Tản văn

Nước mắt ngày trở về

Tôi viết truyện ngắn “Con mắt núi” vào khoảng năm 2003. Đó là khoảng thời gian làng tôi hẳn chưa thôi ám ảnh về những tiếng nổ kinh hoàng giữa đêm khuya. Đó là khoảng thời gian cái đứa tôi vẫn còn đầy sợ hãi mỗi khi đi ngang qua căn nhà ấy, căn nhà có người vĩnh viễn ra đi không toàn vẹn bởi một phần thân thể vùi trong cát đá, một phần tan tác dưới lòng sông… Tôi sợ đến nỗi chỉ nghĩ thôi cũng tránh đi qua đoạn đường ấy. Tôi hình dung ra nỗi đau người vợ và những đứa con mất chồng mất cha đầy cay nghiệt. Tôi hình dung bởi tôi không dám đến gần họ, cho mãi tận sau này.

Ở những làng quê thanh bình, người ta chỉ chết vì già và bệnh tật, cái chết không toàn thây như nỗi kinh hoàng hằn sâu trong trí não non nớt của tôi. Tôi đã mang theo nó ròng rã hàng chục năm trời tất cả những gì nghe được từ câu chuyện đó. Hẳn, với người dân quê tôi, không ít người vẫn khó có thể quên.

Trang-son-dau-cua-TruDy-Nghi
Tranh sơn dầu của Trudy Nghi.

Con mắt núi, tôi đã hình dung ra những giọt nước mắt quạnh đắng của những ngọn núi quê mình mỗi đêm sau tiếng nổ rung chuyển cả đất trời. Những mảng màu xanh tan tác. Những hốc đá đẹp như tranh vỡ nát đớn đau. Dòng sông đục ngàu trắng xác tôm cá. Nỗi đau của núi chỉ là tiếng rên rỉ không lời đáp. Không có ai đứng ra bảo vệ những ngọn núi trời sinh. Mắt núi hun hút sâu.

Tôi viết con mắt núi chẳng phải để dùng tiếng nói của mình cứu lấy mảnh hồn làng. Tôi bé nhỏ và tha phương. Tôi gầy guộc và cô độc. Tiếng kêu của tôi cũng chỉ là tiếng lòng yếu ớt sẽ chẳng ai nghe thấy được. Nhưng tiếng lòng tôi vẫn tha thiết với nỗi đau quê hương. Tôi yêu núi, yêu rừng, yêu những mảng màu xanh bất tận của tuổi thơ. Tôi yêu núi bởi nhờ nó mà tôi không trở thành đứa trẻ mồ côi năm 11 tuổi. Trận lụt năm 1993, trong một cơn lốc xoáy, căn nhà tôi bị dòng nước nhấn chìm. Đêm mưa như trút, bố mẹ tôi vẫn cố bám lấy mái nhà lặn ngụp giữa dòng trôi. Tiếng bố tôi lạc trong tiếng gió rít: “S. ơi, nuôi con tao với”. Tôi chỉ nghe tiếng chú hàng xóm mà tôi đang tá túc “nhà cậu H. trôi rồi”. Tôi khóc nghẹn nhưng chẳng ai có thời gian để dỗ dành an ủi. Cả nhà chú hàng xóm còn lo chống đỡ khi nước đang dâng lên từng phút từng giây. Gió dập từng cơn như xé lòng. Lát sau chú lại nói bằng giọng thảng thốt: “Nhà Dân – Bình cũng trôi rồi”. Và trên mái nhà đó, còn có cả hai đứa trẻ chưa đến tuổi vào lớp 1. Sau này khi thoát chết họ kể lại, hai vợ chồng mỗi người ôm một đứa con, cột áo mưa vào nhau, chỉ để hy vọng nếu có chết người ta có thể thấy xác cả 4 người đi chung. Hai đứa trẻ đó, sau khi trở về, hoảng loạn suốt một thời gian dài. Thấy bất kì người lạ nào chúng cũng khóc. Có lẽ đó là nỗi ám ảnh kinh hoàng nhất của tuổi thơ chúng phải trải qua mà không gì có thể xóa được.

Ngay lúc này, khi nhớ lại câu chuyện của hơn 20 năm trước, nước mắt tôi vẫn rơi. Bốn năm về miền Trung, chưa có năm nào cuộc sống gia đình no đủ. Mỗi năm vài ba trận lụt, rồi hạn hán, mất mùa. Anh chị tôi phải vào rừng từ 3, 4 giờ sáng đến tối mịt mới về, oằn mình gánh củi trên vai chỉ để đắp đổi vài lon gạo cho cả nhà.

Rồi chị tôi theo đoàn vào Nam làm công nhân. Nhà tôi cũng như bao gia đình khác, nghèo đói và cô quạnh…

Nhưng tôi yêu miền Trung. Tôi yêu ngọn núi mà những làng khác hay lấy đó để đùa vui “dân đá mọc giữa bụng”. Họ nói về lèn Vịnh (quê tôi gọi núi đá là lèn), ngọn núi mọc ngay giữa làng. Tôi không mồ côi, nhiều em nhỏ khác cũng không chịu cảnh mồ côi sau trận lũ năm 1993 ấy. Ngọn núi sừng sững giữa làng đã cưu mang bố mẹ tôi và bao nhiêu gia đình khác. Trận lụt năm ấy nước ngập hết nóc nhà, bão lớn, không thuyền bè nào cứu được. Mọi sự phó thác cho đất trời. Và ngọn núi đó đã giang tay ra che chở cho những người như bố mẹ tôi. Nước rút, bố mẹ tôi trở về. Mảnh đất gia đình tôi ở chỉ còn trơ trọi nền đất nhẵn thín. Nước mắt chan nước mưa. Tôi mất tất cả nhưng còn bố mẹ. Tôi mang ơn những ngọn núi quê mình.

Nói thêm về chuyện thông tin, cứu hộ, ngày đó quả thật là chuyện xa xỉ. Lúc đó cả làng tôi mù mịt thông tin. Không dự báo, không trang bị, chỉ có kinh nghiệm nuôi kinh nghiệm. Người lớn canh hướng gió để dọn đồ lên tra (gác gỗ). Trẻ con lấy cây đo nước lên để dong trâu bò vào núi lánh lụt. Nước lên, mọi người thăm hỏi nhau qua tiếng ít ới đến rát họng vì mưa gió tơi bời. Rồi khi màn đêm buông xuống, chỉ còn lại tiếng nước ầm ầm đổ về, tiếng gió quật trên mái nhà. Chẳng biết dựa vào đâu. Chỉ có thể chờ cho ông trời bớt cơn thịnh nộ.

Nhiều năm sau, khi trở thành phóng viên, đến mùa mưa bão miền Trung, tôi là người túc trực lấy tin. Không ít lần vừa phỏng vấn cán bộ phòng chống bão lụt vừa khóc. Không ít lần nói “em cũng là người Quảng Bình” rồi nghẹn ngào trong điện thoại. Rồi cũng chỉ khi đó, tôi mới hiểu làng mình thường nằm trong vùng cách ly.

Làng tôi nằm heo hút cuối vùng nam Quảng Trạch. Làng lưng dựa vào núi, mặt hướng ra sông. Cũng chính vì thế, lũ về, làng hứng trọn sự khắc nghiệt. Những năm đó người ta còn khai thác gỗ trên nguồn. Lũ về, gỗ chưa kịp chuyển đi trôi về miền xuôi. Thuận dòng nước, làng tôi lãnh đủ. Những khúc gỗ xẻ ra có thể dựng được cả căn nhà, to sừng sững. Vậy nên, chỉ cần một trận gió, gỗ thúc vào nhà, cột kèo cũng tan tành theo dòng nước. Cửa sông như miệng của con cá mập hàng trăm tuổi, há sẵn miệng nuốt trọn những đau thương. Làng oằn mình trong nỗi đau chia cắt.

15 năm rồi. 15 năm tôi tha phương. Tôi đã đứng lặng thật lâu khi trở về làng sau 15 năm xa cách. 15 năm, mọi thứ còn nguyên vẹn trong trái tim đến giờ vẫn còn rất non nớt. Giữa cái nắng 390C, bó nhang tôi cầm trên tay chưa kịp cắm xuống đã cháy hơn nửa cây. Nơi tôi đang đứng là phần mộ của ông bà. Và nơi đây, trước kia, mỗi buổi chiều sau khi bò đã no nê từ rừng ra, chúng tôi lại dành thời gian rong chơi nơi khoảng đất mênh mông đón những đoàn tàu về muộn. Đám con nít chăn bò chúng tôi có đủ trò vui thú. Chơi cho đến khi nắng tắt hẳn cũng chẳng muốn về. Gió Truông (khoảng đất rộng một bên là núi đá, một bên là đường tàu) lồng lộng thổi, ru những ước mơ ngày thơ.

Vậy mà lúc này đây, giữa thời tiết của những ngày tháng 5, tôi thấy mình chơ vơ tìm về kí ức. Nắng tát vào mặt rát ràn rạt. Tiếng máy xúc, máy khoan, máy đục inh tai nhức óc. Công trường hừng hực nắng. Hơn nửa ngọn núi toang hoác trắng nhởn. Con mắt núi lại hiện lên đau đớn. Không còn là những đêm nổ mìn trộm, nơi đây có cả công trình được cấp phép khai thác. Hình hài cũ tôi mang theo, giờ trở nên méo mó tật nguyền. Ngọn núi như một kẻ mù lòa trong cái nắng gắt của miền Trung tháng 5. Tôi nuốt nỗi đau vào trong. Tôi cũng như ngọn núi kia, cô độc giữa quê hương mình. Người ta không những cười cợt mà còn có thể xỉ vả khi tôi nói mình đau. Làm gì có chuyện đau khi công trường mang lại công ăn việc làm cho bao nhiêu thanh niên trai tráng? Làm gì phải đau khi đường sá được đổ bê tông cho xe tải dập dìu qua lại ngày đêm? Làm gì có chuyện đau khi nhờ những ngọn núi đá mà bạn tôi nhà lầu xe hơi ăn sung mặc sướng… Tôi trở thành kẻ lố bịch với nỗi đau ngốc nghếch khi nhớ về tuổi thơ.

Làng tôi ơi, nước mắt tôi rơi ngày trở về…

Phương Huyền
(Đài TNND TP.Hồ Chí Minh)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 396

Ý Kiến bạn đọc