Sáng tác mới

Nước mắt ngày gặp mặt

Đó là những câu thơ mở đầu tập truyện ký “Nước mắt của ngày gặp mặt” mà đại tá tình báo – Anh hùng LLVT Nguyễn Văn Tàu (Tư Cang), nguyên Cụm trưởng Cụm tình báo H63, Chính ủy Lữ đoàn đặc công biệt động 316 (đơn vị được phong danh hiệu Anh hùng LLVT tháng 12¬2014) đã viết bằng chính trải nghiệm cuộc chia ly gần 30 năm, để có ngày đoàn tụ với người vợ thân yêu, giữa thành phố Sài Gòn, đêm 30-4-1975.

Đêm ấy, trong bộ quân phục giải phóng, ông lái chiếc xe jeep chở ba nữ chiến sĩ biệt động, không khỏi hồi hộp rẽ vào cư xá nhân viên “Việt Nam Thương tín”, nơi ông biết rất rõ “có cái miếu thờ cạnh đường bên phải, có bụi tre nhỏ. Ngõ đối diện bên trái là đường vào cư xá”. Cái ngõ quen thuộc đến mức “dù đêm tối cũng nhận ra” nhưng những năm hoạt động trong lòng TP. Sài Gòn, nhiều lần ông đã cắn răng, nuốt lại nước mắt, quay mặt đi qua như không hề có người ông yêu thương đang ngồi bên khung cửa sổ, khắc khoải, cô độc dưới ánh đèn. Giờ đây, trong đêm 30-4 này, vị Chính ủy Lữ đoàn biệt động đặc công sau bao năm ẩn mình, kềm nén yêu thương đã gọi to tên con gái: “Nhồng ơi, Nhồng, ba đã về”. Sau này ông giải thích: “Con gái tên Giang. Nhưng thật lòng, tôi thích gọi con là Nhồng – tên một loài chim biết nói mà má vợ tôi đặt cho nó lúc mới sanh và vợ tôi đã gởi thơ vào chiến khu báo tin cho tôi”.

Đại tá, ahllvt Nguyễn Văn Tàu (Tư Cang) thời trẻ

Đại tá, ahllvt Nguyễn Văn Tàu (Tư Cang) thời trẻ.

Nhưng Nhồng đã nhường cho mẹ bật đèn, run rẫy tra chìa vào ổ khóa. Bà Trần Ngọc Ảnh, vợ ông quýnh quáng, giọng nghèn nghẹn, đứt quãng: “Ở đây nè! Anh về đó hả? Em biết mà, nghe gọi tên Nhồng, em biết chỉ có anh!”. Người sĩ quan tình báo quên sự có mặt của ba nữ chiến sĩ, dang tay ôm vợ vào lòng. Ông hôn vợ – nụ hôn nồng cháy sau gần 30 năm cách biệt. Bà như chết lặng trong hạnh phúc. Họ dường như không dám tin vào những gì đang hiện hữu. Cảm xúc ngày gặp mặt đã đi theo suốt cuộc đời ông sau này, rõ mồn một trong ký ức: “Phút giây ấy, tôi nhớ như in buổi tiễn biệt cạnh bụi chuối sau nhà, những cái hôn tràn nước mắt của đôi vợ chồng trẻ, những lời hứa hẹn, những ước mơ hạnh phúc trong ngày gặp lại. Sau gần 30 năm chiến đấu, đêm nay hạnh phúc đã đến thật sự trong vòng tay đây rồi mà cứ tưởng như một giấc mơ”. Nhưng không phải mơ, khi Miồng – con gái ông xuất hiện. Miồng thấy ba khỏe mạnh, oai phong, lẫm liệt trong bộ quân phục mừng quá, cũng quýnh quáng, nghẹn ngào như mẹ. Thay vì chạy đến bên cha, Miồng đánh thức đứa bé đang ngủ: “Huyền, dậy! ông ngoại về kìa con!”.

Vô cung ngạc nhiên, ông hỏi: “Nhồng, con đã có chồng, có con rồi đó hả? Con gái cưng của ba!” Giọng bà Ngọc Ảnh chìm trong nước mắt: “Anh đi đã 28 năm, con cũng đã 28 tuổi rồi. Tuổi đó lấy chồng, sinh con là phải rồi. Vậy mà anh trách nó!”. Ông ôm con gái vào và đứa cháu ngoại vào lòng, không kềm được nước mắt. Ông thầm trách mình: “Phải, tôi đã trải qua hai cuộc kháng chiến, khi đi vợ mới có chửa mấy tháng, nay toàn thắng trở về thì đứa con gái 28 tuổi đang ngồi trước mặt và đứa cháu ngoại 3 tuổi đang nằm trong lòng đây!”. Hạnh phúc là có thật và nước mắt đang chảy trên má ông, trên má người vợ, trên má con là có thật. Bà nhìn sâu vào mắt ông: “Anh về với em vĩnh viễn rồi phải không?”
Bà lặng đi, khi nghe ông nói: “Chưa đâu em. Anh là quân nhân mà. Đêm nay anh chỉ về với em và con một tiếng thôi. Lát nữa, ăn cơm xong, anh cùng các cô trở về đơn vị”. Bà vội vã xuống bếp. Bữa cơm đầu tiên ngày vợ chồng đoàn tụ còn vẳng tiếng súng đâu đây của tàn quân.

Bà trìu mến nhìn chồng và các nữ chiến sĩ ăn uống ngon lành, lòng trào lên dự cảm những khó khăn của những ngày phía trước. Hơn 1 triệu quân chính quyền Sài Gòn lớp bị tiêu diệt, lớp tan rã nhưng có thể còn đó những âm mưu nổi dậy phục thù. Trái tim bà trở nên yếu mềm, khi nửa đêm, ông lại cùng những chiến sĩ ra đi..

Đại tá, Anh hùng Llvt Nguyễn Văn Tàu (Tư Cang) và vợ - Thượng sĩ Trần Ngọc Ảnh, tháng 4-2010.

Đại tá, Anh hùng Llvt Nguyễn Văn Tàu (Tư Cang) và vợ – Thượng sĩ Trần Ngọc Ảnh, tháng 4/2010.

Bà nắm chặt tay ông. Chợt hiện về trong ký ức bà buổi chia tay mấy mươi năm trước. Cô con gái cưng của một thầy giáo làng Phước Hải, Bà Rịa – nữ sinh Collège Gia Long nhận lời cầu hôn chàng học sinh trường Pétrus Ký. Cô còn quá trẻ, về làm dâu một gia đình nông dân, mua bán heo, nuôi đàn em chồng
1 đứa. Nếu không có sự chia sẻ, đỡ đần của chồng, cô đã không trụ nổi với nhà chồng. Rồi Cách mạng Tháng Tám. Chồng cô đầy khát vọng, hoài bão, tham gia phong trào Việt Minh ở địa phương. Quân Pháp quay trở lại khủng bố, tàn sát đồng bào, không còn con đường nào khác, ông Tào thoát ly, vào chiến khu chiến đấu. Lúc ấy bà đang mang thai đứa con đầu lòng, cắn chặt răng không bật lên tiếng khóc, sợ chồng chùn bước. Vậy mà nước mắt cứ tuôn rơi. Bụi chuối sau hè năm ấy đã chứng kiến cảnh bịn rịn chia ly của đôi vợ chồng đang mặn nồng hương. Ông bước vào cuộc chiến đấu quyết liệt, đối mặt với hiểm nguy, cái chết. Bà về Sài Gòn sống với cha là giáo viên một trường tiểu học, sinh con, học đánh máy chữ, làm thư ký nuôi con, chờ ngày chiến thắng, đón chồng về.

Mãi đến 8 năm sau, ông Tàu trở thành cán bộ Quân báo, nhân chuyến công tác, về rừng Sác vẽ sơ đồ đóng quân của Bảy Viễn, ghé qua Sài Gòn, tìm đến Bà Chiểu thăm vợ. Tám năm mới gặp lại, họ có quá ít thời gian để hôn con, để âu yếm, để ông nói với vợ rằng “Nếu chiến tranh kết thúc mà không thấy anh về thì em cứ lấy chồng đi nghen. Anh không giận đâu, nói thiệt mà”. Người vợ chỉ vào trán chồng âu yếm: “Anh không chết đâu. Mà cho dù anh không trở về thì hình ảnh anh luôn ở bên em đây, trong trái tim em!”. Thật trân trọng phút giây riêng tư của đôi vợ chồng trẻ đầy khát khao: “Thương quá, tôi không kềm lòng hơn được nữa, hai người cùng ngã xuống giường và tôi hôn lên trán, lên môi, lên ngực mà bàn tay em đã đặt vừa rồi. Tình yêu là tuyệt đẹp. Thế giới lúc này chỉ còn có hai người…”. Nhưng người vợ trẻ phải ngồi dậy, vì những cái bóng đen thấp thoáng. Xa cách nhau 8 năm, tranh thủ thăm vợ con chưa đầy một tiếng, làm sao ông quên được hình ảnh người vợ trẻ vươn hai cánh tay lao theo ra cửa, nước mắt đầm đìa. Ông đã chân thành với sự yếu đuối của mình lúc đó: “Tôi ra đi chiều hôm ấy mà lòng nặng trĩu, đôi chân lững thững bước mà mắt cứ mờ đi như nhìn qua một màn sương. Tôi không dám quay đầu ngó lại một lần vì sợ đôi chân vô tình bị đổi hướng…”

Rồi ông được lệnh tập kết ra Bắc. Người vợ đan áo kịp gởi cho chồng, lòng xốn xang khi không thể xuất hiện ngoài bến, tiễn chồng đi. Ông thuộc lòng từng chữ trong thư, biết được những đoạn nhòe vì nước mắt của vợ: “… Rất tiếc là những ngày này mà em không đi thăm anh được. Từ hôm anh ghé qua nhà, bọn chỉ điểm cứ thường lảng vảng, rình mò. Anh hiểu cho em. Thôi thì như những năm đã qua. Sao đời vợ chồng mình cứ phải xa nhau như thế này!”. Đâu phải vợ chồng ông mà cả dân tộc bị chia cắt. Miền Nam máu lại chảy. N ăm 1961, ông trở về miền Nam chiến đấu, trong vai trò một sĩ quan tình báo. Không chỉ có nước mắt chia ly mà gặp lại nhau, họ chỉ để nước mắt thay lời. Được giao liên móc nối, bà Ngọc Ảnh mặc bộ quần áo dài, dẫn con lên vùng giải phóng thăm chồng. Bà đã khóc khi con không nhận ra cha. Ông kể với vợ chuyện mẹ ông lên thăm con: “Em biết khi gặp con trai, câu đầu tiên, mẹ nói gì không? Mẹ hỏi anh: “Mày có vợ chưa?”. Biết anh “chưa”, bà thở phào: “Tao sợ mày lấy vợ ngoài Bắc, tao mất mặt với anh xuôi. Ảnh lo chăm sóc, nuôi nấng vợ mày, đối đãi với tao rất tử tế”. Còn anh khi gặp mẹ, câu đầu tiên anh hỏi: “Vợ con còn sống không?!”. Giờ em ở bên, anh hạnh phúc biết bao!”. Cũng từ đó, bà Ngọc Ảnh trở thành hộp thư sống cho đường dây tình báo của chồng. Trong vỏ bọc nhân viên ngân hàng, con gái bà, Giang – Nhồng cũng trở thành một chiến sĩ thầm lặng trong đường dây tình báo.

Rất nhiều người phụ nữ đã mưu trí, dũng cảm; vượt qua muôn vàn khó khăn, nghiệt ngã; lặng lẽ hy sinh cho sự an toàn của mạng lưới tình báo. Đó là những nữ giao thông mật, liên lạc mưu trí, dũng cảm như bà Nguyễn Thị Ba (sau là Anh hùng LLVT), Tư Ánh, Tám Kiên… Đường dây bí mật ấy trải dài đến mọi miền đất nước, mà ngày hòa bình, người ông Tư Cang đã cảm nhận: “Hồi còn nằm ở Củ Chi điều khiển đường dây liên lạc tình báo, biệt động, đặc công đánh vào Sài Gòn, có lúc trong đầu tôi nảy ra một ý nghĩ ngộ nghĩnh: nếu trong một giờ nào đó, mỗi người liên lạc của cách mạng đi vào thành với một ký hiệu đỏ trên tay, thì trên các nẻo đường tiến vào Sài Gòn, ta hình dung sẽ thấy những đường dây đỏ đan chéo nhau chằng chịt, từ Trảng Bàng, Củ Chi, Long An… Ngay tận Bến Tre, Bà Rịa, ở đâu có cơ quan Y4, có cơ quan Trung ương Cục đóng thì từ đó có những đường dây đỏ bủa về Sài Gòn. Từ hơn 30 năm nay, những địa chỉ đỏ tăng lên, những đường dây đỏ dày đặc như một mạng lưới…”. Một trong những địa chỉ đỏ chói sang giữa lòng nội đô là ngôi nhà 136B Gia Long. Là con gái một thương nhân lớn bán vải, lụa ở Sài Gòn; Nguyễn Thị Yên Thảo (Mỹ Nhung, Tám Thảo) tạo được vỏ bọc thuận lợi để hoạt động tình báo. Ngôi nhà của gia đình cô tại số 136B đường Gia Long đã nuôi chứa thiếu tá tình báo Nguyễn Văn Tàu – Cụm trưởng tình báo H.63, khi ông xâm nhập nội đô, nắm tình hình chuẩn bị cho Mậu Thân 1968. Với vẻ đẹp dịu dàng, giỏi ứng xử, Tám Thảo có được mối quan hệ tốt với các sĩ quan tình báo Mỹ nơi cô làm việc, lấy được nhiều tài liệu quan trọng, phục vụ cho trận đánh vào Bộ Hải quân ngụy. Trong đêm mồng 3 Tết Mậu Thân, khi Nguyễn Văn Tàu nổ súng chia lửa với các chiến sĩ biệt động bị vây bên kia căn nhà, địch làm cuộc bố ráp, phong tỏa khu phố. Bằng sự bình tĩnh, Tám Thảo đã mưu trí cứu Nguyễn Văn Tàu thoát chết trong gang tấc. Và trong ngôi nhà thứ 9 khu “Việt Nam Thương tín”, vợ ông Tư Cang, bà Trần Ngọc Ảnh đã trải qua biết bao đêm thao thức, trăn trở. Cô Tám Thảo đâu biết bà Ngọc Ảnh trong vai trò “bà đầu tóc” đưa tin tức cho ông Tư Cang đã nhiều lần đến cửa hàng vải Tân Mỹ – chợ Bến Thành hết hỏi mua vải này, lụa khác, cốt để kéo dài thời gian ngắm nhìn cô Tám Thảo. Bà không khỏi chạnh lòng khi nhận ra Tám Thảo quá xinh đẹp, duyên dáng. Đó là người phụ nữ ngày đêm kề cận bên chồng bà, cùng ăn cơm chung, cùng sống trong một ngôi nhà, cùng chia sẻ sự nghiệp tình báo, những khắc nghiệt, hiểm nguy. Hôm ấy, Tám Thảo phàn nàn với Tư Cang: “Cái bà đầu tóc liên lạc cho anh kỳ lắm. Biết bả là người của anh, em rất thiện ý, bán vải giá vốn. Vậy mà bả cứ trả tới, trả lui. À, bả đưa anh thứ này”. Nhận tài liệu, ông Tư Cang cười cười, nói lấp lửng: “Ờ, thì người ta đâu được như em!”.

bà Trần Ngọc Ảnh (áo dài trắng) và con

Chồng đi kháng chiến, bà Trần Ngọc Ảnh (áo dài trắng) về Sài Gòn sinh con, chờ chồng, mãi đến đêm 30/4/1975 gia đình mới đoàn tụ. 

Vợ chồng sống giữa Sài Gòn, gần nhau trong gang tấc mà không thể gặp mặt. Chỉ một lần duy nhất, Tư Cang hẹn gặp bà ở Sở Thú. Hôm ấy, ông vận Âu phục như một công chức Sài Gòn, sóng bước cùng bà trong bộ quần áo dài. Bà chợt ao ước: “Phải chi em được đi theo anh!”. Tư Cang mỉm cười trách: “Làm sao được hả em!”. Biết chồng mình đang chỉ huy đường dây tình báo, đang cùng Tám Thảo hoạt động, khai thác tin tức địch, vậy mà hôm ấy, đang lúc cùng người nhà náo nức mua vé xem phim “Docteur Zivago”, chợt nhìn thấy Tám Thảo trong bộ áo dài màu hoàng yến sóng bước cùng chồng mình trên đường, bà chợt lảo đảo, xây xẩm mặt mày, đành nói dối với cậu em: “Chị mệt quá, thôi mình về”, làm cả nhà tiu nghỉu. Sau Mậu Thân 1968, Tư Cang rút về căn cứ Củ Chi. Rồi năm 1969, trước sự khủng bố ác liệt của địch, Tám Thảo được lệnh thoát ly vào chiến khu. Chính Nhồng, con gái bà lái xe đưa Tám Thảo ra điểm hẹn, để từ đó, bà Nguyễn Thị Ba đưa Tám Thảo ra căn cứ an toàn. Ngày Tám Thảo đi, những liên lạc trong đường dây tình báo mỉm cười nói với bà Ngọc Ảnh: “Tám Thảo ra ngoài ấy, thế nào rồi cũng gặp anh Tư…”.
Bà cũng chỉ mỉm cười, bởi bà biết rõ chồng mình và nhiệm vụ của Tám Thảo. Năm 1973, bà Ngọc Ảnh lên chiến khu, tiễn chồng ra Bắc, học khóa Huấn luyện chính trị cao cấp của quân. Bà chèo xuồng, ông ngồi trước mũi, nước mắt rưng rưng vì bà biết phút giây thanh bình quý hiếm này rồi sẽ nhanh chóng trôi qua. Ông Tư Cang ngậm ngùi nói: “Anh đi chuyến này, chắc năm 76 mới trở vô. Khi anh trở lại, em thu xếp đưa con vô chiến khu luôn nghen!”. Nhưng đêm 30-4, ông đã trở về, gọi to tên Nhồng, con gái cưng và được hôn vợ trong nước mắt ngày gặp mặt…

Có những điều chỉ sau ngày hòa bình người trong cuộc mới biết, như Tám Thảo bày tỏ: “Sau này, tôi mới biết “bà đầu tóc” là phu nhân của ngài “thiếu tá Việt cộng”. Là phụ nữ, tôi hiểu nỗi lo rất thường tình của phụ nữ. Chị biết rõ anh Tư Cang ở ngay trong ngôi nhà tôi, hàng ngày kề cận với một cô gái trẻ. Nếu tôi là chị ấy chắc tôi không chịu nổi. Vậy mà suốt bao năm trời, chị lặng lẽ làm hộp thơ sống cho chúng tôi hoạt động. Chị Tư rất tin chồng và hiểu tôi. Sau ngày hòa bình, chúng tôi xem như người một nhà. Có lần anh Tư lái xe Jeep về Long Đất, thăm quê anh. Chị Tư ngồi một bên, tôi một bên. Lòng chúng tôi dạt dào hạnh phúc, cảm nhận cái giá quá lớn của hòa bình. Trong đáy lòng, tôi xem anh Tư là một người anh trong gia đình. Chị Tư xem tôi như một người em, vừa là một ân nhân vì đã cứu anh Tư nhiều lần thoát chết trong lòng địch, như đêm Mậu Thân năm 1968, địch đến khám nhà…”.

Ngày Tư Cang được phong tặng Anh hùng LLVT, bà Ngọc Ảnh bất ngờ nắm chặt tay Tám Thảo nói:
“Chị xin phép được hôn lên má trái em để bày tỏ lòng biết ơn một cán bộ tình báo đã hy sinh nhiều thứ, vượt lên mọi khó khăn, hoàn thành nhiệm vụ. Còn má bên phải để cám ơn em đã sinh ra anh Tư lần thứ hai”. Họ ôm chặt nhau. Những đồng đội đường dây cụm tình báo H63 nhận ra gương mặt cả hai người phụ nữ đều ướt đẫm nước mắt

Trầm Hương

Ý Kiến bạn đọc