Tản văn

Nỗi niềm về quê ăn Tết

Mẹ tôi là con gái Phú Thọ, lấy chồng xa, theo bố tôi về tận Hải Dương. Khoảng cách mấy trăm cây số cộng với chuyện giao thông khó khăn thời bao cấp khiến đường về quê cha đất tổ thêm dằng dặc. Bao nhiêu năm, mẹ chỉ ước ao được về quê ăn Tết một lần. Vậy mà không được!

Về quê ăn Tết, nghe có vẻ đơn giản thế, mà chẳng đơn giản chút nào. Nhà ông bà nội tôi có đến 3 người con trai, nhưng 2 người hy sinh trong kháng chiến chống Mỹ, chỉ còn bố tôi, con trai út mà lại thành “trưởng giả”. Ngày Tết, mẹ phải cùng bố lo bao nhiêu chuyện, từ thăm hỏi, chúc tụng mọi người trong họ hàng đến cơm nước cúng bái tổ tiên, mua bán, sắm sửa… Một nách 3 con thơ, quay như chong chóng suốt ngày, mẹ không dám mơ đến một ngày Tết được đưa các con về bên ngoại. Từ Hải Dương lên Phú Thọ, riêng chuyện đi lại cũng đã đầy thử thách. Bây giờ, nghĩ lại chuyện “chen tàu” thời bao cấp, ngay tôi – thủa ấy mới chỉ là con bé 5, 6 tuổi – cũng thấy rùng mình. Mẹ là giáo viên, bố công chức nhà nước, thời gian nghỉ Tết không dài, tiền dành cho việc tiêu pha vào dịp Tết cũng vô cùng eo hẹp. Phận gái, lấy chồng phải lo “gánh vác giang sơn nhà chồng” nên mẹ cũng không một lời than thở. Tuy nhiên, mong ước được về quê ăn Tết luôn thường trực trong mẹ, mà rồi chưa khi nào mong ước ấy thành sự thật. Tôi nhớ ngày mấy chị em còn bé, mỗi đêm 30 Tết, khi cả nhà quây quần xung quanh bếp lửa rực hồng canh nồi bánh chưng, mẹ luôn luôn kể chuyện “Tết trên quê ngoại”. Mẹ kể, bà ngoại thường gói nhiều loại bánh, nào bánh chưng, bánh lẳng, bánh tro. Nào bánh dợm, bánh khoai, bánh sắn… Bánh chưng trên quê ngoại cũng có hai loại, loại bánh chưng vuông và loại bánh chưng dài. Mẹ kể Tết trên quê ngoại đúng dịp những cây đào, cây mận, cây mơ ông ngoại trồng quanh nhà đồng loạt tung cánh. Hoa đào phơn phớt hồng. Hoa mơ, hoa mận, hoa mai trắng muốt. Trời càng lạnh, những bông hoa trông càng tươi thắm. Hễ có mưa xuân, những chồi lá non thức dậy, xanh mơn mởn. Mẹ còn kể, mưa xuân là dịp những nương chè cho nhiều búp nhất. Chè xuân là chè ngon nhất, nước xanh, hương thơm, vị đượm. Sát Tết, dù bận bao nhiêu đi chăng nữa, nhưng cứ có mưa xuân là tất cả đổ lên đồi hái chè.

Ba-me-con---Vu-Giang-Huong
Ba mẹ con (1959) – ký họa – Vũ Giáng Hương.

Để qua một hai ngày thôi, búp chè sẽ quá lứa, mất ngon. Có năm, mẹ và bà ngoại thức cả đêm 30 Tết để sao chè. Mẹ còn kể, bếp củi nhà bà ngoại đỏ lửa suốt cả mùa đông. Những ngày Tết, cả nhà quây quần quanh bếp. Ngày mẹ còn bé xíu, mỗi lần gói bánh chưng Tết, ông ngoại bao giờ cũng gói dành cho mẹ và bá Huệ một cặp bánh chưng con, để trên cùng nồi luộc. Hai chị em thức canh bánh chưng thâu đêm, không biết buồn ngủ là gì. Đến khi được nếm miếng đầu tiên của chiếc bánh chưng con, thấy nó ngon hơn mọi thứ cao lương mỹ vị trên đời… Ánh mắt mẹ lấp lánh, nhưng giọng mẹ lại ngậm ngùi khôn tả mỗi khi kể chuyện “Tết xưa quê ngoại”, khiến cho chị em tôi, dẫu còn rất nhỏ, cũng cảm nhận được một nỗi buồn mơ hồ, vương vấn. Mấy ngày Tết, mẹ nhắc đến quê ngoại nhiều hơn bao giờ hết. Làm gì mẹ cũng so sánh “ở quê ngoại làm thế này… trên quê ngoại làm thế kia”. Bất cứ thứ gì cũng gợi cho mẹ nhớ đến quê ngoại. Mẹ khắc khoải từ chuyện “năm nay rét nhiều, không biết giàn trầu của bà ngoại có bị lụi mất không” đến chuyện Tết này bà gói bao nhiêu bánh chưng, bánh lẳng. Mẹ nhắc đến quê ngoại nhiều, cho nên tự dưng Tết quê ngoại cũng trở thành nỗi ám ảnh đối với tôi.

Sau này, khi chị em tôi khôn lớn thêm tí chút, mẹ có thể về quê ngoại vào dịp Tết. Nói là “dịp Tết” vì không bao giờ mẹ đi được vào đúng Tết. Đúng Tết, còn phải ở nhà lo cái Tết cho cả gia đình. “Vắng đàn ông quạnh nhà, vắng đàn bà quạnh bếp”, cả năm có một cái Tết, vắng mẹ làm sao được. Là con lớn, nên tôi hay được đi theo mẹ. Có năm mẹ về quê ngoại trước Tết khoảng hơn chục ngày. Chưa có không khí Tết. Những cây đào, cây mận, cây mai mới chỉ lác đác bung một vài chấm hoa be bé. Chưa có mưa xuân. Mọi người cũng chưa tất bật với công việc của Tết nhất. Nhưng vì có mẹ con tôi lên, nhà bà ngoại ăn Tết sớm hơn. Bà cũng gói bánh, cũng mổ gà, mẹ con tôi cũng ra mộ thắp hương các cụ, cũng đi thăm nhà nọ nhà kia, nhưng vẫn chỉ như những lần về quê vào dịp hè, chưa phải là Tết, không có vẻ gì là Tết.

Ở quê 2, 3 ngày, hai mẹ con lại xuôi về quê nội. Lúc bấy giờ, mẹ mới chính thức bắt tay vào lo Tết nhất. Để rồi trong những ngày Tết, mẹ lại ngồi thẫn thờ nhớ đến Tết quê cha… Có năm, tôi với mẹ về quê ngoại ngay sau Tết. Không còn không khí Tết nhất nữa. Mọi sự chộn rộn, tất bật, háo hức đã qua. Tôi nhớ mãi cảm giác bâng khuâng khi dẫm chân lên những xác pháo màu hồng đã nhợt đi vì mưa xuân tơi tả bên ngoài mảnh sân đất nhà bà ngoại. Hoa đào vẫn hồng, hoa mận hoa mơ vẫn trắng trên cây, mưa xuân vẫn bay phơi phới, nhưng Tết thì không còn nữa… Nắm tay mẹ bước lên bậc thềm đất nhà ngoại đã lở ít nhiều do mưa nắng, con bé con chưa đầy 10 tuổi là tôi thoáng thấy mẹ thở dài…

Mấy chục năm đã trôi qua… Mẹ bây giờ đã thành một bà già với cả bầy cháu ngoại ríu rít. Mẹ về hưu mấy năm rồi, bố cũng về hưu, không còn vướng bận chuyện cơ quan nữa. Gần Tết, tôi sẽ sàng gợi ý: “Mẹ có muốn về quê ngoại Tết này không? Con thuê xe…”. Thật bất ngờ, mẹ lắc đầu. Tôi ngạc nhiên. Bao nhiêu năm mẹ mong được ăn Tết trên quê ngoại. Bao nhiêu năm mẹ ngậm ngùi nhớ quê mỗi dịp Tết đến, xuân về. Thế mà bây giờ, khi có điều kiện để đi, mẹ lại lắc đầu… Như hiểu nỗi băn khoăn của tôi, mẹ thở dài rất khẽ, bảo: “Bây giờ, về quê ăn Tết với ai…”. Bỗng dưng tôi cũng ngồi lặng đi. Ông ngoại khuất bóng đã lâu. Bà ngoại đến ở cùng bá Huệ. Nhà xưa đã bán mất rồi… Không còn nương chè, không còn giàn trầu, không còn cây mơ, cây mận, cây đào, cũng không còn bếp lửa cháy suốt mùa đông giá lạnh… “Về quê ăn Tết với ai?”. Trong lời mẹ có hai hàng nước mắt…

Em gái tôi lấy chồng xa, vừa buổi sáng nay cũng điện về, khắc khoải: “Sắp Tết rồi. Nhưng có lẽ Tết này em chẳng về nhà mình được”. Chồng nó đang du học tận Pháp. Một tay hai con thơ, thêm bố mẹ chồng già yếu, làm sao Tết có thể về với mẹ cha? Tôi ôm điện thoại mà rưng rưng nước mắt… 

Nguyễn Thị Việt Nga
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 435

Ý Kiến bạn đọc