Tản văn

Ong bầu

U… u… u…

Điệu nhạc bí ẩn vọng ra từ nhánh cây khô lớn bằng cườm tay, thân bị khoét chi chít những lỗ tròn như ống sáo.

Chắc bạn đang tự hỏi: Nhạc công nào chơi? Xin thưa: Ong bầu. Nếu bạn lại hỏi: Cây sáo khổng lồ kia do ai chế tác? Xin thưa: Cũng… ong bầu!

Anh-minh-hoa---Ong-bau

Ong bầu non nâu đỏ, khi trưởng thành bụng đen, chân đen, lưng đeo thêm tấm giáp vàng, thân lớn cỡ đốt tay. Một loài ong có kích thước “khổng lồ” trong họ nhà ong. “Cây sáo” là tổ ong. Mỗi tổ cư trú một “cộng đồng”, thường không quá 10 thành viên. Quan sát bằng mắt thường, thấy “cộng đồng” này đầy bình đẳng, tất cả đều góp sức chung tay mà làm việc, không phân thứ bậc, sang hèn…

Lạ lùng lắm, cảnh ong bầu làm tổ. Không “xây” mà “khoét”. Chọn cành cây gỗ mềm, thân thẳng, chúng dùng đôi hàm cực khỏe… gặm, gặm mãi. Cái “lỗ sáo” dần thành hình. Ong chui vào, chui ra, “mài” cho cái lỗ thật tròn, thật vừa vặn với thân ong. Hết “lỗ sáo” đến “bụng sáo”. Con đường “mộc đạo” rộng thênh luồn dọc cành khô được ong cần mẫn gặm, ngày nối tiếp ngày. Chưa hết, còn vô số những đường nhánh, ngóc ngách, lối thoát hiểm… – tất cả các kiểu “địa đạo” mà con người nghĩ ra thì con ong bầu cũng đã nghĩ ra (và có lẽ còn nghĩ ra trước cả con người!). Kiểu tổ ấy khiến ong bầu hay chọn những loại cây có thân gỗ xốp, mềm hoặc rỗng ruột tự nhiên như tre trúc hoặc sầu đâu mà làm tổ cho đỡ tốn công…

Ong bầu không làm mật. Mật hoa và phấn hoa ong “tải” về, ngào, ủ lên men thành một hỗn hợp sền sệt, chua chua, ngòn ngọt, thơm thơm. Đó là thức ăn của ong non (và của cả ong bố mẹ những lúc gió bấc, mưa dầm). Lũ trẻ ngây ngô chúng tôi bảo là “cứt” ong. Ấy vậy nhưng, khi phá tổ ong bầu, bao giờ cả đám cũng tranh nhau chỗ “cứt ong” ấy mà thưởng thức…

Vóc dáng to lớn, nhưng “chàng nhạc công” ong bầu lại hiền khô. Chính cái “hiền khô” ấy khiến chàng thành nạn nhân của lũ trẻ con nghịch ngợm chúng tôi. Phát hiện tổ, chúng tôi lẳng lặng dùng lá cây nút kín các “lỗ sáo”. Chừa một lỗ duy nhất, dùng túi nilon trùm kín, rồi chúng tôi bắt đầu… gõ. Tiếng gõ bồm bộp vào “thân sáo” khiến ong hốt hoảng, cuống cuồng tìm lối thoát. Cửa thứ nhất: bít kín. Cửa thứ hai: bít kín… A! Kia rồi, còn một cửa có ánh sáng. Ong vội vàng tới tấp chui ra, và… hấp! Rơi ngay vào túi.

Đập tổ, xơi “cứt” ong chán chê xong, chúng tôi bắt đầu “nghe nhạc”. Một thùng sắt tây mỏng lật úp, đặt chú ong lên đáy thùng, đè thêm chiếc đĩa nhỏ lên trên – vậy là ong bầu bắt đầu “hát”. Tiếng “hát” rền rền, ảo não cứ kéo dài suốt buổi, suốt ngày cho đến khi ong… chết. Mang ong đi chôn, có đứa còn gạt nước mắt, nhưng vài hôm sau lại quên mất, lại rủ nhau tìm bắt tổ ong bầu…

Ong bầu, một góc của tuổi thơ tôi, một mảnh của ngày hè thôn dã, một phần của những hoài niệm, tiếc thương không trở lại bao giờ…

Y Nguyên
(Huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 410

Ý Kiến bạn đọc