Truyện ngắn

Nước Chò ngày ấy

Để tưởng nhớ những ngày đầu khi thực dân Pháp đặt chân lên vùng rừng núi Tây Nguyên.

 

Sau một mùa lúa tốt đẹp, buôn Nước Chò đang yên ổn bỗng có tin đến bất ngờ: nhiều kẻ lạ mặt da trắng, mắt xanh như loài quỷ dữ cùng nhiều người Doan (1) kéo đến chiếm cứ đỉnh núi Pu Nang. Họ cất nhà, dựng trại, lập những chòi cao, bên ngoài rào kín bằng những dây gai kỳ lạ. Điều làm cho ông chúa làng Nước Chò ngạc nhiên hơn hết là trong bọn đó cũng có một số người Thượng. Chắc những người này đã bị bọn quỷ bắt đi và dùng bùa phép mê hoặc để mà sai khiến.

Bọn đó đến ở một thời gian ngắn thì chúng mang những súng dài tới vây cái buôn.

Một người biết tiếng buôn gọi ông chúa làng:

- Bớ ông chúa làng! Hãy ra nói chuyện đi nào! Chúng ta là bạn của các ngươi đấy.

Ông chúa làng Dô bước ra, dõng dạc trả lời:

- Ta không nhìn thấy ai là bạn ta trong các người đâu. Bạn ta không mang khí giới đến nhà ta được.

Người kia bèn nói:

- Thế thì ta bỏ súng xuống mặt đất này đây.

Và họ tháo súng, dồn vào một góc sân buôn:

- Bây giờ chúng ta có thể là bạn bè rồi, phải không?

Ông Dô vẫn đĩnh đạc nói:

- Cái đó phải còn đợi xem. Bạn bè phải coi như là anh em mới được.

- Vậy thì tại sao chúng ta không là anh em với nhau? Anh em hết cả đây mà!

- Anh em thì phải thành thật. Ta không muốn gặp những kẻ nói dối. Các người mới đến, ta chưa biết được miệng nói có đi đôi với việc làm không, ta chỉ coi như khách lạ. Ta có thể mời khách lạ uống rượu và hút cái trứng con gà.

Rồi ông chúa làng bảo lấy những cái trứng gà còn tươi và lôi mấy vò rượu cần đãi khách. Mọi người quây quần trên vạt sân buôn, hút trứng, nốc rượu, nhưng không nói chuyện một cách vui vẻ. Dân buôn liếc nhìn bọn người da trắng mắt xanh với ý e ngại. Trông họ cũng giống như người, nhưng chắc họ là bọn quỷ đấy thôi. Giữa tiệc rượu cần, cái người mở miệng ban nãy bây giờ nói lớn:

- Nếu ông chúa làng chịu nghe lời chúng ta, thì chúng ta sẽ giúp đỡ cho ông chúa làng.

- Nghe lời cái gì?

- Này đây là người Đại Pháp. (Gã chỉ mấy người cao lớn, mắt xanh) Họ đến để mà cai trị chúng ta.

Ông Dô hét lớn:

- Ta không cần ai cai trị! Từ xưa đến nay những người Ba Na, Ê Đê, Mơ Nông sống giữa núi rừng của họ, có cần ai đến cai trị họ đâu?

- Nhưng người Đại Pháp có súng.

- Súng là cái gì kệ nó, ta không

cần biết!

- Rồi ông chúa làng sẽ biết.

Nói xong, tên ấy ra hiệu và nhiều người trong bọn chúng lại chỗ góc sân lấy súng, bắn cho nổ lên. Chao ôi! Tiếng nổ làm điếc tai hết mọi người. Nhiều bà cụ già ngã xuống trên đất. Có những thanh niên run rẩy và những đứa trẻ thét lên. Ông chúa làng Dô xanh mặt, nhưng ông không run. Ông quát thật lớn về phía dân làng:

- Cái ông trời kia cho sét đánh xuống buôn ta cũng không giết được nhiều người, làm sao bọn quỷ có thể sát hại chúng ta nhiều được? Kẻ nào sợ hãi, không phải là dân làng này.

Rồi quay sang bọn chúng nó, ông bảo:

- Không ai có thể dọa nạt chúng ta. Chúng ta không sợ sức mạnh.

Người kia cười lớn, rồi nói:

- Đừng nói như thế, ông chúa làng à. Ta cho bắn súng để vui với bà con mà. Chúng ta đều là bạn bè.

Ông Dô không trả lời lại. Vẻ mặt của ông lộ ý căm giận nhưng ông biết rằng lời nói cũng như mũi tên phải nhắm trúng đích mới bắn. Sau đó, bọn chúng kéo về.

Khi chúng đi rồi, ông chúa làng bảo:

- Chúng ta không thể tin được cái bọn ấy đâu. Ta phải dời bỏ buôn này mà đi nơi khác.

Nhiều ông già lão trong buôn không chịu như thế. Ông Ha Râm nói:

- Việc gì mà phải bỏ buôn? Nó có dám làm gì chúng ta đâu? Nó bằng lòng sống như bạn bè mà.

Ông chúa làng bảo:

- Ai mà tin được lời nói của quỷ? Nếu ta cứ sống nơi đây, có ngày nó sẽ vây bắt chúng ta.

Ông Ha Râm nói:

- Bắt để làm gì?

- Để làm con trâu, con chó cho bọn chúng đấy.

Nhưng ông Ha Râm và các ông già vẫn không chịu tin. Rồi bọn quỷ lại kéo đến. Chúng mời ông Dô vào buôn của nó uống rượu, ăn thịt. Ông chúa làng Dô không chịu nhận lời. Ông nói:

- Rượu của các người chắc ngon hơn rượu của ta, thịt của các người chắc béo hơn thịt của ta, nhưng ta không thèm bao giờ.

Chúng bảo:

- Ông chúa làng ơi, ông khó tính quá. Chúng tôi đã có lòng yêu mến ông, mà ông chẳng tốt bụng với chúng tôi chút nào.

Ông Dô gầm lên:

- Sao lại bảo ta phải tốt bụng với các người? Kẻ nào tốt bụng phải biết thương yêu dân làng của mình. Chỉ có kẻ xấu mới nghe lời quỷ.

Bọn hắn gằn lại:

- Ai là quỷ đây?

- Chúng mày.

- Ta cũng là người vậy đó.

- Không sao tin được.

Bọn chúng dịu giọng:

- Ông chủ chúng tôi cho chúng tôi đến để thưa với ông chúa làng một việc.

- Việc gì? Các người cứ nói, ta nghe.

- Chúng tôi muốn mượn mười thanh niên buôn trong năm ngày thôi. Chúng tôi cần họ để dựng một ít nhà trại và sửa dọn ít con đường. Đây này, có gạo, có muối và vải rất tốt, muốn lấy bao nhiêu tùy ý.

Ông Dô trả lời:

- Thanh niên ở cái buôn ta mắc làm công việc của buôn, không đi đâu được.

Bọn chúng trả lời:

- Ông chủ có bảo chúng tôi thưa với ông chúa làng rằng: Nếu ông không chịu cho mượn, thì chúng tôi sẽ nổ súng vào làng.

So-559--Su-tich-ban-anh-hung-ca-chong-Phap---To-Ngoc-Thanh
Sự tích bản anh hùng ca chống Pháp – sơn dầu – Tô Ngọc Thành.

Dân buôn nghe nói nhôn nhao cả lên, có người giận lắm ngồi bứt râu, tóc rồi đòi cầm rựa lại chém bọn nó. Nhưng mấy ông già bảo ông Dô nên chiều họ, tránh cái họa lớn cho buôn. Ông Dô cũng giận, nhưng nghe ý kiến nhiều người bàn bạc liền bảo bọn kia:

- Được rồi, ta sẽ cho mượn 10 người trong 5 ngày thôi.

Bọn kia trả lời:

- Ông chúa làng thật tốt lắm. Ông đã biết sợ cái súng là ông khôn ngoan.

Ông Dô trợn mắt, đáp lại:

- Ta không sợ cái súng đâu! Ta cũng không đợi ai khen ta hết. Ta bằng lòng cho mượn vì ta nghe theo ý của dân làng. Chỉ có bụng nghĩ dân làng mới sai khiến được ta thôi.

Rồi ông gọi lựa 10 người trong buôn, dặn dò:

- Các người hãy đi theo họ. Đúng 5 ngày phải về làng, đừng nghe ai phỉnh gạt cả. Các người là con của buôn, không phải là con của quỷ.

Họ vâng lời ông, đi theo bọn kia. Khi họ đi rồi, ông nói với dân làng:

- Thanh niên buôn ta đến ở chung với lũ quỷ thật là nguy hiểm. Bọn quỷ có nhiều mưu mô mà bọn trai trẻ chúng ta hết sức thật thà. Đáng ra, ta không nên bằng lòng vậy.

Ông Ha Râm nói:

- Thế nó bắn chết chúng ta bằng những ná lửa của chúng thì sao?

Ông Dô đáp lại:

- Nó không giết hết chúng ta được đâu. Kẻ nào bị chết, thì người còn sống báo thù cho họ.

Năm ngày sau, chỉ có 7 người trở về. Ông Dô hỏi họ:

- Mấy người kia đâu?

- Bọn nó ở lại với thằng Pháp rồi.

- Sao vậy?

- Thằng Pháp có gạo, có cá, có nhiều đồ dùng lạ lắm, tốt lắm. Nó bảo chịu ở với nó, nó cho cái súng, nó dạy cho bắn.

Ông Dô hét lớn:

- Chúng nó không về buôn nữa hay sao?

Mấy người kia lắc đầu đáp:

- Chúng không về nữa.

- Đó là loài sâu, loài bọ sống chỗ tanh hôi. Chúng không phải là con người. Con người không thể bỏ quên cái gốc của mình.

Rồi ông hỏi họ:

- Tại sao các con không muốn ở với thằng Pháp?

Anh Gun, là người được dân làng thương mến nhất, trả lời:

- Chẳng phải bọn con đã ăn hột cơm của cái rẫy nuôi đó sao? Bọn con đã ăn cá của cái suối cho đấy mà. Bọn con đã nghe những lời dạy bảo của ông chúa làng mà lớn khôn như những cây cốc rừng sừng sững giữa núi non này. Dân làng đã thương bọn con như là cha mẹ thương con cái mình, ở đâu mà vui hơn ở buôn ta? Thằng Pháp đâu sinh đẻ ra chúng con, đâu nuôi mãi được bọn con, nó cho gạo muối để bắt chúng con làm việc cho nó đấy thôi. Không, chúng con đâu chịu làm chó, làm ngựa cho nó bao giờ.

Ông Dô gật đầu:

- Phải lắm, phải lắm, Gun à. Con nói thật là hợp cái bụng nghĩ của ta. Ta thích trai trẻ làng ta nói như vậy đó.

Ông quay về phía dân làng:

- Buôn ta mà có những người như Gun thì buôn ta sẽ sống mãi trên sườn non này. Xấu hổ cho người bỏ buôn mà sống với loài quỷ dữ. Đáng lẽ buôn ta không có những loại người đó. Đáng lẽ cha mẹ của chúng không đẻ ra chúng. Đáng lẽ vợ của bọn chúng không chịu lấy chúng làm chồng. Và con của chúng không muốn gọi chúng bằng cha. Ta là chúa làng, ta nói lời này: Ta không coi bọn chúng nó là dân làng nữa. Bọn chúng là kẻ thù của dân buôn. Ta truyền lệnh cho mọi người đều biết: Ai cũng có quyền giết 3 thằng chó ấy, bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu.

Ông Dô gằn lại:

- Các người nhớ chưa?

Dân làng đồng loạt hô to:

- Nhớ rồi!

- Thế là tốt lắm.

Nhưng suốt đêm ấy, ông chúa làng Dô không sao ngủ được. Nằm bên đống lửa, ông thao thức hoài. Ông thật đau lòng khi nghĩ ngợi đến 3 đứa trai trẻ của làng đã không về nữa. Bọn quỷ sứ đó đã cướp của dân làng ta 3 đứa con rồi. Đó là một sự thiệt thòi chua xót biết bao, một sự xúc phạm nặng nề quá sức. Tại ta đã nhượng bộ chúng, cho chúng mượn bọn trai trẻ, cho nên bây giờ chúng cướp mất hồn của 3 đứa rồi. Phần lớn tại lão Ha Râm cứ đòi làm bạn với quỷ, cứ muốn ta phải chiều theo ý chúng. Ông Dô ngồi dậy, ngẩn ngơ bên lửa hồi lâu, rồi xuống thang gỗ đi đến nhà lão Ha Râm.

- Phải nói cho hắn biết rõ là tại hắn đấy.

Ông lần mò đi trong bóng tối dày về phía nhà sàn Ha Râm. Bây giờ chắc lão đã ngủ. Cần phải đánh thức lão dậy, nói cho lão biết, mới yên lòng được. Ông đứng ở dưới thang gỗ nhà lão, chần chờ vì nghe có tiếng rì rầm. Đó là tiếng thằng Ha Ray, con của Ha Râm. Thằng này cũng vừa làm việc 5 ngày với bọn quỷ đó, trở về sáng nay.

Tiếng Ha Ray nói:

- Cha ơi! Tôi nói thiệt mà, cái súng thằng Pháp nó bắn một lần ngã chết ba bốn con trâu như chơi vậy đó. Nó đứng xa nhiều chớ có gần đâu. Vậy mà cứ chết.

- Thế mà ông Dô cứ muốn chống nó.

- Phải rồi, không chống được đâu. Nó mạnh hơn ta nhiều lắm. Nó cũng khôn hơn ta nhiều!

Ông Dô vịn tay vào cái thang gỗ, nghe cơn giận sôi trong lòng. Làm sao thằng Pháp khôn hơn ta được? Đừng có nói ngu, nói dại bay ơi! Chúng ta đã sống đời đời kiếp giữa núi rừng này, đã chống lại với bão tố, thú rừng, chống với bao nhiêu kẻ thù độc hại để mà còn đây, để mà tiếp tục sinh con, đẻ cháu, làm rẫy, làm nương, chúng ta mới là những người mạnh mẽ hơn hết, khôn ngoan hơn hết. Cha con chúng mày cũng do cái rừng cái núi sinh ra mà chúng mày không biết gì về mình. Bay có khác gì loài heo kia đâu?

Ông Dô bứt rứt trong mình những muốn gào to cho lão Ha Râm và thằng Ha Ray biết sự ngu ngốc quá chừng của chúng. Nhưng không thể làm vậy được. Chúng còn đang nói gì đấy. Phải lắng nghe nào…

Tiếng thằng Ha Ray:

- Đừng cho ai biết cả đấy, cha à.

Tiếng lão Ha Râm:

- Tao sẽ làm thinh như cục đá núi, ai có gõ vào cũng chẳng cười lên được một tiếng nào. Mày cứ nói đi. Tao là cha mày, tao phải biết chứ.

Im lặng một chút, rồi tiếng Ha Ray rì rầm:

- Sáng nay, thằng Pháp bảo cứ 5 ngày ra chờ người của bọn chúng, ở gần ngọn thác Nặm Nui. Ngồi trong cái bụi mơ-roác(2) lớn nhất, vào lúc đứng trưa. Nó sẽ cho nhiều muối ăn, thuốc uống, ưng thích cái gì nó cũng cho hết.

- Sao nó lại cho như vậy? Coi bộ nó đâu có tử tế mà.

- Nó cho mình nhiều để mình nói chuyện với nó.

- Nhưng nói với nó cái gì?

- Cái gì mà nó muốn biết.

- Thì nó muốn biết cái gì?

- Nó hỏi ông Dô có nói gì không, trong buôn có bao nhiêu người thích nó. Những người ghét nó thì nói cái gì.

- À, à, nó hỏi nghe cũng buồn cười quá há. Thế thì tao cũng nói được. Nhưng tao không thích ngồi chờ trong bụi mơ-roác như là con chó vậy đâu.

- Con ngồi được mà.

- Nhưng lỡ người làng nhìn thấy thì sao? Ông Dô sẽ giết ta đấy.

- Đừng sợ, cha à. Bọn Pháp sẽ kéo lên đây, sẽ vây bắt hết thanh niên làng mình, bắt cả ông Dô.

- Chúng nói vậy sao?

- Vậy đó. Nó bảo phải về nói cho người làng biết là nó mạnh lắm, không ai đánh nổi nó đâu.

- Tao cũng là người làng đấy, mày nói với tao được rồi. Đừng nói với ai khác nữa, không tốt. Nhớ đấy.

Cha con Ha Râm lại nói rì rầm một lát, rồi lại nín lặng. Giây lâu, ông Dô nghe có tiếng ngáy. Chúng đã ngủ rồi. Ông Dô thở dài, lững thững quay về nhà sàn của mình. Cả đêm hôm đó ông chúa làng không thể ngủ, cứ nằm thao thức bên bếp lửa tàn, nghĩ ngợi về những điều thằng Ha Ray vừa nói. Buôn ta từ đây không còn yên tĩnh như xưa, bọn quỷ đã đến phá rối, đến gây chia rẽ trong đám dân làng, đã cho thức ăn để đưa những ý xấu xa vào bụng nhiều người. Như thế, trong số 7 người trai trẻ của buôn mới ở nơi bọn quỷ về, ông Dô chưa thể tin cậy được ai. Ngoài thằng Ha Ray đã nghe lời quỷ, còn những đứa nào chung cái ý xấu với nó nữa đây? Lòng hoài nghi những người thân làm cho ông Dô khổ sở lạ lùng, và đó là điều ông chưa từng nếm trải qua trong cuộc đời mình.

Bắt đầu từ đó ông Dô để tâm theo dõi từng người, nhưng vẫn không thấy những gì khác lạ nơi họ. Đúng 5 ngày sau, gần vào buổi trưa, ông định bụng ra ngoài thác ngồi rình thì Gun ở rẫy chạy về tìm ông:

- Ông chúa làng ơi!

- Có chuyện gì thế hở Gun?

- Lát nãy, ở trên rẫy về, tôi thấy một người mang cái súng dài đi dưới chân núi Bu Tha. Đến cái hố nước, thì không nhìn thấy nó nữa.

- Có thằng Ha Ray ở nhà đấy không?

- Nó đi lên rẫy chưa về.

- Gun ơi, ta biết con là người tốt, nên ta tin cậy ở con. Hãy về lấy nỏ và đi theo ta. Đây là cái ngày thứ năm, kể từ hôm nó trở về. Phải rồi là ngày thứ năm, ta vẫn nhớ đó.

Gun hỏi:

- Cái gì là ngày thứ năm?

- Con không cần biết. Về lấy nỏ đi. Đừng cho ai hay việc này. Ta chờ con ở bên kia suối nước, dưới cây hê-răng(3).

- Tôi chạy về đây, ông chúa làng à. Tôi không để ông chúa làng chờ đợi lâu đâu.

Gun tất tả đi về nhà, ông Dô cũng quay vào trong lấy ná, đeo cái ống tên rồi đi qua suối chờ đợi. Chốc lát, Gun đã đến gặp.

Hai người im lặng mà đi, ông Dô đi trước, anh Gun theo sau.

Đến gần hố nước, ông Dô ra dấu cho Gun cẩn thận, rồi hai người rón rén bò lại gần cái bụi mơ-roác lớn nhất nhìn xuống ngọn thác Nặm Nui. Họ thấy rõ ràng Ha Ray đang ngồi bên người Thượng đã tới buôn hôm trước, nói chuyện rì rầm. Họ ở cách xa nên Gun và ông chúa làng không nghe được họ nói gì, phải bò tới gần mới được. Ông Dô ra dấu cho Gun, rồi nhẹ nhàng hơn một con rắn mối, cả hai trườn mình lết tới. Họ đến một mô đất cao có cây a-lê(4) che rợp, cách chỗ hai người kia ngồi rất gần. Bộ mặt hai đứa sao mà dễ ghét đến thế? Từ lâu ông Dô vẫn thương thằng Ha Ray nhiều, nhưng mấy hôm nay ông nhìn thấy nó xa lạ, thấy nó xấu xa kinh khủng. Nó đang nói gì với thằng kia vậy? Ông nghênh tai nghe, ông trườn tới nữa, tới nữa, chong tai trên đất mà nghe, hơi thở nín lại ở trong lồng ngực. Thằng Ha Ray nói:

- Ai cũng sợ người Pháp cả.

Tên kia hất hàm:

- Còn lão chúa làng?

- Ông ta cũng sợ nhiều lắm nhưng ông ta nói không sợ, vì ông ta là chúa làng mà.

- Sao mày biết lão ấy sợ?

- Biết chứ. Ông ta cứ ngồi nhăn cái trán lại, rồi thở dài hoài. Người ta còn bảo ông ta không ăn được nữa, không ngủ được nữa. Thế chẳng phải sợ là gì?

- Đúng rồi, hắn sợ.

Người kia vội lôi từ trong túi ra những khúc bánh dài màu vàng và những đòn thịt ngậy béo đặt trên những tấm lá gì thật to màu trắng có lấm chấm đen rất dày:

- Ăn đi, rồi ta nói chuyện. Có rượu, có đường, có muối cho mày ở trong gùi đó.

Hắn chia bánh thịt cho thằng Ha Ray. Thằng này đỡ lấy, miệng cười toe toét, cặp mắt long lanh. Ông chúa làng nghĩ: Nó có đói khát gì đâu? Cái rừng cái núi nuôi nó đầy đủ lắm mà. Sao nó ngu thế? Nó thèm món ăn của kẻ thù, nghĩ mà giận quá. Ông tháo cây ná, tra mũi tên độc. Gun cũng lặng lẽ làm theo. Mắt ông chúa làng đỏ ngầu, tay ông run run căng ná. Rồi ông ra dấu cho Gun để chia phần các con mồi trước mặt. Ông sẽ bắn thằng Ha Ray vì nó là dân của buôn, nó đã làm hại cái buôn thì chúa làng nó gánh phần xử trị. Còn tên Thượng kia là phần Gun đấy.

Bọn chúng cắn vào bánh thịt rồi nhai nhồm nhoàm một cách hả hê. Tên Thượng vừa nhai vừa hỏi:

- Mày có nói cho dân làng biết người Pháp mạnh hay không?

- Nói rồi, nói ngay cái đêm về buôn.

- Tốt lắm. Lão chúa làng mày còn nói những gì nữa không?

Ông Dô không để cho thằng Ha Ray trả lời. Ông đưa ná lên ra hiệu cho Gun, rồi ông giương hết gân lực phóng mũi tên độc vào thằng phản bội. Đồng thời, ở bên cạnh ông, mũi tên của Gun cũng vút lao đi. Chúng rít không khí, găm vào kẻ thù. Tên Thượng trúng ngay giữa lưng. Ha Ray trúng ngay giữa ngực. Cả hai không kịp kêu lên, chỉ mở trợn trừng cặp mắt, há hoác cái miệng, buông tay thả rơi khúc bánh rồi ngã 1vật ra.

Ông Dô vội vàng chạy tới. Hai người đã chết. Thuốc độc quá mạnh, mới ngấm vào máu đã giết chúng rồi. Bữa ăn của chúng gồm toàn những thứ ngon miệng nhưng chúng vẫn nuốt không trôi.

Ông Dô bảo Gun:

- Ném xác chúng nó xuống dưới hố kia. Gấp lên, đừng để cho ai nom thấy.

Rồi ông thở dài, nhìn xác Ha Ray:

- Không có thằng Pháp thì mày đâu có chết gấp thế này. Thằng Pháp hại mày, không phải là chúng ta đâu.

Hai người hợp lực cùng nhau khiêng xác Ha Ray và người Thượng kia xô xuống hố sâu rồi mang cây súng và đạn đem về giấu trong một ngôi nhà mồ sau buôn.

Vũ Hạnh
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 559

(1) Doan: Người Việt; (2) Mơ-roác: loại cây có gỗ rất dẻo, chuyên dùng làm ná, làm cung;
(3) Hê-răng: loại cây gỗ lớn, trái chín đỏ; (4) A-lê: cây măng le, hay giang.

Ý Kiến bạn đọc