Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Ông Chín Cần và ký ức những căn hầm bí mật

Trên bước đường công tác, hơn ai hết những cán bộ lãnh đạo càng mang nặng ơn sâu nghĩa nặng của đồng bào. Hơn nửa thế kỷ sau, ông Nguyễn Văn Chính (tên khai sinh là Cao Văn Chánh), thường được gọi thân mật là Chín Cần – nguyên Huyện ủy Cần Giuộc, Bí thư tỉnh Long An, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, Ủy viên Trung ương Đảng vẫn nhớ như in những căn hầm bí mật đã từng che chở ông trong những năm kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Hơn 10 năm trước, khi thực hiện quyển sách lịch sử Phụ nữ huyện Bình Chánh, tôi được ông Chín Cần đưa về Hưng Long, Quy Đức, Tân Quý Tây… Ông ân cần giới thiệu tôi với những người phụ nữ đã từng cưu mang, che chở ông trên bước đường làm cách mạng. Ông đi xa rồi nhưng những câu chuyện nghĩa tình ấy đọng mãi trong tôi…

Người đàn bà đãi bui

Đầu năm 1947, gia đình bà Lê Thị Bảy ở ấp 3 Tân Quí Tây đào hầm bí mật trong đìa để nuôi giấu cán bộ. Ông Chín Cần về xã công tác, bị giặc càn, tình thế cấp bách phải chui xuống hầm bí mật ngoài bờ ao. Vì hầm cá trê chỉ chứa tối đa được 2 người nhưng do giặc càn quá bất ngờ, 3 đồng chí của ta cùng chui xuống một hầm. Căn hầm trở nên quá chật hẹp khi có đến 3 người trú ẩn. Thiếu không khí, người trong hầm bị ngộp nên thở rất mạnh. Trong khi đó, bọn lính đã băng đồng vào nhà bà Lê Thị Bảy.

Ong-Nguyen-Van-Chinh-(Chin-Can)---Ba-Luu-Thi-Oanh-(ben-trai)
Ông Nguyễn Văn Chính (Chín Cần) – nguyên Bí thư Tỉnh ủy Long An, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng
– về thăm cơ sở cách mạng
ở Hưng Long (nay thuộc huyện Bình Chánh, TP.HCM). Bên trái là bà
Lưu Thị Oanh – con gái Liệt sĩ, nguyên Phó Bí thư Huyện ủy Cần Giuộc.

Bà Bảy lúc ấy còn rất trẻ, có nhan sắc, mới về nhà chồng. Không cần biết người dưới hầm là ai, chỉ biết đó là những cán bộ Việt Minh, bà Bảy nhanh trí tươi cười chạy ra ngõ, chào bọn lính. Để tỏ lòng mến khách, bà chủ động bắt gà tặng cho bọn lính. Chúng khen bà đẹp gái, đãi bui, vui vẻ không như những người đàn bà trong xóm khác, thấy chúng là mặt mày lạnh tanh, tỏ ra thù địch. Nói dăm ba câu, chúng kéo đi hướng khác. Nhờ vậy, những người dưới hầm thoát chết ngộp. Thật nguy hiểm, nếu như bọn lính ra sát bờ ao, bởi chính tiếng thở mạnh của những cán bộ dưới hầm sẽ tự tố giác nơi mình ẩn nấp.

Mối hôn nhân bị ép buộc

Bà Lê Thị Chiên, cũng ở xã Tân Quí Tây, gặp lại ông Chín Cần không ngăn được nước mắt. Bà nhắc về những kỷ niệm ở chiến khu Rừng Sác:

“Từ năm 1949, do địch tăng cường càn quét, cán bộ cách mạng không bám được địa phương phải rút về chiến khu Rừng Sác. Năm 1950, tôi tham gia công tác phụ nữ, xuống chiến khu Rừng Sác học chính trị. Xuống đây rồi, tôi mới thấy thương các đồng chí của ta biết bao. Chiến khu Rừng Sác tồn tại thể hiện phần nào quyết tâm sắt đá của đồng bào ta, quyết giành lại độc lập. Máy bay địch lùng sục. Chúng tôi luồn trong cây, ăn gạo lức, bắt vọp mà sống. Chúng tôi học được những điều nảy ra từ cuộc sống và chiến đấu đầy gian khổ, ác liệt trong chiến khu.

Chúng tôi nấu cơm vào ban đêm. Muốn nấu cơm vào ban ngày phải nấu bằng cây đước róc bỏ vỏ để tránh khói. Chúng tôi tuân thủ triệt để khẩu hiệu “Đi không dấu, nấu không khói”. Thanh niên xung phong thời chống Mỹ đã tiếp thu bài học ấy từ Rừng Sác thời chống Pháp để giữ bí mật lúc hành quân. “Qua sông giảm kỷ, qua lộ bạc đầu”. Câu nói ấy đã phản ánh sự ác liệt của chiến khu Rừng Sác. Mỗi lần cán bộ ta qua sông, địch bố rất dữ. Chúng muốn cắt mọi con đường tiếp tế để cô lập chiến khu. Vậy mà chiến khu Rừng Sác vẫn tồn tại. Sau khóa học chính trị, tôi trở về thành phố hoạt động hợp pháp. Thời ấy, con gái ngoài 20 chưa lập gia đình đã bị xem như lỡ thời. Dượng tôi nhắn tôi về xã dự đám cưới một người bà con rồi bắt tôi gả cho một người cùng làng…”.

Hơn nửa thế kỷ sau, ông Chín Cần cùng bà Lê Thị Chiên vẫn còn nhớ đến những tình huống kỳ diệu, thấm đẫm lòng dân nơi vùng địch chiếm, đóng đồn, kiểm soát đồng bào gắt gao. Ông Chín Cần cười hóm hỉnh, kể tiếp câu chuyện sau mấy mươi năm ngỡ đã chôn vùi theo năm tháng: “Nhờ mối hôn nhân bị ép buộc của chị mà tôi được cứu sống. Khi chị đi lấy chồng, chúng tôi hiểu hoàn cảnh của chị và động viên chị nên dựa vào hoàn cảnh hiện tại của mình làm thế hợp pháp hoạt động. Chồng chị buộc phải đi lính bảo an cho bọn Pháp nhưng nhờ sự “vận động” của chị đã hướng tấm lòng của anh ấy vào cách mạng. Tôi nhớ, dạo ấy là năm 1950; tôi về nhà Ba Dễ – một cơ sở ở xã. Lính bảo an ở xã đi ba-trui, kéo về hướng nhà Ba Dễ. Thấy động, tôi xuống hầm bí mật. Mấy tên lính lục soát, xôn xao: “Đ.M, mới thấy thằng Ba Dễ mà đâu mất tiêu rồi!”. Tìm mãi không thấy tay “Việt cộng” nào, Ba Dò – tên hương quản nổi giận ra lệnh: “Lấy rơm đốt nhà cho chúng nó chết ngộp hết đi!”. Anh Mười, chồng chị giả bộ đi lục soát khắp nơi trong nhà, gặp Ba Dễ nép trong buồng, nói nhanh: “Xuống hầm đi!”. Rồi anh Mười trở ra, báo cáo tên hương quản: “Không thấy có ai trong nhà hết”. Bọn lính rút đi. Nhờ vậy mà tôi thoát chết!”.

Ba-Le-Thi-Bay-(bia-phai)-nguoi-phu-nu-dao-ham-bi-mat-trong-dia-nuoi-giau-can-bo
Bà Lê Thị Bảy ở Tân Quí Tây – Bình Chánh (bìa phải), người phụ nữ đào hầm
bí mật trong đìa nuôi giấu cán bộ. Ảnh chụp 2002.

Tấm lòng má sáu điểu

Thật cảm động trước tấm lòng bà má Sáu Điểu (Nguyễn Thị Điểu) ở xã Hưng Long dành cho những cán bộ được má nuôi giấu. Hơn nửa thế kỷ sau, ông Chín Cần vẫn nhớ như in ngày giặc kéo tới ngôi nhà má:

“Đó là lần tôi về tỉnh Chợ Lớn họp (Căn cứ Tỉnh ủy Chợ Lớn lúc bấy giờ đóng ở Vườn Thơm). Ấy là năm 1950, tôi 24 tuổi, là Bí thư Huyện ủy Cần Giuộc. Khi băng qua chành lúa ở Tân Nhựt, tôi thấy lòng cồn lên nỗi thương nhớ mẹ vô kể. Mẹ tôi ở Tân Quí Tây, muốn thăm mẹ phải băng qua lộ Đông Dương (bây giờ là quốc lộ 1). Việc băng qua con lộ trong tình cảnh giặc đang đóng đồn bót dày đặc, càn quét liên miên ở khu vực này quả là điều nguy hiểm. Nhưng tôi không thể cưỡng lại nỗi nhớ mẹ… Vậy là tôi nói với anh Lưu Sĩ Biểu, lúc bấy giờ là Phó Bí thư Huyện ủy Cần Giuộc: “Cho phép tôi về nhà thăm mẹ một chút. Chờ tôi ở quán Bảy Xứng”. Anh Biểu gật đầu. Chỉ đợi có thế, tôi chạy băng qua cánh đồng. Về đến nhà đã 7 giờ tối. Mẹ tôi như có linh tính báo trước, chạy ra đón tôi. Tôi gọi lớn: “Mẹ”. Nước mắt mẹ chảy tràn trên má. Hồi đó, tôi không biết ôm mẹ hôn để bày tỏ tình cảm, chỉ có tiếng gọi “Mẹ” trào ra từ lồng ngực là chất chứa bao điều. Mẹ tôi cũng không bày tỏ tình cảm bằng cách ôm hôn tôi nhưng những giọt nước mắt của mẹ cùng nỗi mừng vui khiến đôi chân mẹ quýnh quáng, chạy về phía tôi cũng nói lên biết bao tấm lòng thương con của mẹ. Mẹ móc hết tiền trong túi ra, nói vội vã: “Cầm lấy mấy đồng rồi đi lẹ lên con. Thấy con bình yên là mẹ mừng lắm rồi. Đừng có nấn ná, Tây ruồng tới liền đó”. Nghe lời mẹ, tôi vội vã chạy đi. Được một quãng, thấy mẹ vẫn còn nhìn theo… Lòng tôi thắt lại, càng nung nấu ý chí quét sạch bọn xâm lăng để được về phụng dưỡng bên mẹ…

Tôi đến quán Bảy Xứng như đã hẹn. Đợi một lúc lâu vẫn không gặp được các đồng chí trong đoàn. Tôi thầm hiểu: Vậy là bọn Pháp vừa càn qua đây nên các đồng chí đã bọc đường đi hướng khác rồi. Tôi rời quán đi một khúc đường nữa, gặp các cô bác nông dân đang cuốc đất. Nhận ra tôi, cô bác rất mừng. Một ông già xăng xái nói: “Chú cứ ở lại, có hầm bí mật bảo vệ. Sáng hôm sau chú tìm cách liên lạc rồi đi…”.

Vậy là tôi được đưa đến nhà má Điểu ở Hưng Long. Tôi đã từng về đây tuyên truyền, diễn thuyết nên bà con đều biết mặt. Gặp lại tôi, má Điểu mừng rỡ nói: Chú Mười Tuyên Truyền mới về hả? Chà, tối rồi, ăn uống gì chưa? Không cần nghe tôi trả lời, má Điểu đã cắt đặt việc cơm nước. Từ dưới bếp lên, Má nói nhỏ vào tai tôi: “Cơm nước xong chú chui vô hầm rơm mà ngủ cho khỏe để sáng diễn thuyết cho bà con nghe!”. Tối đêm đó, tôi qua đêm an toàn cùng hai đồng chí ở xóm trong cái hầm rơm an toàn, ấm áp. Sáng dậy, tôi ra khỏi hầm mới biết suốt đêm qua má đã cắt đặt người canh 4 góc hầm bí mật. Má bưng lên dĩa khoai từ cùi còn bốc khói. Tôi đang ăn ngon lành củ khoai thì nghe có tiếng báo động “Tây bố”. Tôi định chui xuống hầm rơm đêm qua, má hốt hoảng nói: “Hổng được con ơi, chui xuống hầm đất kín hơn”. Tôi chưa kịp phản ứng, má đã kéo ngược tay tôi chỉ hầm bí mật bằng đất.

Tôi còn nhớ sáng hôm ấy trời còn mờ sương. Khi tên quản Bơm dẫn lính từ bót Quán Cơm đi tuần tiễu ấp 5 của Hưng Long, sục vào nhà má Điểu thì tôi và Sáu Sảng đã yên vị dưới hầm bí mật của má. Trong khi ấy chúng khám nhà, phát hiện được chiếc ba lô của tôi, trong đó có giấy tờ, tài liệu vừa đi họp trên tỉnh về và một viên đạn. Vì chiếc ba lô ấy mà chúng xúm lại đánh đập má và chị Hai Mai – con dâu má dã man. Không lung lạc được má Sáu Điểu và con dâu, địch nghĩ ra kế hiểm độc. Vì má Sáu Điểu là một tín đồ của đạo Cao Đài nên chúng tung ra đòn tác động vào lòng tin của má, bắt má Sáu Điểu phải thề trước bàn thờ Đức Thầy: “Nhà tôi có chứa Việt Minh mà tôi nói không có thì Thầy cho tôi hộc máu”. Có một niềm tin lớn hơn vào chính nghĩa đã giúp má chiến thắng nỗi hoang mang, sợ hãi. Để chúng tin, má đã thề. Không lung lạc được má và chị Hai Mai, chúng hạ lệnh đốt rơm. Má Điểu và chị Hai Mai lúc ấy rất sợ chúng tôi sẽ bị ngộp nên lanh trí van nài, vừa tranh thủ thời gian quý báu, ôm từng ôm rơm tấp lên miệng hầm nghi trang cho kín đáo. Má không ngờ vì quá lo cho sự an toàn của những đứa con dưới hầm mà một tình huống trái khoáy đã diễn ra. Vì miệng hầm bị bịt kín khiến 4 người gồm tôi, anh Hai Mai, 2 đồng chí nữa ở xã rất ngộp. Dưới hầm, tôi nghe rõ tiếng bọn quản Bơm tra tấn, đánh đập má Sáu. Sau này, chúng tôi mới biết thêm, quản Bơm đã đánh má Sáu đến ngất xỉu trước bàn thờ Thầy. Xong chúng đổ nước cho má tỉnh dậy rồi bắt má xuống ao mò hầm bí mật. Chúng đã tra tấn má Sáu Điểu và chị Mai – con dâu má từ sáng cho đến 4 giờ chiều. Lúc ấy, dưới hầm tôi không còn chịu đựng được nữa, đề nghị anh em cho mượn con dao, định khoét rộng nắp hầm nhưng anh em ngăn lại, nghĩ rằng tôi sẽ xông nắp hầm quyết sống chết với chúng. Quá sức chịu đựng, tôi bất tỉnh. Kỳ lạ thay, trong giấc mơ giữa lằn ranh sống chết ấy, tôi lại nhìn thấy cha và người anh tôi đã hy sinh nhìn tôi đăm đăm, cái nhìn như để động viên, nhắc nhở. Tôi tỉnh dậy khi có nghe tiếng kêu lố nhố:

- Tụi bây, mau, bắt con heo khô đó, lẹ lên!

“Heo khô?!”, phải chăng là tiếng lóng chúng ngầm ám chỉ chúng tôi đang trốn dưới hầm?! Tôi thầm nghĩ. Tôi nhận ra 3 đồng chí kia đã bất tỉnh. Nhờ vậy, tôi liều lấy con dao ngoáy lỗ thông hơi cho rộng ra một chút. Tôi lắng tai nghe ngóng, chờ đợi, vui mừng khi biết chúng đang đuổi heo khô thật – những con heo sạch sẽ chạy trên bờ để đem về đồn làm thịt. Lúc ấy vào khoảng 5 giờ chiều, những người trong xóm chạy tới nhà má Sáu Điểu giúp đưa chúng tôi lên hầm.

Lên khỏi hầm, tôi nhìn thấy chị Hai Mai nằm sóng soài, bất tỉnh trên nền nhà. Chúng đánh chị quần áo tơi tả, gần như trần truồng, hai con nhỏ của chị, đứa lớn độ 6 tuổi, đứa nhỏ độ 2 tuổi đang ôm lấy mẹ òa khóc. Tôi phóng vào xóm tìm bộ quần áo tăng đầm cho bà con phủ lên người chị.

Chúng tôi vô cùng xúc động khi hiểu ra, trước khi rút đi, chúng bắt má Sáu Điểu và chị Hai Mai theo. Nếu cả hai mẹ con má Sáu bị bắt đi, chúng tôi chết ngộp dưới hầm là điều không thể tránh khỏi. Vì lẽ đó, chị Hai Mai bày kế hoãn binh: Xin chúng ở lại dọn dẹp nhà cửa rồi lên sau. Kỳ thật là chị nấn ná ở lại để tìm cách giở nắp hầm cho chúng tôi khỏi chết ngạt. Và vì thế mà chúng đã đánh đập chị đến bất tỉnh. Tôi không biết dùng lời nào để diễn tả hết lòng biết ơn của chúng tôi đối với hai má con má Sáu. Khi bọn giặc về đồn còn khiêng theo mấy bộ ván, ghế bàn tròn và 2 con heo sáu, bảy chục ký của gia đình má Sáu. Đây là cuộc chiến đấu ác liệt diễn ra giữa một bên là lũ Việt gian bán nước, một bên là 2 người phụ nữ cô thế nhưng lòng dạ chắc hơn thép, cuối cùng bọn hung thần quản Bơm phải chịu thất bại!”.

Gặp lại người xưa, ông Chín Cần xúc động nói: “Tấm lòng nhân dân, những căn hầm bí mật đã theo suốt cuộc đời tôi, nhắc nhở tôi khi có hòa bình, đừng bao giờ bội bạc, quên ơn những người đã cưu mang, che chở, nuôi nấng mình trong những tình thế hiểm nghèo nhất”. Phải chăng vì món nợ quá lớn với nhân dân, mà khi ông làm Bí thư Tỉnh ủy, Long An là một trong những nơi đột phá cơ chế quan liêu bao cấp, cởi trói cho hạt gạo, để người nông dân được ấm no ngay trên mảnh đất mình nhọc nhằn có được! Bằng bản lĩnh, trí tuệ và sự dũng cảm, ông Chín Cần mạnh dạn mở mũi đột phá “bù giá vào lương” lấy Long An làm thí điểm, tạo tiền đề cho thành phố Hồ Chí Minh tháo gỡ một cơ chế bất hợp lý, kềm hãm sức sản xuất. Thấm thía tấm lòng nhân dân đã từng đùm bọc, cưu mang, che chở ông trong chiến tranh, mà trong ngày hòa bình, ông Chín Cần càng thấy trách nhiệm làm cho cuộc sống đồng bào được no ấm, phồn vinh. Đó là một công việc không dễ dàng nhưng bằng cái tâm của người cộng sản chân chính, ông đã dũng cảm vượt qua nhiều rào cản, trói buộc để mang lại một cuộc sống ấm no và khởi sắc trên quê hương thấm tình đồng bào, thấm máu bao thế hệ đã ngã xuống.

Trầm Hương
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số Xuân 2017

Ý Kiến bạn đọc