Truyện ngắn

Ông KT3

Trời mưa như trút nước. Tôi đứng lên đóng cánh cửa nhà phía trước thì thấy một người đàn ông đội mưa, xăm xăm đi vào sân. Chỉ một thoáng anh ta đã bước tới thềm.

- Việc gì mà phải đội giời thế kia? Vào nhà, vào nhanh lên – Tôi vừa nói vừa dang tay kéo thốc ông khách.

Ông khách vẻ ngỡ ngàng, dáng ngượng nghịu như đã làm một điều gì không phải, ông vuốt mái tóc đẫm nước, giọng run vì lạnh:

- Chào bác! Bác cho em hỏi đây có phải là nhà bác Minh không ạ?

- Lau cho khô đầu tóc đi đã, cảm sốt ra thì lại khổ – Tôi đưa cho khách chiếc khăn – Nước vối nóng đây, anh uống cho ấm người lại đã rồi chuyện gì thì chuyện.

Vừa mời nước tôi vừa chăm chú quan sát khách. Người này có lẽ là từ xa tới. Cái ba lô quân dụng từ thời chống Mỹ thế kia thì chắc chắn là từ Bắc vào. Quần áo anh ướt hết, riêng chiếc ba lô trên lưng được quấn bằng một mảnh ni lông nhỏ nên còn khô ráo. Anh tỏ ra lúng túng trước thái độ ân cần của tôi, chắc phải có chuyện gì gấp gáp lắm nên anh mới đội mưa đến đây.

- Bác à – Giọng anh trầm và đã đỡ run – Em đang tìm nhà người anh ruột, em hỏi thăm mãi mà không ai biết. Bà chủ quán đầu làng mách rằng muốn hỏi ai ở vùng này thì phải đến bác. Thưa bác. Vì vậy em mới đường đột làm phiền, mong bác tha lỗi.

- Cứ từ từ uống chén nước cho ấm người lại đã, rồi tôi đưa ra nhà sau thay bộ quần áo ướt này ra. Chuyện thì để sau. Có gì mà phiền cơ chứ, nếu biết, tôi sẽ đưa chú đến tận nhà người ta.

- Dạ, thế này là em ấm lại rồi ạ, cảm ơn bác. Em muốn hỏi nhà anh Tường, anh ấy đưa vợ con vào đây từ năm 1981. Đằng nào thì em cũng ướt rồi, nếu bác biết chỉ cho, thì em xin phép đi luôn chứ chả dám phiền bác phải đội mưa gió đâu ạ.

Tôi giật mình – Có phải chú hỏi anh Tường. Trần Tường, năm nay 61 tuổi, có vợ tên là Hiên phải không?

- Dạ, đúng. Đúng ạ. Thảo nào từ đầu làng em hỏi thăm, ai cũng bảo cứ phải vào hỏi bác.

Sau vài giây trấn tĩnh, tôi nói: – Nếu đúng là anh Tường ấy thì nhà cách đây những hơn cây số cơ. Mưa to thế này thì đường vào đấy lầy lội lắm. Chú cứ ở đây đã, ngớt mưa, tôi đưa chú đi. Nói chú nghe chứ lâu nay tôi tham gia việc xã việc thôn, lại là chủ tịch Hội cựu chiến binh xã nên tôi rất rõ về gia cảnh của chú Tường. Tôi với chú Tường còn là bạn gần gũi nữa đấy. Chú là chú An phải không?

- Dạ, đúng ạ. Em là An, em anh Tường ạ – Giọng An cảm động.

- Chú rất giống chú Tường. Tường đã nói chuyện nhiều với tôi về chú.

- Thế này thì may quá! Em cảm ơn bác. Hai mươi nhăm năm rồi em bặt tin anh Tường bác ơi!

- Tôi biết! Tôi và Tường rất thân nhau, chú cứ coi tôi như một người anh đi, mọi chuyện để tôi lo.

Nói thì nói thế thôi chứ tôi cũng lo lắm… hoàn cảnh của Tường… Tốt nhất là tạm thời giữ được An lại, đúng rồi, giữ An lại ăn bữa cơm chiều. Tôi quay nói với vợ lúc đó đang chơi với thằng cháu:

- Đây là chú An, em chú Tường. Chú An từ quê lặn lội vào tìm anh. Mưa quá, chắc chú cũng mệt và đói rồi, mình lo cơm cho anh em tôi ăn nhé – Giọng tôi ân cần để xóa đi sự ngại ngần của An.

So-513--Nhuc-ngoi-da-cam---Do-Phan
Nhức nhối da cam – sơn dầu – Đỗ Phấn.

Nhà tôi rất tinh ý, bà ân cần tiếp lời: – Chú đến đây thì cứ coi đây như nhà chú Tường chú nhá, vợ chồng tôi được nghe chú Tường kể về chú nhiều rồi. Rõ khổ, cả hai mươi nhăm năm anh em bằn bặt. Thế này là phúc rồi! Để tôi đi lo cơm, anh em ăn xong thì sang cả bên ấy.

- Dạ, cảm ơn hai bác. Em chỉ muốn được gặp ngay anh Tường. Em cũng mới ăn cái bánh chưng ở quán đầu làng nên cũng không đói ạ.

- Hăm mươi nhăm năm còn chịu được, cơm nước với nhà tôi hãng. Đói no thì cũng phải có bữa cơm với nhau thì mới ra tình anh em, phải không bà. Bà đi lo cơm cho anh em tôi đi, tôi cũng đói rồi đây – Tôi vừa nói vừa cười.

An như người bị thua cờ, anh đành phải hạ ba lô để vào góc nhà, lấy quần áo theo tôi ra nhà sau.

Vợ chồng tôi và An đã ngồi xuống mâm, cơm cũng chỉ canh cua, thịt kho và đĩa cà pháo nhưng ấm áp bởi những câu chuyện.

- Chú thím Tường vào khai hoang lập nghiệp ở đây từ năm 1991, thuở ấy thì cơ man là vất vả… Ơn giời, anh em tôi vẫn bó bện trụ được.

- Dạ, thế thì anh em đã đi từ đâu đến đây hả bác?

- Trước thì chú thím Tường làm ở công ty cao su quốc doanh dưới Đồng Nai, vì không có bản khai lý lịch do chính quyền địa phương nào đảm bảo nên họ không biên chế. Năm 1990, lấy lý do dư thừa lao động, nông trường sa thải chú thím ấy, nên cô chú ấy mới lên đây.

- Ở quê bặt tin, lo lắng cho hai bác ấy quá anh ạ, thế cả 10 năm làm cao su anh chị em có dắt lưng được chút vốn nào không bác?

- “Vặt mũi đút miệng” thôi, chú lạ gì cái kiểu lương bổng công trường. Lại vướng con bé Hà…
càng lớn càng…

- Anh em ông ăn đi đã nào, sao chẳng ai chịu gắp thức ăn thế này, chuyện trò thì cứ từ từ. Nhà tôi vừa nói vừa liếc tôi, cái liếc ngoài bữa cơm, xa xôi… khó tả.

*
- Chú uống nước đi, trà Lâm Đồng ngon lắm.

- Vâng! Em cảm ơn bác.

Bề ngoài có vẻ bình thản nhưng tôi biết An đang rất sốt ruột. Tôi thì lúng túng. Lòng dạ như cái cống bị tức nước, cứ ứ lên. Tôi với Tường là bạn thân, tình cảnh này… tôi phải nói với An sao đây? Bình thường thì… nhưng đằng này.

An cầm chén nước nhưng nhấp nhổm, như cái ý nhắc tôi đưa ngay anh đến chỗ anh Tường. Cũng khó thể khác được, tôi cười bảo anh:

- Có cái chuyện này… chú cứ thong thả nước non, rồi tôi sẽ nói chú nghe.

Chết thôi, câu tôi nói càng khiến An sốt ruột hơn. Anh nhướng người về phía tôi, giọng lo lắng:

- Có chuyện gì xin bác cứ dạy ạ, bao nhiêu năm nay ở quê lo cho anh chị ấy lắm. Anh chị em trốn đi, chỉ để lại vài dòng ngắn ngủi, mà khi đi có tiền bạc gì đâu. Cháu Hà mới 2 tuổi lại mắc dị tật bẩm sinh… Anh chị em phải làm thế nào mới sống được đây. Bác, bác không phải giấu em đâu, cái điện khẩn này… An dúi vào tay tôi bức điện khẩn do chính Hiên, vợ của Tường gửi.

Bức điện khẩn của Hiên vợ Tường khiến người tôi chùng xuống, tôi hoang mang nhìn, như muốn chờ diễn biến tâm lý tiếp theo của người đối diện.

- Em là cựu chiến binh, bác biết rồi mà. Bản lĩnh của lính thì bác lạ gì! Chiếc ba lô anh Tường niêm phong, gửi em từ năm 1981 em đã mang vào theo lời dặn trong bức điện của chị Hiên đây. Nào, có gì thì bác cứ nói, em nghe!

- Anh Tường đã mất cách đây 4 ngày! – Giọng tôi rơi từng tiếng, văng từng mảnh; văng như những mảnh chén thất thần rơi xuống từ tay An. An đổ ập xuống ghế. Mưa vẫn trút nước, trắng trời. Vợ tôi hoảng hốt:

- Chú An! Chú có sao không? Lấy hộ tôi hộp cao con hổ tôi xoa cho chú ấy, mau đi ông. Rõ khổ! Ai thì cũng một lần phải đi, bình tĩnh, bình tĩnh chú An ơi. Chúng tôi và gia đình chú Tường là chỗ thân tình, chẳng thể giấu chú. Chú Tường trút hơi thở cuối cùng trên tay ông nhà tôi, coi như cũng là ra đi trên tay một người anh…

Bà chợt ngưng nói. Tôi cũng im lặng. Chúng tôi im lặng như một sự tôn trọng những giây phút thiêng liêng mà An đang chìm vào người anh mới khuất.

Một dây sấm bỗng rền rẫm kéo dài, kéo đến tận cuối trời.

Cùng với chiếc ba lô đã niêm phong từ lâu, tôi và An đội mưa đến với anh Tường. Đến đầu ngõ tôi níu tay An:

- Chú An này! Chị Hiên… chị Hiên bây giờ cũng mất trí rồi…

- Bác nói sao? – An thất thần.

- Rõ khổ, đang ma chay cho chồng thì lại chẳng thấy con đâu, hai ngày sau mới tìm thấy nó nằm dưới một gốc cà phê trên rẫy hàng xóm. Chị Hiên hóa mất trí từ hôm ấy chú ạ.

An không nói gì, lầm lũi bước lên. Một người đàn bà đầu tóc xõa sượi ào ra, tay khua lên, miệng la lớn:

- Nó ở gốc cà phê trên rẫy nhà anh Vượng. A ha, may quá! Nó ở bên…

- Chị Hiên! – An túm lấy tay chị – Em đây. An, em anh Tường đây chị.

- Nó nằm dưới gốc cà phê… A ha, may quá các người ơi… Nó ở…

Tôi đờ người trong mưa, chưa biết phải xử trí ra sao thì chị Hiên lại đột ngột tươi cười:

- Kính mời hai ông vào nhà chơi, nhà em có nhà đấy ạ.

- Chị Hiên. Em đây, An em anh Tường đây.

Hiên vùng vằng, mặt đanh lại: – Tôi là gái đã có chồng, nhà ông không được phép sàm sỡ.

Hình như sắp có một cái tát, An vội buông tay chị dâu. Cũng không còn cách nào khác, chúng tôi đi vào nhà, chị Hiên vẫn đội mưa nơi đầu ngõ.

Đón chúng tôi ở trong nhà là hai cán bộ phụ nữ xã, họ đã ở đây mấy ngày đêm “chèo lái”, đỡ đần cho chị Hiên sau khi anh Tường mất. Tôi giới thiệu cô Xuân, cô Mến với An. An cúi đầu chào rồi kính cẩn đặt chiếc ba lô lên bàn thờ vong. Anh lặng đi bên làn khói hương đang vấn vít trong căn nhà chật chội. Trời mưa mau tối, Mến và Xuân đã dìu được chị Hiên vào nhà.

- Ba bốn ông lớn đến đây cho mẹ con tôi được cái gì đây? Các cô ơi, các cô cho cháu Hà ra khỏi buồng chào các ông lớn đi – Giọng chị Hiên lại có phần nghiêm túc, rành rẽ.

“Cái Hà chân rưỡi” (cả làng gọi nó thế) có đôi mắt xếch, mồm miệng lúc nào cũng dãi rớt lòng thòng, tóc hoe vàng, rối bù vừa được Mến mở cửa buồng tập tễnh đi ra, vừa đi nó vừa ạ những người xung quanh với nét mặt hớn hở.

- Bác là người nhà, nên chúng tôi cũng chả có gì phải giấu giếm. Bác Tường nói hồi còn bé cái Hà như một cục thịt nóng, càng lớn nó lại càng ẩn ơ ra mới khổ. Không ai trông coi là nó lang thang ngay. Sáu bảy năm nay vợ chồng bác Tường cứ phải buộc cái chân lành của nó, cột ở trong nhà. Trước còn dùng dây vải, mấy năm nay phải dùng dây xích đấy bác ạ. Hôm anh Tường mất, chắc thương con nên chị Hiên mở xích cho Hà. Mọi người đều tập trung vào tang lễ, không ai để ý, đến lúc giật mình thì đã không thấy nó đâu. Xóm giềng cắt cử nhau đi tìm suốt hai ngày đêm không thấy. Chị Hiên thì không còn đủ sức tìm con, chỉ phủ phục bên quan tài chồng. Đêm ấy sợ lắm bác ạ. Chị Hiên đang phủ phục thì bất ngờ choàng lên vồ lấy tôi, miệng la lên: “Anh Tường bảo nó nằm dưới gốc cà phê trên rẫy của chú Vương”. Thế mà đúng thì bác thấy có kinh không? Anh Tường nhà mình là thiêng lắm đấy. Con bé được mang về trong tình trạng ngất xỉu. Chị Hiên hốt hoảng bỏ quan tài ôm con, rồi bất ngờ quăng nó xuống, phát túi bụi vào người khiến con bé tỉnh lại được thì bác thấy có sợ không cơ chứ. Giọng Xuân cứ đều đều, rót nhẹ.

- Tội nghiệp cháu tôi! – An vừa vuốt tóc con bé vừa rền rẫm.

- Từ lúc cái Hà nó tỉnh lại thì chị Hiên lại hóa ngơ bác ạ. Khổ thế chứ! Bây giờ thì gặp gì ăn nấy, rất hay hét cái câu lúc bác vừa vào đến ngõ ấy.

- Thế anh chị tôi không sinh thêm được cháu nào nữa hả cô?

- Không chú ạ – Tôi trả lời thay cho Xuân – Sinh thời anh Tường đã bảo cô Hiên: “Ta đã vô tình phạm tội sinh ra một hình hài tật nguyền. Khổ thân con! Biết nguyên nhân là tội ác của giặc Mỹ rồi, phải chịu thôi, dù thương em đến đâu chúng ta cũng tuyệt đối không được sinh đẻ nữa”.

- Tội nghiệp anh chị tôi! – Mắt An đã nhòe nước.

- Khổ vậy đấy! Anh Tường có lần đau đớn tâm sự với tôi là anh kiên quyết cắt quan hệ sinh lý với vợ, để không xảy ra điều bắt buộc phải tránh. Chú tìm đến nhà anh Tường mà hỏi tên ấy thì ở đây không ai biết là phải, vì trước đây cả làng đều gọi anh ấy theo cách gọi của cán bộ an ninh xã. Gọi là ông KT3. Mấy năm gần đây lại gọi anh chị ấy là vợ chồng nhà đá. Bây giờ xem chừng người ta lại muốn đổi tên một lần nữa cho anh ấy thì phải, tôi nghe có người đã gọi là ông si-đa rồi đấy. Anh Tường lở loét khắp mình mẩy, đau cho đến chết mà! – Giọng tôi ngàn ngạt, chùng xuống.

- KT3, nghĩa là anh chị tôi không có hộ khẩu đăng ký tạm trú?

- Khổ thế đấy chú! Anh chị Tường đến đây không có giấy tờ gì cả, 18 năm nay chính quyền xã đã liệt hẳn vào diện gia đình KT3. Anh ấy là cựu chiến binh, bị nhiễm chất độc da cam, chúng tôi đã làm hết sức nhưng không xin được bất cứ một chế độ bảo hiểm nào, bởi anh chẳng có một thứ giấy tờ nào chứng minh mình là quân nhân. Cay cực thế chứ!

An thảng thốt nhìn lên bàn thờ, nhìn chiếc ba lô năm xưa anh Tường niêm phong kỹ càng mới giao lại cho anh. Nỗi niềm gì đây? Sao lại cay cực đến thế anh ơi! An châm nhang, quỳ xuống, những chấm đỏ lay động trên đầu anh. Mọi người trong nhà cũng quỳ vái theo anh… Mảnh niêm phong được bóc từ từ bằng một bàn tay run rẩy. Bộ quân phục màu cỏ úa Tô Châu đã sờn lộ ra, lộ ra cả một bên túi áo phồng phồng. Bàn tay run rẩy mở túi. Run rẩy đọc một dòng chữ: “Xin thân nhân hãy mặc cho tôi chiếc áo này trước khi đặt tôi vào quan tài”. An đổ gục xuống. Mảnh giấy cũng gục xuống theo anh…

An không còn đủ sức, tôi phải thay anh xem xét các kỷ vật trong ba lô. Một bộ quân hàm trung úy, một quyết định phục viên do Quân khu 3 cấp, bằng Dũng sỹ diệt cơ giới Mỹ nữa này… Tường ơi! Sao phải niêm phong thế này, sao không chịu đưa những thứ giấy tờ này cho tôi hả Tường…

Đêm ấy An thủ thỉ với tôi: – Chị Hiên em là cô giáo cấp III, nết na lắm, người làng bên. Khổ thân anh chị em! Sinh cháu Hà ra được hai ngày thì cụ Thìn trưởng tộc đến nhà đay bố em rằng: “Da cam với chẳng da quýt. Da quýt là trần bì, một vị thuốc bắc chỉ có “công” chứ không có “phạt”. Vô phúc đấy! Con trai nhờ đức mẹ. Con gái nhờ đức cha. Bảy đời nhà con Hiên, tao biết. Bỏ ngay mẹ con nó đi”. Thầy u em thì kính nể cụ trưởng tộc, nên ngày đêm ép anh Tường phải bỏ mẹ con chị Hiên. Không chịu nổi nên anh Tường em mang vợ con trốn khỏi nhà, chỉ để lại một mảnh giấy. Mảnh giấy ấy đây anh.

Chữ trong mảnh giấy đã nhòe, nhòe như mắt tôi: “Con xin chịu tội bất hiếu, thầy u, ông bà, chú bác hãy xem như con đã chết trên chiến trường mà tha thứ cho. Con xin mang theo Hiên và cái “vô phúc” đến tận cuối trời. Xin đừng ai mất công tìm bới”.

Mẹ con Hiên đang ôm nhau ngủ trong nhịp thở khò khè. Miệng con bé Hà chảy tràn một thứ dãi dớt quen thuộc. Cổ chân lành lặn của nó… lại kéo mãi ra một sợi dây xích.

Tường ơi… Tôi chỉ còn biết quặn thắt kêu tên anh!!!

Đambri, tháng 7/2018

Trần Minh Quý
(TP. Bảo Lộc – Lâm Đồng)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 513

Ý Kiến bạn đọc