Tản văn

Nơi nguồn cội loài người

Bà cụ Hằng, tôi được biết đã 80 tuổi nhưng hàm răng đen vẫn còn đều tăm tắp như hạt na, nói với chúng tôi: Cái hang đó ở lưng chừng núi, cao lắm, chúng tôi chưa bao giờ trèo lên được. Ngày xưa thì um tùm lắm, đá lởm chởm, nhọn hoắt như mũi nỏ, chỉ những anh thanh niên nhanh nhẹn mới dám trèo lên đó. Còn chúng tôi chả mấy khi lên đến nơi. Bây giờ họ phát quang cây cối rồi. Dạo ni thấy nhiều người đến lắm. Có cả ô tô đi từng đoàn…

Ấy là bà cụ Hằng (Hằng là tên cháu nội cụ, cách gọi theo phong tục địa phương) đang nói tới hang Con Moong ở cách nhà bà không xa. Hang Con Moong thuộc thôn Thành Trung, xã Thành Yên, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa. Một di chỉ của người cổ đại được phát hiện cách nay hơn 4 thập kỷ.

Chúng tôi đi qua một đoạn đường bê tông từ đường cái dẫn vào chân núi và bắt gặp một cây cầu qua suối đang được thi công, gạch đá, cát sỏi ngổn ngang. Cả đoàn chậm bước men theo dầm bê tông để qua suối. Mùa này nước cạn, lòng suối khô ráo, thực ra cứ đi qua lòng suối cũng chẳng hề ướt chân.

Duong-vao-di-chi-hang-Con-Moong
Đường vào khu di chỉ hang Con Moong.

Đường lên hang lởm chởm thật, toàn đá tai mèo dựng đứng như mũi chông (tôi nhớ lại lời bà cụ Hằng), ấy là bây giờ lối lên đã được phát quang rồi đấy. Dẫn chúng tôi lên hang là Bí thư Đảng ủy Đinh Văn Công và Chủ tịch Ủy ban xã Thành Yên Trương Thanh Đại. Cùng đi còn có anh Đinh Thế Thắng, Phó ban Tuyên giáo Huyện ủy Thạch Thành. Cả ba Thắng, Công, Đại đều còn trẻ, tầm ngoài 30, cử chỉ nhanh nhẹn, năng động nhưng điềm đạm. Các anh là người bản xứ, thông thạo đường, lại quen đi rừng, leo cứ thoăn thoắt. Đi trước dẫn lối và nhường lối, nhưng chốc chốc các anh phải đứng lại chờ chúng tôi. Đây là vùng đệm Vườn quốc gia Cúc Phương, cây cối nguyên sơ, dây dợ chằng chịt, tán cây ken dày không chút ánh nắng nào lọt được xuống đầu, ấy vậy nhưng mới leo chừng nửa chặng, tất cả chúng tôi mồ hôi mồ kê túa ra như tắm…

Tôi hỏi Đại:

- Người dân có hay vào đây không?

Đại trả lời:

- Đây là khu vực di tích anh ạ. Chỉ những người có trách nhiệm mới được vào thôi.

- Sao lại gọi là Con Moong? – Tôi lại hỏi.

- Con Moong là con thú đó anh. Moong thú mà. Quê em gọi thế.

Ra là thế! Moong nghĩa là Muông, theo cách phát âm của người địa phương. Muông thú.

Đại say sưa:

- Em nghe các cụ kể, ngày xưa vùng này nhiều thú dữ lắm. Các ông hổ thì về luôn, nhưng không ai dám bẫy…

Lời Đại kể khiến tôi chợt nhớ, 37 năm trước, hồi đơn vị Công an vũ trang chúng tôi đóng quân ở đây để bảo vệ hậu cứ của Bộ Tư lệnh. Đêm đêm thú dữ về trên núi rất nhiều. Ngôi nhà sàn tôi ở ngay bìa rừng, tiếng nai, hoẵng, khỉ, gấu… kêu sát nhà. Tôi hỏi chủ nhà, ông nói: Thú nó về đấy. Ông còn nói, mươi năm trước còn có cả hổ về nữa kia. Nghe mà khiếp. Đêm khuya chúng tôi không ai dám rời nhà sàn xuống đất.

- Hang kia rồi, anh! – Bí thư Công kêu lên.

Chúng tôi cùng đứng lặng trước cửa hang, một chút rưng rưng… Không ai bảo ai, tất cả đều chắp tay trước di chỉ cổ nhân. Một bàn thờ lộ thiên nho nhỏ được ai đó đặt từ bao giờ, đã bạc phếch nắng mưa, vài sấp vàng mã đã phai màu của những người đến trước.

Lối lên hang dốc đứng, thì qua cửa hang, xuống lòng hang cũng dốc không kém. Hang có hai cửa thông nhau, dài khoảng 40 mét cong theo hình bán nguyệt, vòm hang cao tới 5 – 7 mét, đôi chỗ có nhũ đá. Vách hang có chỗ hơi phẳng.

Hố khai quật lộ rõ các tầng văn hóa thiên kỷ. Nhặt một mảnh vỏ ốc, tôi nói với Đại:

- Những vỏ ốc này đã ở đây vài chục nghìn năm rồi đấy.

Đại và Công cùng cười:

- Vâng, chúng em cũng được nghe nói thế.

Không biết người xưa đã ăn ốc và vỏ được chất đống hay họ thu thập vỏ ốc để làm gì, có thể những vỏ ốc đã được người xưa dùng cho mộ táng. Ở hố khai quật sâu hơn 3 mét, một mộ táng đang được bảo tồn. Các nhà khảo cổ đã phát hiện được di cốt bốn cá thể thuộc nhiều mộ táng, trong đó có một mộ còn khá nguyên vẹn, di cốt cho thấy cá thể được táng theo kiểu nằm co, bó gối, cùng với các đồ tùy táng là dụng cụ lao động bằng đá.

Theo các nhà khoa học, giá trị nổi bật nhất của hang Con Moong là lần đầu tiên phát hiện ra địa tầng có dấu vết của quá trình phát triển liên tục của con người thời tiền sử từ thời đá cũ đến đá mới, từ săn bắn hái lượm đến trồng trọt. Sự phát triển này là một thành tựu văn hóa vĩ đại của nhân loại.

Lần giở kỷ yếu thông báo khoa học, tôi chép vội vào sổ tay “Hang Con Moong là di tích mộ táng của cư dân thời đại Đá; di tích có địa tầng dày, nguyên vẹn minh chứng cho sự tiến triển về cổ khí hậu từ khô lạnh về giai đoạn cuối băng hà sang nóng ẩm, từ văn hóa thời đại Đá cũ sang Đá mới, từ kỹ nghệ chế tác công cụ mảnh sang kỹ nghệ cuội ghè; hang Con Moong đại diện cho sự diễn tiến văn hóa gắn với nhiều giai đoạn trước Sơn Vi sang Sơn Vi đến văn hóa Hòa Bình – Bắc Sơn và Đa Bút”.

Nhà sử học Phạm Tấn, Tổng thư ký Hội Khoa học lịch sử Thanh Hóa, nói với tôi: “Các ông là nhà thơ, các ông chỉ cần nói rằng: hang Con Moong chính là ngôi nhà 18 nghìn năm của người tiền sử”.

Duong-vao-hang-Con-Moong-dang-duoc-xay-dung
Đường vào hang Con Moong đang được xây dựng.

Ngôi nhà 18 nghìn năm của nhiều thế hệ tiền nhân, một chặng đường dài dằng dặc trên con đường tiến hóa của xã hội loài người, của cư dân Việt. Một bằng chứng đầy tự hào của xứ Thanh, là cái nôi của người Việt cổ, cái nôi của loài người. Gần 2 vạn năm cư trú, dài lắm, từ lúc con người mới biết đứng thẳng, thậm chí khi di chuyển còn dùng đến cả hai tay. Lúc con người mới biết sử dụng những mảnh đá để chặt cây, đào củ… Các tầng văn hóa đã nói lên điều đó.

Tôi đặt tay lên vách hố thám sát, các tầng văn hóa xếp chồng lên nhau lớp lớp tầng tầng. Thớ đất âm ấm lòng tay. Lời của tiền nhân như đang vang vọng… Từ đầu Công nguyên đến nay hơn 2 nghìn năm, biết bao biến thiên, biết bao vật đổi sao dời, biết bao tang điền thương hải. Tiền nhân của chúng ta cư trú ở hang này từ trước 10 lần khoảng thời gian đó, để rồi đã lưu lại cuốn địa bạ vô giá cho hậu thế hôm nay, một sử ký sinh động về sự phát triển của loài người.

Đại và Công hướng dẫn chúng tôi đi sâu vào lòng hang. Lòng hang mát rượi. Vòm hang cao, vài nhũ đá rủ xuống giữ vẻ hoang sơ. Hang thông hai đầu, ở cửa phía nam nền đất bằng phẳng hơn chút ít. Gió hút vào hang âm âm, u u. Từ cửa hang nhìn xuống là một thung lũng hẹp thuộc vùng đệm Vườn quốc gia Cúc Phương. Thắng chỉ tay về phía thung lũng:

- Phía xa kia khoảng chục cây số nữa là cửa chính Vườn quốc gia Cúc Phương đấy anh. Còn đến khu bảo tồn thì chỉ độ 4 cây nữa thôi.

- Đường sang bên ấy có khó đi không?

- Cũng như ở đây thôi anh, đường đất núi cả mà.

Thắng cho chúng tôi biết, đã có rất nhiều đoàn các nhà khoa học trong, ngoài nước và sinh viên các trường đại học đến đây, từ khảo cổ, nghiên cứu sử, địa chất, nhân chủng học, tài nguyên… Gần đây nhất là các nhà khoa học ở Viện Hàn lâm khoa học Liên bang Nga… Tất cả đều khẳng định giá trị đặc biệt của hang Con Moong và quần thể các hang động trong vùng. Hệ thống động, thực vật ở đây rất phong phú. Toàn bộ hệ thống rừng nguyên sinh quanh khu vực hang hầu như còn nguyên vẹn, với nhiều loài cây gỗ quý, có đường kính lớn và còn khá nhiều động vật hoang dã như: khỉ, gấu, hoẵng, nai rừng…

Theo lời kể của Công, tôi biết quê anh, ngoài di chỉ đặc biệt quý giá hang Con Moong, còn có rất nhiều địa chỉ, địa danh thú vị khác nữa. Đó là Suối nước nóng, suối Cô Tiên ở Yên Sơn, hồ Vũng Sú, hồ Bỉnh Công, hang Tình Yêu có làn nước ấm về mùa đông, mát lạnh về mùa hè… Đặc biệt nơi đây có những địa danh kỳ bí đến tận bây giờ người dân vẫn chưa lý giải được. Như ở Lống Đá, tiếng Mường gọi là Lống Thụ thôn Yên Sơn, cách quèn Dấu Trâu chừng non nửa cây số trên đường đi vào thung Lắm, có nhiều ngôi mộ lạ. Những ngôi mộ này được đánh dấu bằng hai viên đá to, phẳng, dài ở đầu mộ và cuối mộ. Người dân địa phương gọi là Ma Ngô.

Theo nhà sử học Phạm Tấn, hang Con Moong cùng với động Người Xưa, hang Đắng, mái đá Mộc Long, hang Lai, hang Lý Chùn, hang Mang Chiêng, hang Diêm… là một quần thể di tích khảo cổ học có giá trị nổi bật toàn cầu, hiện đã được Thủ tướng Chính phủ đồng ý lập hồ sơ đề cử UNESCO xem xét, công nhận hang Con Moong là di sản văn hóa thế giới.

Hang Con Moong đang trên đường trở thành di sản văn hóa của nhân loại, chắc chắn sẽ đến. Rồi đây các công trình quản lý và phát huy di sản sẽ mọc lên. Nhìn lại cây cầu bê tông sát chân núi sắp hoàn thành, tôi trộm nghĩ, các nhà kiến trúc, các nhà xây dựng bằng cách nào đó giấu đi tối đa cái khối bê tông trần trụi ấy được không? Và con đường cũng sắp hoàn thành nữa. Nền đường có thể là bê tông, là nhựa áp phan, hẳn rồi. Nhưng hai bên đường đừng bê tông hóa nữa, đừng gạch đá, xi măng, sắt thép nữa… Mà nên tạo dựng những quần thể, những cụm thực vật với các gốc cây, dây leo, hốc đá… như thiên nhiên đang hiện hữu cách đó chỉ vài chục mét. Di chỉ sẽ trở thành điểm tham quan, du lịch và nghiên cứu, học tập. Sẽ đón hàng nghìn, hàng chục nghìn người mỗi năm. Lối lên hang sẽ là chuyện cần phải bàn. Sẽ phải là lối lên thuận tiện, đáp ứng phục vụ cho nhiều người cùng một lúc. Thiết nghĩ, giữ nguyên hệ thực vật, địa chất là nguyên tắc bất di bất dịch, cũng như bảo tồn nguyên vẹn cửa hang. Như thế có nghĩa là phải làm một hệ thống cầu thang cho lối lên xuống và lan can cho khách chiêm ngưỡng. Cầu thang và lan can cần được tách rời và không làm biến dạng đá núi và cây cối xung quanh, cần phải mô phỏng tuyệt đối hệ thực vật và địa chất tại chỗ. Khách tham quan không đặt chân vào cửa hang mà chỉ đứng trên lan can. Một số di vật như di cốt của người xưa, mộ táng, vỏ ốc, dụng cụ lao động bằng đá… sẽ có tiêu bản hoặc được phỏng tạo ở nhà trưng bày để giúp du khách hình dung rõ hơn về lòng hang.

Trở thành điểm tham quan, các công trình như nhà trưng bày, nhà đón tiếp, trụ sở Ban quản lý, bảo vệ, bãi đỗ xe, ki-ốt bán đồ lưu niệm… ắt sẽ mọc lên. Các nhà kiến trúc cần nghiên cứu để mô phỏng tối đa cảnh quan hoang dã của núi rừng nguyên sinh. Cũng có nghĩa giấu đi tối đa các cấu kiện bê tông, sắt thép, gạch, đá, kính… ở vùng rừng núi nguyên sinh và di chỉ khảo cổ hoang sơ này. Những nhà cao tầng với cửa kính chói lóa, những bãi đỗ xe với tường cao kín mít, những ki-ốt với mái tôn xanh đỏ sẽ lạc lõng, thậm chí sẽ phá vỡ cảnh quan vốn rất hoang sơ của vùng rừng núi nguyên sinh, của di chỉ khảo cổ học, di sản văn hóa mà loài người ngưỡng mộ.

*

Thành Yên là một trong những xã khó khăn nhất của huyện Thạch Thành. Trước khi đi Thành Yên, anh Phạm Trọng Dũng, Phó bí thư thường trực và chị Quách Thị Tươi, Trưởng ban Tuyên giáo Huyện ủy nói: Mời các anh lên Thành Yên là để các anh đến với một xã trong tốp khó khăn nhất huyện, thuộc vùng sâu vùng xa. Cũng là để các anh hình dung được quyết tâm thoát nghèo, xây dựng nông thôn mới của người dân nơi đây.

Thành Yên là xã miền núi thuần nông, cây trồng chủ yếu là lúa và mía. Diện tích dành cho mía hơn 300 hécta, còn diện tích lúa là 105 hécta. Xã có diện tích tự nhiên hơn 44 cây số vuông, dân số 3 nghìn 300 người, 840 hộ gia đình. Cư dân xã nằm dọc theo con đường Kinh tế mới, là con đường nối từ tỉnh lộ 523 ở Tây Hương Thành Mỹ rồi qua rừng Cúc Phương đi Nho Quan, Ninh Bình.

Anh Dũng và chị Tươi nói đúng. Thành Yên xây dựng nông thôn mới với xuất phát điểm rất thấp.

Gần 40 năm trước, tôi đã ở Thành Yên. Gần 40 năm quay lại, con đường Kinh tế mới – đường trục chính chạy qua Thành Yên, vẫn thế. Vẫn đường đất thuở nào nắng thì bụi mù, mưa xuống nước chảy xối thành sống trâu sống bò. Vẫn những vạt ruộng, vẫn con suối róc rách thi thoảng có người đeo giỏ mò ốc đá tròn, ốc suối dài, mò cá niếc, pu pu… Có thay đổi chăng, ấy là vắng hẳn nếp nhà sàn, vắng hẳn bóng áo cóm, váy thổ cẩm… Bìa rừng thì lùi xa, nhiều lưng núi đã trống trơ trống hoác… Đâu rồi tiếng mõ trâu lốc cốc mỗi chiều về, đâu rồi những người đàn ông đeo dao nắp vào rừng, đâu rồi những khung dệt thổ cẩm. Không biết giờ đây có còn những đêm hát đối đáp khi có khách ở xa đến chơi, những đêm Tảy rôộng của các thanh nam, thanh nữ, của các lứa tuổi. Đồng Thành, Sơn Trung, Thành Trung, Thành Tân… những cái tên găm vào ký ức tôi một thời.

*

Tôi kính cẩn thắp nén hương lên bàn thờ Bà mẹ Việt Nam Anh hùng Bùi Thị Mẫm. Cụ Mẫm là chủ nhà khi tôi đóng quân ở đây. Cụ quý chúng tôi như con cái trong nhà. Khi chúng tôi chuyển quân, cụ xuống nhà sàn tiễn chân. Xe đi một đoạn khá xa mà cụ vẫn còn đứng ngóng theo. Cụ có 3 người con đi bộ đội chống Mỹ thì 2 người hy sinh. Năm 2014, cụ được truy tặng danh hiệu cao quý Bà mẹ Việt Nam Anh hùng. Người chăm lo thờ cúng cụ hiện nay là Nguyễn Văn Thiệu, cháu đích tôn của cụ. Hồi chúng tôi ở đây Thiệu đang còn nhỏ. Nay Thiệu đã lên ông ngoại.

- Hồi các anh ở đây, em còn trẻ con mà! – Tôi nói.

- Vâng – Thiệu trả lời- Lúc đó em mới 13, nay em 50 rồi, anh.

Thế đấy, thời gian vùn vụt trôi.

*

Chủ tịch xã Đinh Văn Công cho tôi biết thêm: Đến hết năm 2015, xã mới đạt 8 trong số 15 tiêu chí nông thôn mới, hiện vẫn còn rất khó khăn. Xã đã đạt chuẩn y tế giai đoạn 1, trường cấp 1-2 đã hai tầng với 24 phòng học; 100% hộ dân có điện. Xã đã có điểm bưu điện văn hóa. Toàn xã có 6 trang trại và 40 gia trại, đàn trâu bò 1.138 con. Thu nhập bình quân 13 triệu đồng/người/năm. Tỷ lệ hộ nghèo là 57,6%, cao nhất huyện.

Tỷ lệ nghèo 57,6% là ở tốp cuối của cả tỉnh rồi! Nhưng có được những kết quả vừa nói ở trên cũng là cả sự cố gắng lớn của người dân Thành Yên. Tôi đã từng ở đây, tôi hiểu rõ. Thành Yên như một ốc đảo. Giao thông, giao thương đều hạn chế. Con đường tỉnh lộ 523 nối từ Dốc Tràu thị trấn Kim Tân lên đến Thạch Quảng rồi vào đường Hồ Chí Minh đã được nâng cấp rải nhựa từ lâu. Ấy thế mà cái nhánh đường Kinh tế mới – người anh em sinh đôi với đường 523, từ dốc Tây Hương lên Thành Yên để ra cửa Vườn quốc gia Cúc Phương, đã bị bỏ quên.

Từ quốc lộ 1A, ở Trạch Lâm hoặc cầu Cừ, mọi người mải mê đi theo tỉnh lộ 522 hoặc tỉnh lộ 523 lên hướng tây bắc. Nếu theo tỉnh lộ 522 thì gặp quốc lộ 45 ở thị trấn Vân Du – Phố Cát. Còn đi tỉnh lộ 523 thì cắt quốc lộ 45 ở Kim Tân, rồi cả hai đường cùng lên Thạch Quảng sang Cẩm Thủy hoặc nối vào đường Hồ Chí Minh. Ấy thế mà có con đường chiến lược, con đường kết nối các di sản, con đường Kinh tế mới từ Tây Hương Thành Mỹ đi rừng Cúc Phương nói trên, lại quên béng đi mất. Tôi cứ tưởng con đường này đã làm xong từ lâu mới phải, mà phải là quy mô đường quốc lộ hẳn hoi. Này nhé, con đường này sẽ nối vùng thượng du, trung du phía tây tỉnh Thanh với đồng bằng Bắc bộ. Từ Quảng Ninh, Hải Phòng theo đường quốc lộ 10, qua Kim Sơn, thành phố Ninh Bình rồi lên Nho Quan sang Thành Yên theo đường Kinh tế mới, rồi lên Thạch Quảng để theo đường Hồ Chí Minh sang thị trấn Lam Sơn, Cẩm Lương. Hoặc xuống Kim Tân để qua Vĩnh Lộc. Như thế là ta đã được một tua kết nối các di sản. Kết nối Khu di tích quốc gia đặc biệt Lam Kinh, suối cá thần Cẩm Lương, di sản thế giới Thành nhà Hồ, di sản thế giới hang Con Moong với Vườn quốc gia Cúc Phương, khu du lịch Chùa Bái Đính, Quần thể danh thắng – di sản thiên nhiên thế giới Tràng An, Nhà thờ đá Phát Diệm, rồi di sản thế giới Vịnh Hạ Long… Một con đường di sản gần 300 cây số đã thênh thang rộng lớn ở hai đầu, vậy mà chỉ còn hơn 10 cây số nữa ở Thành Yên lại không làm khiến hai miền không gần lại được. Để đến bây giờ, hang Con Moong sắp trở thành di sản thế giới mà con đường vào di sản sống trâu sống bò, ổ voi ổ ngựa bụi tung mịt mù!

Tôi không hiểu vì sao con đường này có tên là đường Kinh tế mới? Có lẽ nó được hình thành từ thời chúng ta phát động phong trào đi xây dựng các vùng kinh tế mới chăng? Thực ra con đường Kinh tế mới này bắt đầu từ cái Dốc Trầu ở ngã ba Thành Trực – Kim Tân kia. Sau này người ta đã làm đường, rải nhựa đoạn từ Kim Tân lên Thạch Quảng và nó có tên mới là tỉnh lộ 523 như đã nói ở trên. Nhưng cái nhánh vào Thành Yên vẫn còn cái tên Kinh tế mới thì người ta quên béng, và Thành Yên trở thành ốc đảo. Cũng có nghĩa Thành Yên bị thiệt thòi nhiều thứ, vừa xa trung tâm huyện, vừa thiếu thốn văn hóa, hạn chế giao thông dẫn đến hạn chế giao thương và hệ quả tất yếu là đói và nghèo. Nên Thành Yên đứng ở tốp nghèo nhất tỉnh cũng là điều dễ hiểu.

Thành Yên, với di chỉ hang Con Moong sẽ là địa chỉ hấp dẫn để người khắp nơi trong ngoài nước tìm về. Cũng có nghĩa các dịch vụ phục vụ du lịch, tham quan… sẽ phát triển. Nhà hàng, khách sạn, quán xá… sẽ mọc lên, đời sống của người dân sẽ đổi thay, nhưng hệ lụy cũng sẽ được kéo theo. Làm thế nào để vừa phát huy, khai thác được thế mạnh của địa phương cho du lịch lại vừa bảo tồn được bản sắc, là bài toán phải giải quyết.

Như trên đã nói, Thành Yên ngoài hang Con Moong còn có một quần thể các di tích, hang động như hang Tình Yêu, suối nước nóng, suối Cô Tiên, khu mộ cổ… là những điểm du lịch thú vị, cần được khai thác, phát huy. Bên cạnh đó, cũng cần có phương án bảo tồn những nếp nhà sàn còn sót lại, bảo tồn và phục dựng những khung dệt thổ cẩm, phục dựng những mó nước, máng nước. Thậm chí cả tiếng mõ trâu nữa… Khách du lịch đi hàng ngàn, hàng vạn cây số, có khi cả nửa vòng trái đất đến đây không phải để ở phòng máy lạnh, ngắm nhà cao tầng, xem ti vi, ăn bánh mì sốt vang và uống rượu Tây. Đây cũng lại là một bài toán… Một bài toán cần sự đầu tư trí tuệ, công sức của các nhà chuyên môn, nhà quản lý và các doanh nhân… với tấm lòng đến với Thành Yên, cũng là đến với nơi vùng đất nguồn cội loài người.

22-6-2016

Lâm Bằng
(Tạp chí Văn Nghệ xứ Thanh, TP. Thanh Hóa)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 422

Ý Kiến bạn đọc