Ngoài nước

Nước Nga dưới con mắt của một du khách Việt Nam cuối thế kỷ XVIII

Trong thành phố Lisbon ấm cúng và xinh đẹp nơi tôi có dịp đặt chân đến theo lời mời của Quỹ Phương Đông (Fudacao Oriente), tôi thích nhất là được đi dạo qua những nơi mà một người Việt Nam tên là Philiphê Bỉnh cách đây 200 năm đã đến công cán dưới triều của quốc vương Bồ Đào Nha.

Một thành quả rất quan trọng, tuy có phần xa xôi, của thời đại có những khám phá vĩ đại về địa lý là sự hình thành khái niệm về văn hóa thế giới và văn học thế giới. Năm 1827, nhà đại thi hào Đức I.V.Goethe đã viết về nền văn học thế giới. Quy mô toàn thế giới của những mối giao lưu văn hóa, những mối quan hệ văn học giữa phương Đông và phương Tây càng ngày càng trở thành hiện thực. Về một sự kiện như vậy của những mối liên hệ giữa Việt Nam và châu Âu, tôi sẽ đề cập trong bài viết này.

Thế kỷ XVIII, thế kỷ Khai sáng châu Âu, trong một khoảng thời gian nhất định đã chọn Trung Quốc là nước theo đạo Khổng và dường như cùng nhau cai trị ở đó là một hoàng đế kiêm triết gia và những nhà triết học – quần thần của vua, làm lý tưởng của mình. Những quan điểm như vậy hồi đó được phổ biến ở châu Âu, cho nên nhà văn Anh Oliver Goldsmith đã đặt tên cho loạt bài ký sự về sinh hoạt – xã hội nổi tiếng của mình được công bố ở Luân Đôn năm 1762 là “Công dân của thế giới, hay Những bức thư của nhà triết học Trung Quốc sống ở Luân Đôn gửi cho các bạn của ông ta ở phương Đông”. Nhà triết học Trung Quốc trong cuốn sách của Goldsmith đã miêu tả qua những bức thư cuộc sống của nước Anh: anh chàng Tàu thông minh và tốt bụng đã thấy nhiều cái lạ lùng và phi lý trong phong tục tập quán của người Anh: xét về thực chất, đó là những bức tranh châm biếm về đời sống của họ. Và nói chung, tập ký sự của Goldsmith mang tính chất ngụy phương Đông, còn nhà triết học Trung Quốc là một nhân vật ước lệ thuần túy.

Trên thực tế thì trong các thành phố châu Âu vào cuối thế kỷ XVIII khoa học không hề biết đến một người Trung Quốc nào mà có ý định và đã viết về cuộc sống châu Âu.

Thế nhưng có một người Việt Nam đã sống không phải trên bờ sông Temza ở nước Anh, không phải ở Luân Đôn, mà trên bờ sông Tezhu của Bồ Đào Nha, ở Lixbon và đã viết không hẳn chỉ về nước Anh mà chủ yếu về châu Âu và những người Âu, về Việt Nam và những người Việt Nam, hơn nữa quả thật ông cũng viết về Trung Quốc và người Trung Quốc, về Macao (Aomưn) và những người dân sống ở đó. Và ông ta cũng rất quan tâm đến nước Nga. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử văn hóa Việt Nam. Ông viết bằng tiếng Việt, bằng chữ quốc ngữ mà phần nào mang tính chất Bồ Đào Nha hóa hơn là chữ viết hiện đại, ông viết cho bè bạn của ông ở phương Đông, hay nói chính xác hơn, ở Việt Nam.

Đó là Philiphê Bỉnh, một linh mục Thiên chúa giáo của Việt Nam, sinh năm 1759 tại Việt Nam và năm 1796 đến Bồ Đào Nha, nơi ông sống hơn 35 năm, còn vào năm 1822 thì hoàn thành cuốn “Sách sổ sang chép các việc”.

Tại sao nước Nga lại thu hút sự chú ý của ông? Bởi vì nước Nga đã đương đầu với nước Pháp của Napoléon là kẻ tiến hành những cuộc chiến tranh xâm lược và năm 1807 đã chiếm đóng Bồ Đào Nha, quân Pháp đã làm những điều càn bậy, đã cướp bóc và chém giết. Đặc biệt Bỉnh không ưa nước Pháp của Napoléon. Hơn nữa, chính Napoléon đã bắt Giáo hoàng La Mã làm tù binh, điều này khiến cho giáo dân Bỉnh rất phẫn nộ.

Về tình hình những âm mưu chính trị không ngớt và những cuộc xung đột đổ máu đang diễn ra hồi đó ở châu Âu, Bỉnh nhận định như một nhà thông thái và như một triết gia không mảy may thua kém nhà triết học Trung Quốc do O.Goldsmith hư cấu. Hơn nữa, ông đem sự chung sống hòa bình giữa hai cường quốc láng giềng là nước Nga (Russia) và Trung Quốc (Đại Minh) đối lập với những sự lộn xộn, những mối bất hòa ở châu Âu thời ấy. “Thượng vị Đại Minh cùng thượng vị Russia đều tôn kính nhau chẳng như các nước phương Tây (Âu Châu N.N.) thường làm giặc với nhau cùng thường làm hòa thuận thì cho liền hình như trẻ mục đồng An Nam (tức Việt Nam N.N.) vậy”.

Trong lời nhận xét này Bỉnh đã đạt tới độ minh triết vốn được tạo ra bởi truyền thống lâu đời của tư tưởng chính trị – đạo lý ở các nước phương Đông, còn hình ảnh để so sánh được rút ra từ sinh hoạt nông thôn Việt Nam đã làm cho lời lẽ của ông có sức biểu cảm, vẻ đậm đà sinh động và tính chất sắc sảo trong cách đánh giá.

Bỉnh đã nhìn thấy biện pháp củng cố các mối quan hệ hòa hảo giữa hai nước ở sự phát triển buôn bán, điều mà ông không quên nhấn mạnh: “Dân thượng vị Russia thì hơn 50 triệu, mà địa phận mình thì giáp nước Hung Nô (Mông Cổ N.N.) cho nên vua ấy đã lập một thành nơi giáp ải để cho người Đại Minh cùng người Hung nô đến buôn bán cùng dân mình thì hai bên cùng được ích mà chẳng bao giờ làm giặc cùng nhau”. Thành đó là Kjakhta. Đối với Bỉnh, mối quan hệ hợp tác hòa bình giữa Nga và Trung Quốc là vô cùng quan trọng, như là mẫu mực của mối bang giao bình đẳng hòa bình giữa một cường quốc châu Âu và một cường quốc châu Á. Ông nhìn xa trông rộng, suy nghĩ như một con người ở thời hiện đại, trên quy mô thế giới.

Là người sống cùng thời đại với những cuộc chiến tranh của Napoléon, Bỉnh đã cảm nhận một cách thấm thía những sự cố thời đó. Với niềm cảm thông sâu sắc ông viết về những chiến thắng của quân Nga năm 1799 dưới sự chỉ huy của nguyên soái A.V.Suvorov. Nhưng điều đáng chú ý nhất là Bỉnh đã chào mừng chiến thắng của quân đội Nga trước đội quân “20 thứ tiếng” của Napoléon được gom lại từ khắp châu Âu trong cuộc chiến tranh vệ quốc năm 1812. Đó là một lời phát biểu quý hiếm của một người là nhân chứng của các sự kiện – tác giả từ một nước thuộc vùng văn hóa Viễn Đông về cuộc chiến tranh vệ quốc năm 1812. Tất nhiên, Bỉnh chưa bao giờ đến nước Nga và ông căn cứ vào những câu chuyện, những lời đồn đại và những gì hồi đó được viết trên tờ Gazeta de Lisbon (Báo Lixbon) mà Bỉnh đã chú ý đọc.

Cũng cần phải nói thêm rằng tin tức về việc Napoléon thông qua viên thống chế Bernadott của mình mà sau này trở thành quốc vương Thụy Điển và thực hiện đường lối phù hợp với lợi ích dân tộc của Thụy Điển, định tổ chức một vụ mưu phản nhằm mục đích giết vua Nga Aleksandr I chắc là dựa trên những lời đồn đại và những lời xì xào bàn tán. Đối với Bỉnh, tâm trạng độc địa thâm hiểm, sự tàn bạo và tính phản trắc của Napoléon là vô giới hạn và ông sẵn tin những lời đồn đại như vậy. Bernadott, như Bỉnh cho biết, đã không tổ chức cuộc mưu phản mà thành tâm cảnh báo về mối hiểm họa có thể xảy ra cho Aleksandr vốn là người rất sợ bị ám hại.

Chúng tôi sẽ dẫn ra đây lời nhận xét của Bỉnh về chiến thắng của nước Nga trong cuộc chiến tranh vệ quốc mà bỏ qua cho ông những sự cường điệu thông thường vào thời bấy giờ về vai trò của băng giá ở nước Nga trong việc đánh bại đội quân của Napoléon. Bỉnh cũng nhắc tới những bản tin chiến sự của Napoléon thường là dối trá và huênh hoang khoác lác: “Thượng vị Phalansa quyết thân chinh cùng đem những vua chúa là những anh em mình cùng quân các nước phương Tây sang, khi đến nơi thì thượng vị Russia chẳng đánh mà truyền cho quân mình giật lui vì vua Phalansa lấy được Kẻ chợ (Kinh đô, tức Mát-xcơ-va. N.N.) cùng nhiều xứ mà nghĩ rằng sẽ đi cho đến Đại Minh, ngày ngày thì chạy ống về rằng đã đến đấy đã đến đó, cũng lấy được xứ này xứ kia. Russia giả làm sợ vì chẳng muốn đánh ngày mùa hạ, có ý đợi mùa đông vì bên ấy rét lắm thì người phương Tây chịu chẳng được, sự ấy chẳng sai vì đến ngày mùa đông mà Russia ra mặt đánh, thì muốn chém ai thì chém, hay là muốn bắt sống ai thì bắt vì quân phương Tây cóng tay mà lại chẳng cầm gươm được, liền bại thì mất hết quân cũng như quan tướng”.

Mặc dầu có sự cường điệu hóa vai trò của băng giá, lời nhận xét của Bỉnh tái hiện một cách khá chính xác tiến trình các sự kiện, chiến thuật và chiến lược của các tướng lĩnh Nga trong cuộc chiến đấu chống xâm lăng của Napoléon. Nhưng cái chính là Bỉnh có mối cảm tình chân thành đối với nước Nga, đối với đất nước mà ông chăm chú quan sát.

Lê Sơn (giới thiệu và dịch)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 402

Giao-su---tien-si-N

Giáo sư – Tiến sĩ N.NIKULIN(*) công tác tại Viện Văn học thế giới mang tên Gorki (IMLI) là một nhà Việt Nam học nổi tiếng của Nga. Ông là tác giả của nhiều công trình nghiên cứu về văn học Việt Nam và dịch nhiều tác phẩm của ta ra tiếng Nga. Chúng tôi xin giới thiệu một phát hiện thú vị của ông về một người Việt Nam sống ở Bồ Đào Nha vào cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX và những cảm nghĩ của người đó về nước Nga.

——————————————

(*) GS. TS N.Nikulin mất ngày 1-1-2006 tại Moskva, hưởng thọ 75 tuổi.

Ý Kiến bạn đọc