng của Vương quốc An Nam”. NXB Phụ nữ. H.2014).

Đúng tinh thần của Hiệp định và trên thực tế là phía Pháp bao gồm cả ngụy quân ngụy quyền vì nó ở trong Khối Liên hiệp Pháp do Pháp đứng đầu, phải tập kết về phía Nam vĩ tuyến 17 trong 2 năm để thực hiện Tổng tuyển cử. Quốc gia Việt Nam không phải là chính thể độc lập, hợp pháp, hợp hiến. Vì nó do Pháp dựng lên như một con bài để tìm đường “rút trong danh dự” khỏi Đông Dương. Trong hồi ký “Đông Dương hấp hối” – NXB Công an nhân dân. In lần thứ 2. H.2015 – tướng Na-va đã nhắc lại rất nhiều lần sự thực này và vạch rõ bi kịch của nước Pháp ở Đông Dương là không có đường lối chính trị rõ ràng dứt khoát về cuộc chiến. Muốn rút lui danh dự nhưng lại chỉ trao độc lập hoàn toàn cho các quốc gia độc lập (Việt Nam – Lào – Campuchia) sau khi kết thúc chiến tranh. Vào năm 1949, ký Hiệp ước Ê-li-sê nhưng chỉ trao độc lập cho Bảo Đại trên danh nghĩa. Rồi đến trước Hội nghị Giơ-ne-vơ lại vẫn giở con bài “trao trả độc lập”. Chính Na-va phải thừa nhận: “Việt Minh từ chối thương thuyết với chế độ Bảo Đại, vì họ không thừa nhận tính hợp pháp của chế độ này…” (Na-va. Sđd. Trg.185-186). Và quân đội của Quốc gia Việt Nam thì như thế nào. Cũng chính Na-va tiết lộ: “Sau khi có Hiệp định Giơ-ne-vơ, tướng Ely (Tổng tham mưu trưởng quân đội Pháp) đã đồng ý giao cho người Mỹ trách nhiệm phát triển quân đội Việt Nam quốc gia…” (Đông Dương hấp hối. Sđd. Trg.415).

Một chính thể hợp pháp, một quốc gia độc lập sao lại có chuyện hay thế nhỉ.

Chỉ cần một Na-va cũng đủ rõ thực chất của “chính thể” quốc gia Việt Nam là như thế nào. Sao TS. Nguyễn Bá Thành lại có thể bỏ qua những cứ liệu do chính “cha đẻ” của “quốc gia Việt Nam” bộc lộ. Cứ cho là TS. Nguyễn Bá Thành chưa đủ điều kiện tiếp cận với kho lưu trữ của Văn khố quốc gia Pháp đã đáo hạn, sau hơn 50 năm, kể từ 1954. Nhưng hồi ký “Đông Dương hấp hối” được dịch ra tiếng Việt và NXB Công an nhân dân ấn hành lần đầu năm 2004, tái bản năm 2015, trước Đề tài trọng điểm của TS. Nguyễn Bá Thành cả chục năm trời. Giải thích như thế nào về sự cố này? Nó chứng tỏ nhà nghiên cứu đã đạo lại ý tưởng của GS. Nguyễn Thế Anh, lại nghiên cứu chẳng liên ngành gì cả. 

Cách trình bày của TS. Nguyễn Bá Thành là công nhận Quốc gia Việt Nam và sau này là Việt Nam Cộng hòa là chính thể hợp pháp. Cần phải tìm hiểu tại sao có cách gọi ngụy quân, ngụy quyền: Đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào! (Hồ Chí Minh).

Tri thức về một ngành mà không đúng thì càng liên ngành càng nhân lên sự không đúng, càng không tiếp cận được bản chất của đối tượng.

Có thể khẳng định Toàn cảnh thơ Việt Nam 1945-1975 không phải là công trình nghiên cứu văn học mà chỉ là nghiên cứu cơ sở, điều kiện ra đời của các tác phẩm mà tác giả đã tự nhận:

“Nghiên cứu thơ ca 1945-1975, từ góc độ chính thể, thể chế là một hướng nghiên cứu thơ ở ngoài thơ, nghiên cứu văn học bên ngoài văn học, đó là nghiên cứu cơ sở, điều kiện ra đời của các tác phẩm. Đó là sự quản lí của nhà nước đối với các sản phẩm tinh thần và văn hóa” (Toàn cảnh thơ… Sđd. Trg.57).

Đó đúng là nghiên cứu về xã hội học văn học.

Đến đây ta thấy rõ: TS. Nguyễn Bá Thành không xác định được mục đích – đối tượng – phương pháp nghiên cứu và đi đến một kết luận kiểu loại tác giả là bản chất của thơ thay vì nội dung sáng tạo của tác giả, một hướng nghiên cứu đơn thuần hình thức, khi ông xếp Hồ Chí Minh, Tố Hữu, Chế Lan Viên, Vũ Hoàng Chương, Bùi Giáng, Thanh Tâm Tuyền đều là tiêu biểu cho các kiểu loại tác giả. Một hướng nghiên cứu tuy tuyên ngôn rất hùng hồn hoành tráng nhưng thực tế là không thừa giấy mà vẫn vẽ voi!

Hà Nội, ngày Giải phóng Thủ đô
10-10-1955 – 10-10-2018

Chu Giang
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 521

—————
TB: Trong Lời giới thiệu, PGS.TS Bích Thu rất khen tác giả công trình đã đến nhiều nước ngoài nghiên cứu và có trong tay một khối lượng tư liệu đáng nể trọng. Nhưng những tư liệu rất cần thiết ở trong nước như đã nói lại bị bỏ qua. Hoan hô mở cửa hội nhập!

Ý Kiến bạn đọc