Thời sự văn nghệ

“Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một”

Tư tưởng sâu sắc và lời khẳng định: “Nước Việt Nam là một, dân tộc ViệtNam là một” được Chủ tịch Hồ Chí Minh nói tới lần đầu vào tháng 2/1958. Còn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Người đã bảy lần nói đến điều này. Điều đó cho thấy sự nhất quán của Người về tính thống nhất, không thể chia rẽ, tách rời Nam bộ khỏi Việt Nam, cũng như về thắng lợi tất yếu của sự nghiệp cách mạng giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Cầu Thị Nghè ngày 30 tháng 4 năm 1975

Cầu Thị Nghè ngày 30 tháng 4 năm 1975

Song, nếu nhìn sâu xa hơn, “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một” còn là chân lý ngàn đời của lịch sử Việt Nam; một tình cảm thiêng liêng, một ý chí sắt đá bảo vệ toàn vẹn non sông, mà không một thế lực ngoại bang hay cơ hội trong nước nào có thể phá vỡ được, dù cho đó là lịch sử nghìn năm qua hay mãi mãi sau này vẫn vậy.
1.  Tư tưởng thống nhất dân tộc được .thể hiện từ truyền thuyết thuở vua Hùng dựng nước, câu chuyện cùng chung bọc trứng “đồng bào”, chuyện 99 con voi chầu về một hướng để nhắc nhở những ai muốn đổi lòng nhìn theo hướng khác sẽ phải chịu những hậu quả nặng nề, bị lịch sử phủ định.
Loạn 12 sứ quân là cuộc chia cắt đầu tiên của dân tộc, đưa nước ta rơi vào cảnh cát cứ, hỗn loạn kéo dài hơn
20 năm, từ năm 944 đến 968. Trong những năm đất nước phân chia như vậy, nhân dân ta trở thành những nạn nhân kẹt cứng trong cuộc chiến tương tàn giữa các phe phái phong kiến ích kỷ, chỉ biết quyền lợi riêng tư và phóng tay chém giết đối phương, tàn sát những người bị tình nghi không phải là phe của mình. 12 sứ quân bị Đinh Bộ Lĩnh tiêu diệt, đem lại thống nhất cho dân tộc. Được như vậy, m ột phần do tài trí của Tiên Hoàng, song phần chính do lòng dân muốn thống nhất, không chịu chia cắt. Đây là thắng lợi của xu hướng thống nhất quốc gia, của tinh thần dân tộc và ý chí độc lập trong nhân dân.
Trịnh – Nguyễn phân tranh là thời kỳ phân chia giữa chế độ “vua Lê – chúa Trịnh” ở phía Bắc sông Gianh (Đàng Ngoài) và chúa Nguyễn cai trị ở miền Nam (Đàng Trong), mở đầu khi Trịnh Tráng đem quân đánh Nguyễn Phúc Nguyên năm 1627 và kết thúc vào cuối thế kỷ XVIII khi nhà Tây Sơn dẹp cả chúa Nguyễn lẫn chúa Trịnh. Nước ta bị chia cách hơn 100 năm. Nguyễn – Trịnh phân tranh làm yếu đất nước, làm khổ nhân dân. Cả Nguyễn lẫn Trịnh bị Tây Sơn tiêu diệt, trước hết, chính vì cái tội làm phân tranh đất nước. Nước nhà trở lại thống nhất, sức mạnh tinh thần và vật chất dồi dào, góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng trước 29 vạn quân Mãn Thanh của Nguyễn Huệ – Tây Sơn.
Thời Pháp thuộc, thực dân Pháp chia nước ta ra ba kỳ, ba xứ riêng lẻ: Nam kỳ – Cochinchine, Trung kỳ – An nam, Bắc kỳ – Tonkin, với ba chế độ khác biệt, hòng dễ bề cai trị. Năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã lãnh đạo nhân dân làm nên thắng lợi cách mạng tháng Tám năm 1945. Chính phủ Vi ệt Nam Dân chủ Cộng hòa được khai sinh và tuyên bố độc lập, thống nhất, xóa bỏ chế độ phân chia Bắc – Trung – Nam của thực dân, phát xít. Trở lại xâm lược nước ta lần thứ hai, thực dân Pháp lại giở thủ đoạn chia rẽ thâm độc. Chúng bày mưu cho bọn Việt gian đưa ra chiêu bài “Nam kỳ tự trị”, nhằm tách rời Nam bộ với Tổ quốc Việt Nam, tách nhân dân Nam bộ với đồng bào cả nước. Ngày 31/5/1946, trước khi lên đường sang Pháp đàm phán (trong bối cảnh, ngày 27/5/1946, Cao ủy Đông Dương là d’Argenlieu đơn phương tán thành việc thành lập Cộng hòa tự trị Nam kỳ và ngày 01/6/1946, ra tuyên cáo ở Sài Gòn), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi đồng bào Nam bộ những lời xúc động: “Đồng bào Nam bộ là dân nước Việt Nam. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi”. Khi trở về nước, nói chuyện với đồng bào, nhưng cũng gián tiếp nói với Chính phủ Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại khẳng định tính chất thống nhất của đất nước ta, dù miền Nam hay miền Bắc, đồng bào ta đều là “con một nhà”, “chung một tổ tiên, dòng họ”, “là ruột thịt anh em”, vì vậy, “không ai có thể chia rẽ nước Việt Nam ta”. Đi ngược lại quy luật này như lịch sử đã thấy: từ kẻ tay sai là Thủ tướng Chính phủ Cộng hòa tự trị Nam kỳ Nguyễn Văn Thinh đã thắt cổ tự tử, đến thất bại hoàn toàn của thực dân Pháp tại Điện Biên Phủ năm 1954.
Trong cuộc kháng chiến chống
• Mỹ, cứu nước. Ngay từ đầu, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh không chủ quan về một kẻ thù mới là đế quốc Mỹ, song vẫn hy vọng về sự nghiệp thống nhất đất nước sẽ có được sau hai năm ký Hiệp định Genève về Đông Dương. Bởi, những điều khoản trong Hiệp định về sự đảm bảo chủ quyền, độc lập, thống nhất, và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, vĩ tuyến 17 chỉ có ý nghĩa quân sự, tạm thời và một cuộc tổng tuyển cử tự do năm 1956 trên toàn quốc để hoàn toàn thống nhất đất nước. Song, điều dự báo và không mong muốn đó đã thành sự thật.
Mỹ – ngụy đã phá hoại Hiệp định hòng chia cắt đất nước, tách Nam bộ ra khỏi Việt Nam. Chúng đóng cửa vĩ tuyến 17, canh giữ sông Bến Hải, ngăn cầu Hiền Lương, chia cắt không cho Nam – Bắc hiệp thương, giao thương, quan hệ. Chúng còn bầy trò “trưng cầu dân ý” phế truất Bảo Đại, đưa Ngô Đình Diệm làm Tổng thống (tháng 10-1955), tổ chức bầu cử riêng rẽ, lập quốc hội lập hiến (tháng 5-1956), ban hành hiến pháp của “Việt Nam Cộng hòa” (tháng 10¬1956). Vì vậy, phải 21 năm sau ngày giải phóng miền Bắc, bằng thắng lợi của sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ thì giang sơn Tổ quốc Việt Nam mới được thu hồi trọn vẹn.
Trở lại lịch sử trong bối cảnh đó, nhân dân Việt Nam buộc phải tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước với đặc điểm lớn và bao trùm nhất là đất nước bị chia làm hai miền. Nhưng Việt Nam là một cơ thể thống nhất, từ đất liền ra hải đảo, không thể tách rời. Đảng và Bác Hồ đã nhiều lần khẳng định: “Nước Việt Nam nhất định sẽ thống nhất, vì nước ta là một khối, không ai chia cắt được”1, “Nam Bắc là một nhà, là anh em ruột thịt, quyết không thể chia cắt được”2, “Trung Nam Bắc đều là bờ cõi của ta, nước ta nhất định sẽ thống nhất”3, “nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, không ai có thể chia cắt được ”4, “Đồng bào Nam bộ là dân nước Việt Nam. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi!”5… Tinh thần ấy được thể hiện cụ thể trong chỉ đạo chiến lược cách mạng Việt Nam của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Đó là giải quyết mối quan hệ nhiệm vụ giữa hai miền Nam – Bắc trong một thể thống nhất, tạo nên sức mạnh to lớn để đánh bại quân thù. Miền Nam và miền Bắc, mỗi miền thực hiện một nhiệm vụ chiến lược riêng: miền Bắc tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa, miền Nam tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Song, giữa cách mạng miền Nam và cách mạng miền Bắc có mối quan hệ hữu cơ gắn bó chặt chẽ với nhau, thúc đẩy lẫn nhau cùng thực hiện một mục tiêu chung của cách mạng Việt Nam là giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Những điều này, ngay từ tháng 9/1955, tại Đại hội thành lập Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phân tích: “Miền Bắc là nền tảng, là gốc rễ của lực lượng đấu tranh của nhân dân ta”6. Trong thư gửi cán bộ và đồng bào miền Nam tập kết ở miền Bắc (tháng 6/1956), Người căn dặn: “Miền Bắc là cái nền, cái gốc của cuộc đấu tranh hoàn thành giải phóng dân tộc, thực hiện thống nhất nước nhà”1. Thực tiễn đấu tranh, nhân dân ta ở cả hai miền Nam Bắc ngày càng nhận thức sâu sắc vị trí quan trọng của cách mạng hai miền. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ ba của Đảng Lao động Việt Nam (tháng 9/1960), Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam lúc này là: “Đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước”. Như vậy, có thể thấy, nhân dân Việt Nam, kể cả miền Bắc và miền Nam đều chung một kẻ thù, một mục tiêu; sự nghiệp cách mạng vẫn do một đảng lãnh đạo, một nhân dân và một quân đội tiến hành. Thực tiễn cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược chứng minh rằng, sự gắn bó của cách mạng hai miền đã tạo sức mạnh vô địch trên toàn đất nước.
Chẳng thế mà, khi kẻ thù không từ bỏ âm mưu nô dịch nước ta, lại tiếp tục lún sâu, gây chiến tranh phá hoại ở miền Bắc (tháng 8/1964), ở miền Nam, chúng trực tiếp đưa quân Mỹ vào xâm lược (đầu năm 1965), thì lúc này, từ Bắc chí Nam, cả nước ta là một chiến trường đánh Mỹ. Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định cho nhân dân hai miền Nam Bắc là: “Chống Mỹ, cứu nước là nhiệm vụ thiêng liêng nhất của mọi người Việt Nam yêu nước”. Và thực tế, đế quốc Mỹ không những không thể ngăn cản sự chi viện của miền Bắc cho miền Nam, mà miền Bắc đã dốc vào cuộc chiến tranh giữ nước và cứu nước toàn bộ sức mạnh và quyết tâm: tất cả cho tiền tuyến lớn, tất cả cho miền Nam ruột thịt. Đường Hồ Chí Minh chẳng những là đường vận tải chiến lược mà còn là một căn cứ, một chiến trường, một biểu tượng nổi bật của ý chí Việt Nam “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”. Còn nhân dân miền Nam, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Trung ương Cục, đã thể hiện vai trò quyết định trực tiếp trong việc đánh đổ đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, thực hiện sáng tạo đường lối cách mạng của Đảng trong cuộc chiến đấu kiên cường, bền bỉ, vượt qua mọi thử thách ác liệt, tạo ra sức mạnh mới như đồng khởi, vành đai diệt Mỹ, đánh địch bằng hai chân, ba mũi, ba vùng, giữ vững danh hiệu Thành đồng của Tổ quốc.
Do vậy, thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 là thắng lợi của tinh thần dân tộc, của khối đại đoàn kết toàn dân, không phân biệt vùng miền, tôn giáo, sắc tộc, là chiến thắng của truyền thống, ý chí Nam Bắc một nhà (cũng chính thế, chiến thắng mà Sài Gòn vẫn toàn vẹn, đường phố ngập cờ hoa, không có tàn phá, cướp bóc, trả thù). Đúng như lời đồng chí Lê Duẩn nói tại lễ mừng đại thắng ở Hội trường Thống nhất ngày 15/5/1975: “Thắng lợi hôm nay của chúng ta rất vĩ đại. Chúng ta đã giải phóng được miền Nam, thống nhất đất nước. Trong sự nghiệp này, nhân dân ta ở miền Nam cũng như ở miền Bắc đều hy sinh vô bờ bến. Vì vậy, thắng lợi này là thành quả của cả dân tộc. Chúng ta không một ai được quyền kể công tôi, công anh. Có chăng chúng ta chỉ góp một phần nhỏ mà thôi. Ai đánh giá công lao của mình quá cao, công thần chủ nghĩa thì người đó có tội với lịch sử…”9.
Đối với riêng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tâm trí, tình cảm của Người đối với đồng bào miền Nam, đối với sự nghiệp đấu tranh thống nhất đất nước là vô bờ bến. Với Người: “Một ngày mà Tổ quốc chưa được thống nhất, đồng bào còn chịu khổ, là một ngày tôi ăn không ngon, ngủ không yên”, “miền Nam yêu quý luôn luôn trong trái tim tôi”. Người coi việc nước nhà chưa thống nhất là nhiệm vụ của mình chưa tròn. Chính vì lẽ đó, trước anh linh, vĩnh biệt Người, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã thề: “… quyết chiến quyết thắng giặc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, thống nhất đất nước”.
Và điều đó đã đến bởi thắng lợi trong chính chiến dịch lịch sử mang tên Người – chiến dịch Hồ Chí Minh. Tháng 5/1975, vào dịp kỷ niệm 85 năm ngày sinh Bác Hồ, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói lên tấm lòng của toàn thể dân tộc đối với Người: “Hôm nay với niềm xúc động vô hạn, mọi người chúng ta đều muốn báo cáo với Bác rằng điều Bác căn dặn nhiều lần trong bản Di chúc: “Cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể còn kéo dài. Đồng bào ta có thể phải hy sinh nhiều của, nhiều người. Dù sao, chúng ta phải quyết đánh giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn”. Thưa Bác, điều căn dặn khẩn thiết đó nhân dân Việt Nam ta đã hoàn thành một cách rất tốt đẹp, và hôm nay chúng tôi kính dâng lên Bác bông hoa chiến thắng, bông hoa của những hạt giống mà Bác đã gieo, bông hoa tươi thắm của một mùa xuân nghìn năm có một”10.
Thắng lợi trong cuộc chiến tranh chống Mỹ, cứu nước 40 năm trước mỗi lần nhắc đến, lại tràn ngập trong mỗi người dân Việt Nam niềm tự hào về dân tộc, về tình cảm Nam Bắc một nhà, về niềm khát khao được sống trong một đất nước thống nhất, thanh bình.
Ngày nay, hoàn cảnh tuy đã có những thay đổi, nhưng ý chí thống nhất, tinh thần đoàn kết đã làm nên chiến thắng trong chiến tranh giữ nước vẫn là bài học hàng đầu, là sự nhắc nhở chúng ta trên con đường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong bối cảnh mới, xuất hiện nhiều nhân tố, thời cơ mới và cũng nảy sinh không ít những nhân tố kìm hãm, phá vỡ khối đại đoàn kết, đưa đến sự chia rẽ cộng đồng dân tộc. Những nhân tố đó như là phần chìm của tảng băng, khó phát hiện, và phát hiện được thì ngăn chặn sự phát triển, lây lan cũng không dễ dàng. Đặc biệt, thời gian gần đây, âm mưu chia rẽ dân tộc của các thế lực thù địch và phần tử xấu luôn diễn ra thường xuyên, liên tục, thể hiện trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Một số phần tử trong nước núp bóng dưới danh nghĩa “yêu nước”, “bảo vệ dân oan”, “phong trào dân chủ”, “mạng lưới blogger”… ra sức tiếp tay cho các hoạt động chống phá từ bên ngoài, kích động người dân biểu tình, hình thành những trào lưu đối lập… nhằm thực hiện mưu đồ chia rẽ, phá vỡ tính “thống nhất” của dân tộc. Một số khác thì không ngừng đưa ra những bài viết có nội dung xuyên tạc, nói xấu những lãnh tụ của cách mạng Việt Nam từ Chủ tịch Hồ Chí Minh đến các vị lãnh tụ khác của Đảng trong các thời kỳ; xuyên tạc chủ trương, đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; bôi lem cán bộ lãnh đạo Đảng và Nhà nước… Tất cả hoạt động trên của các thế lực thù địch không chỉ nhằm làm suy giảm, tiến tới làm mất lòng tin của quần chúng nhân dân vào Đảng Cộng sản Việt Nam, vào sự nghiệp cách mạng; mà lớn hơn, chúng còn nhằm gây mâu thuẫn chia rẽ giữa đồng bào trong nước với nhau; giữa đồng bào trong nước với đồng bào ở nước ngoài. Song, nhân dân Việt Nam luôn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và các thế lực thù địch cần phải hiểu rằng, dân tộc Việt Nam có tình yêu nước nồng nàn, tinh thần đoàn kết gắn bó lâu đời, được thử thách qua nhiều thăng trầm của lịch sử, sự kết dính của tình dân tộc không thế lực thù địch nào có thể chia rẽ được. Ngoài ra, ý chí thống nhất để phấn đấu cho mục tiêu tối cao là độc lập, tự chủ được hình thành từ rất sớm trong đại gia đình dân tộc Việt Nam. Ở Việt Nam, “thống nhất” gắn liền với “độc lập”. Muốn độc lập phải thống nhất thì mới có đủ sức mạnh để giữ nước và dựng nước. Mọi xu hướng cát cứ, chia cắt đều không tồn tại được lâu dài vì đi ngược yêu cầu đó.
Trải qua mấy ngàn năm, độc lập và thống nhất đã trở thành lẽ sống thiêng liêng nhất của dân tộc Việt Nam.
Nước Việt Nam là một. Dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi. Và vì vậy, việc bảo vệ và giữ gìn sự toàn vẹn lãnh thổ (đất liền và biển đảo) là nghĩa vụ và trách nhiệm thiêng liêng của mỗi người Việt Nam từ xưa đến nay.
(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 10, tr. 102.
(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 9, tr. 226.
(3) Sđd, tập 9, tr. 2.
(4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 11, tr. 264.
(5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 4, tr. 280.
(6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 10, tr. 130.
(7) Sđd, tr. 350.
(8) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 14, tr. 533.
(9) Lê Duẩn – Một nhà lãnh đạo lỗi lạc, một tư duy sáng tạo lớn của cách mạng Việt Nam (Hồi ký), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, tr. 920.
Phạm Văn Đồng, Diễn văn khai mạc cuộc mít-tinh kỷ niệm lần thứ 85 ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Báo Nhân dân, ngày 20/5/1975.

 

ThS. NGUYỄN VĂN ĐẠO

(Học viện Chính trị khu vực II)

Ý Kiến bạn đọc