Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

“Ông là niềm tin của chúng tôi vào cách mạng”

(Theo lời kể của bà Bùi Thị Mỹ Linh, nguyên Giám đốc Bảo hiểm xã hội tỉnh Đồng Tháp, con của Liệt sĩ Bùi Văn Thậm)

Khi từng đốt xương cuối cùng ở ngôi mộ được mấy anh đưa lên bờ đất, má tôi nâng niu từng đoạn xương mục nát, ôm vào lòng, khóc ròng. Thằng em thứ sáu của tôi vẫn mò mẫm khắp đáy huyệt. Ai nấy đều nghĩ nó sợ bỏ sót lại xương cốt của ba, hay nó muốn gần thêm chút nữa, nơi mà cha nó đã yên nghỉ trong mấy chục năm ròng, nên mọi người cũng chẳng nỡ can ngăn…

Sau khi bộ hài cốt được tìm thấy, thằng em tôi nhìn má, chị em tôi và mọi người giọng lạc hẳn đi: “Không phải hài cốt của ba!”.

Ai nấy sững sờ… “Tôi còn nhớ lúc mai táng, sợ chiến tranh sau này mồ mả thất lạc, nên mấy chú còn chôn theo ba hai sợi dây dù làm dấu. Loại dây dù của Mỹ rất dai, không thể nào bị mục được!”. Thằng em tôi khẳng định như đinh đóng cột lại lần nữa. Thôi, nếu không phải ba tôi, người này chắc cũng là anh em đằng mình hy sinh, đưa vào nghĩa trang huyện chôn cất đàng hoàng kế đồng đội cho ấm áp và sau này có cơ hội, gia đình sẽ đến nhận…

Năm 1943, ba tôi đã tham gia Thanh niên cứu quốc, là trưởng đội du kích xã Bình Phú, huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh. Cho tới những năm 1958-1959, giặc bố ráp ác liệt, tình hình căng quá, không thể hoạt động hợp pháp được nữa, ông dẫn má và 6 đứa con về bên ngoại ở xã Thanh Mỹ. Lúc ấy ông Hai Hớn, ông Hai Minh, Bí thư huyện Mỹ An (nay là huyện Tháp Mười) là anh bà con của má thỉnh thoảng có ghé thăm và trao đổi công chuyện với ba.

Xã Thanh Mỹ, huyện Mỹ An ngày ấy (nay là Tháp Mười) tỉnh Đồng Tháp, lúc ấy là cái nôi của cách mạng, căn cứ của Tỉnh ủy tỉnh Kiến Phong, tuy được giải phóng từ đêm 24 rạng sáng 25/12/1959 cho tới năm 1971 địch tái chiếm lại, nhưng hầu như ngày nào máy bay địch cũng rà rà, đảo tới đảo lui, nếu phát hiện có bóng người hay súc vật là sẵn sàng thả bom hay bắn bỏ, không kể dân hay cách mạng, nơi được coi là trường bắn của địch, là mục tiêu quan trọng, là cái “túi” chứa bom, khi chúng đi bỏ bom, về cũng ráng phải trút cho hết đạn bom mà chúng mang đi, đến nỗi không có cây nào ở vùng này là không bị miểng bom, miểng pháo ghim vô. Thế nhưng những cây tràm, cây gáo dù bị ghim bấy bá miểng, sau những đợt bom pháo, lại vươn mình bật dậy, như cùng thi gan, ngạo nghễ với đạn bom. Còn người dân, dù biết sự sống chết chỉ trong gang tấc, vào bất cứ lúc nào, nay còn gặp nhau tay bắt mặt mừng, cùng ngồi với nhau uống chung trà nhưng ngày mai có khi đã chết hoặc bị thương.

Chan-dung-Liet-si-Bui-Van-Tham---Anh-1
Chân dung Liệt sĩ Bùi Văn Thậm

Trước mỗi trận càn, khi địch tập trung quân ở những vùng giáp ranh, tiếp theo sau đó là pháo bắn dọn đường đêm trước, thì chắc chắn tờ mờ sáng hôm sau địch dùng trực thăng đổ quân.

Biết trước mỗi trận càn, người dân thường gom ít gạo, mắm, cả gia đình lên chiếc xuồng bơi đi xa lánh nạn, nhưng chiều tối, khi nghe địch vừa rút quân, vợ chồng con cái lại chèo chống trở về. Cho nên bất cứ người dân nào vẫn tồn tại, bám trụ lại trên mảnh đất Thanh Mỹ trong những ngày ấy, theo tôi, cũng có thể phong tặng danh hiệu Anh hùng, dù họ không trực tiếp cầm súng. Là thế hệ sinh ra sau chiến tranh, tôi không thể nào hiểu, làm sao mà con người có thể sống nổi ở nơi đây, khi gần như ngày nào cũng bị máy bay oanh tạc, B52 rải bom, cày xới, chứ đừng nói việc còn nuôi chứa cán bộ. Chiến tranh thật khốc liệt, đi qua cuộc chiến tranh, gia đình nào trong xã cũng có người chết, bị thương vì đạn bom bởi ở lại đồng cam cộng khổ với cách mạng. Dù khó khăn gian khổ, dù hiểm nguy chất chồng rình rập từng ngày từng giờ, thậm chí từng phút từng giây nhưng họ vẫn không bỏ cách mạng mà đi. Giai đoạn 1961-1967, mỗi tháng địch đổ quân càn quét thường hai đến ba lần với mục đích “tát” hết dân ra khỏi vùng giải phóng, bởi chúng biết rõ một điều quan trọng: Cách mạng sống được là nhờ vào “lòng dân”!

Được giao Bí thư xã Thanh Mỹ, chịu trách nhiệm nặng nề nhất trong xã, ông lãnh đạo dân quân du kích, phối hợp chặt chẽ với lực lượng địa phương quân của huyện và bộ đội cơ động của tỉnh – Tiểu đoàn 502 tổ chức đánh địch, bảo vệ dân, giúp dân sơ tán trong những trận càn lớn. Thường xuyên vận động nhân dân làm hầm chông, tổ ong, gài lựu đạn trên đường đi, làm cản đất, chất chà dưới sông, ngăn không cho tàu địch xâm nhập vào vùng giải phóng. Tổ chức cho dân đào kinh ở chướng 500, bề rộng chỉ vừa 1 chiếc xe M 113, khi lội qua là xe sụp xuống kinh luôn, không thể bò lên được. Giặc đang “tiến thoái lưỡng nan”, ở bên này con kinh, bộ đội và dân quân du kích như được bày cỗ, cứ súng trường, súng tự tạo, lựu đạn mà tiêu diệt kẻ địch. Trước tình hình chiến tranh ngày càng ác liệt, ông vận động nhân dân phải quyết tâm bám trụ, làm chỗ dựa vững chắc, nuôi nấng, che chở cho cán bộ, bộ đội, bộ phận đầu não của Tỉnh ủy Kiến Phong cũ (Đồng Tháp ngày nay)…

Má tôi ở nhà làm ruộng nuôi con. Ba đi hai ba ngày mới ghé qua nhà một lần. Có khi tận đêm khuya ông mới về. Cha tôi rất thương chúng tôi, lo cho má. Đi thì thôi nhưng cứ mỗi lần ghé nhà, ông lại tranh thủ sửa lại mái nhà, chẻ củi, đan lờ lợp, xách đầy mấy lu nước và làm những việc nặng nhọc tiếp má. Đêm đêm dùng ngọn đèn dầu soi muỗi trong từng cái mùng cho những đứa con…

Bà Võ Thị Sẫm hiện ngụ tại kinh 1, ấp Lợi An, xã Thanh Mỹ, năm nay 88 tuổi, khi nhắc đến tên ông Bùi Văn Thậm bồi hồi kể lại: “Dân Thanh Mỹ chúng tôi rất thương và nể trọng ông. Ngày nào bom Mỹ cũng ầm ầm ở vùng này. Thế nhưng cứ ngớt tiếng bom, mươi mười lăm phút sau là đã thấy ông có mặt xem có ai bị thương, bị chết, điều động quân và mọi người cứu bà con bị sập hầm, sập nhà, dựng lại nhà cho dân. Người bí thư xã với bộ đồ bà ba đen, vai đeo súng trường bá đỏ sẵn sàng bắn máy bay, bên hông là khẩu K54, cổ quấn khăn rằn, tay xách thùng luộc đựng giấy tờ… luôn xông xáo khắp mọi nơi, quên cả gia đình, lo cho bà con từ miếng ăn, giấc ngủ, tổ chức du kích chống càn, là biểu tượng ngời sáng, là niềm tin của chúng tôi vào cách mạng…”.

Sau mỗi đợt bom dừng, ông cùng anh em du kích thu dọn chiến trường. Người bị thương được đưa vào trạm xá cứu chữa… Má tôi kể lại trận 37 tàu trên sông Rạch Ruộng cuối năm 1967, ngày mà ai là người dân Đồng Tháp cũng nghe không chỉ một lần. Tuy kẻ thù bỏ xác rất nhiều, nhưng thương vong của ta cũng không ít. Bộ đội, du kích và dân thường chết cũng trên 100 người. Ông chỉ huy quân đóng những cái hòm chôn chiến sĩ vừa hy sinh.
Đang làm đến khoảng 6 – 7 giờ tối, pháo lại bắn vô. Mọi người kể cả ông đã xuống công sự để tránh miểng pháo. Vừa lúc đó, dân tản cư trong đó có rất đông trẻ em chạy tới, không còn hầm trú ẩn. Nghe tiếng người kêu cứu, trẻ em la khóc, miểng pháo bay vèo vèo, biết lên khỏi hầm có khi chết hoặc bị thương, nhưng không một chút do dự, ông đã nhảy lên khỏi công sự, hô hào anh em nhảy ra theo, để nhường chỗ trú ẩn cho bà con vừa chạy tới. Sau khi hướng dẫn bà con xuống hầm hết, ông lom khom chạy ra công sự cách đó khoảng trăm mét. Vừa tới miệng hầm, một miếng miểng của pháo chụp nhỏ găm vào ngay trái tim, ông gục xuống bờ đất không kịp trăn trối một lời. Có lẽ ông cũng không thể nào nghĩ được, hồi chiều ông đã tự làm một cái hòm để tối anh em chôn chính mình trong đó…

Chiến tranh ác liệt quá. Thương người đồng đội chết đi để vợ và bầy con không biết sống chết lúc nào, ông Tám Mai, Tỉnh đội trưởng Kiến Phong, kiếm một chiếc xuồng ba lá bắt má đưa chị em tôi ra Cái Bè, Tiền Giang nương nhờ bà con. Còn ba để mấy chú, mấy bác lo hậu sự. Mấy mẹ con vừa chèo đi vừa khóc. Thằng Hoàng Trinh, em thứ sáu tôi lúc ấy mới 14 tuổi, theo cả nhà gần tới Cổ Cò chợt ôm bụng kêu ghé xuồng vô bờ để đi cầu. Xuồng vừa dừng, nó chợt đẩy mạnh ra hướng sông, vừa nói: “Con phải quay lại lo cho ba…!”. Cứ thế, nó vừa khóc vừa lội sông ngược trở lại chợ Thanh Mỹ. Tới tầm 9 giờ đêm nó về kịp nhìn ba lần cuối và cùng các chú chôn cất cho ba… Nhờ hai sợi dây dù và một miểng đạn nhỏ lẫn trong hài cốt còn lại của ba, hay nhờ vong hồn của ba linh thiêng, gia đình tôi đã tìm được đúng ba tôi.

Khi còn sống, má tôi thường nói: “Giờ đây má đã yên lòng nhắm mắt. Ngày mà má sẽ về bên ba các con cũng không còn bao xa đâu…!”. Anh tôi đã hy sinh, ba tôi ra đi lúc ấy má tôi mới hơn 40 tuổi, để lại má một mình chèo chống, nuôi 5 đứa con thơ dại trưởng thành. Mong chờ của má cũng đúng, nhưng sao tôi vẫn cay xè khóe mắt…

Bây giờ thì má đã yên nghỉ cận kề bên ba. Ở cõi vĩnh hằng, má tôi sẽ không còn đơn độc nữa. Không còn chiến tranh, không còn chết chóc, ba sẽ cùng má yên giấc ngàn thu… nhưng tôi tin một điều chắc chắn: Những người còn sống hôm nay sẽ vẫn nhắc mãi về ông – ông Hai Thậm, người Bí thư xã Thanh Mỹ lẫy lừng một thuở…

Phạm Thị Toán
(Hội LH VHNT Đồng Tháp)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 469

Ý Kiến bạn đọc