Tản văn

Nơi mùa xuân đến sớm!

Hồng Hà, con sông dài tới hơn 1.140 km, mang quốc tịch của hai nước Trung Quốc và Việt Nam. Hồng Hà, mang tình yêu của hai dân tộc Trung – Việt. Dòng chính của Hồng Hà bắt đầu từ vùng núi huyện Nguy Sơn, Vân Nam, Trung Quốc, khi chảy vào Việt Nam là hơn 500 km đi qua 9 tỉnh thành gồm Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hà Nội, Hưng Yên, Nam Định, Hà Nam, Thái Bình rồi hòa vào biển Đông. Người Việt vẫn gọi sông Hồng là sông Cái, sông Mẹ để mặc định tầm vóc vị thế to lớn của con sông này. Trong mỗi con người Việt, dù ở đâu cũng mang trong máu thịt mình một phần sông Hồng.

Trong chuyến công tác của Trại sáng tác trẻ Hội Văn học – nghệ thuật, đoàn chúng tôi hơn 20 văn nghệ sĩ và các nhà báo, CTV của Tạp chí Văn nghệ… Chúng tôi đã đến Lào Cai và tìm tới A Mú Sung, một xã nằm ở cực Bắc huyện Bát Xát. Tại sao phải là A Mú Sung chứ không phải là một địa chỉ khác của vùng đất phên dậu nổi tiếng Lào Cai? Đây là lời giải thích: Đến biên giới Việt – Trung, sông Hồng chảy dọc theo biên giới hai nước khoảng 80 km, đoạn thì bên lãnh thổ Việt Nam, đoạn bên Trung Quốc. Điểm tiếp xúc đầu tiên của sông Hồng với lãnh thổ Việt Nam là tại xã A Mú Sung; chính giữa sông là đường phân chia lãnh thổ hai nước…

Sông Hồng càng ngược lên thượng nguồn có vẻ như hẹp lại, nông hơn. Màu nước vẫn hồng như muôn thuở để chở về xuôi phù sa đắp bồi nên những cánh đồng thẳng cánh cò bay. Cánh nhà văn chúng tôi hào hứng chuyện trò, quên đi cảm giác say xe mệt nhọc trong suốt quãng đường dài, mặc dù thành viên của đoàn chủ yếu là phái nữ… Hai bên đường mọi người bắt đầu gặp nhiều hơn những bụi dã quỳ vàng tươi, rực rỡ khoe sắc bên triền núi, tạo cảm giác hoang sơ lại vừa hùng vĩ.

Điểm dừng chân đầu tiên của chúng tôi là ngôi trường Phù Lao Chải thuộc Trường Tiểu học A Mú Sung, huyện Bát Xát. Xe dừng lại trong sự đón chào nồng nhiệt của các chiến sĩ biên phòng, các thầy cô giáo, phụ huynh… Mọi người nhanh tay chuyển đồ từ trên xe xuống, đó là những món quà Tết sớm được gom góp từ những tấm lòng thơm thảo của các thành viên trong đoàn: người chiếc chăn ấm, người thì quần áo rét và sách vở, rồi những bao gạo dưới xuôi, những chiếc bút bi – bút mực. Khoảng trên dưới 30 học sinh tiểu học nhanh chóng xếp hàng, trời cuối đông lạnh lẽo nhưng các em chỉ khoác trên mình những chiếc áo thùng thình đơn sơ, có chiếc đã cũ kỹ bạc màu, có chiếc thì mới đẹp nhưng không phù hợp với vóc dáng vì vốn dĩ chúng cũng là những món quà từ thiện của mọi người gửi tới! Đa phần các em đen đủi, gầy guộc, khuôn mặt lem luốc với ánh mắt rụt rè lạ lẫm…

Noi-mua-xuan-den-som---Cot-co-Lung-Po-cao-41m---Anh-1
Cột cờ Lũng Pô cao 41 mét – Ảnh: lienhoantruyenhinh.vtv.vn

Những món quà mới đến nhanh chóng được chuyển tới các em trong không khí ấm áp thân thương, mọi người trong đoàn chúng tôi có mặt lúc này đều cảm nhận rõ một niềm thương cảm sẻ chia, tự thấy mình bấy lâu nay thật may mắn vì đã có một cuộc sống đủ đầy mà đôi lúc vô tâm không nghĩ rằng ở nhiều nơi cái ăn cái mặc vẫn còn là điều xa xỉ… Để rồi thêm nể phục những thầy cô giáo nơi đây, ngày đêm cắm bản, bám trường bám lớp đem chữ cho các em, nhiều thầy cô chấp nhận thiệt thòi cả về vật chất và tình cảm, gắn bó cuộc đời mình cùng nơi mảnh đất biên cương này… Tôi phóng tầm mắt nhìn bao quát quanh điểm trường, chỉ thấy mênh mông rừng núi điệp trùng trong làn khói sương còn vương chút nắng le lói. Đây đó lưa thưa mấy nếp nhà nhỏ xíu lẫn vào sương muộn, rồi có cả những túp lều nằm cheo leo trên sườn núi… Chúng tôi biết rằng phía xa ấy còn có rất nhiều cơ sở nhỏ, nơi có các thầy cô và các em học sinh ngày đêm bám trụ, tự túc sinh hoạt, vượt qua muôn vàn khó khăn để có được cái chữ…

Rời điểm trường Phù Lao Chải của Trường Tiểu học A Mú Sung, điểm đến tiếp theo của chúng tôi là cột cờ Lũng Pô, thuộc Đồn biên phòng A Mú Sung. Những người lính mang quân hàm màu lá cây đã ngồi chờ chúng tôi vài giờ rồi dù hôm nay thứ bảy, ngày nghỉ.

… Từ cột cờ Lũng Pô, chúng tôi say sưa thả tầm mắt, đắm mình trong non nước bao la hùng vĩ, tươi đẹp miền biên giới. Sắc chiều in bóng xuống đôi bờ sông, làn khói bếp mờ ảo uốn lượn trên nương bên kia sông, tiếng chim núi văng vẳng, gió lao xao. Hồng Hà, bắt đầu từ đây đã đổ vào đất Việt, một nửa dòng chảy là địa phận của ta, phần lãnh thổ thiêng liêng mang tên Tổ quốc mình.

Tiếp tục, chúng tôi cùng thăm quan khu vực nơi có cột mốc khắc rõ Quốc huy và dòng chữ màu đỏ: Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam…

Chiều đã muộn, trời bắt đầu tối và lạnh hơn, đón chúng tôi là thượng tá Trần Văn Khoa và các chiến sĩ của Đồn A Mú Sung. Được đón tiếp trong tình cảm hiếu khách, nồng nhiệt, chúng tôi như được trở về nhà bên những người anh người em người bạn thân lâu ngày mới gặp. Điều đáng trân trọng và khâm phục đối với các chiến sĩ biên phòng là dù gian khổ, khó khăn đến mấy các anh vẫn làm tròn nhiệm vụ được giao. Với các anh, không tình yêu nào lớn hơn tình yêu biên giới, tình yêu đất nước, không nhiệm vụ nào thiêng liêng hơn nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền lãnh thổ Việt Nam. Đồn biên phòng A Mú Sung quản lý gần 27 nghìn kilômét đường biên giới. Một biên giới minh định, minh bạch, hòa bình hữu nghị là ước mong của nhân dân và chiến sĩ ta. Và, những người lính biên phòng đang làm hết sức mình để đạt được việc đó. Qua câu chuyện tâm tình, chúng tôi được biết từ năm 1993, thượng tá Trần Văn Khoa vác ba lô lên A Mú Sung và… ở một mạch cho đến tận bây giờ. Không những không thoái lui mà anh còn vận động vợ con từ Gia Lộc – Hải Dương lên Nậm Chảy, nơi xa nhất của huyện Bát Xát. Và giờ đây, anh chị đã có hai cậu con trai: một đang học Đại học Thái Nguyên, một đang học lớp 9 ở Bát Xát.

Qua câu chuyện của các anh, mới càng thấm thía sự hy sinh của người chiến sĩ biên phòng ngay cả trong thời bình. Bom mìn chực chờ, núi cao vực thẳm, thiên tai, lũ quét, bệnh tật, tội phạm luôn trực diện với các anh. Để rồi nhớ mãi câu thơ mà một chiến sĩ chép tặng chúng tôi:

Dưới bóng vàng sao nơi biên giới
Đá cũng là dân đất nước tôi
Đêm xuống sương bò ra mặt đá
Đá cũng như người toát mồ hôi.

Ở Đồn A Mú Sung, mọi thứ đều phải tự túc. Từ các loại rau sạch, gà sạch, lợn sạch… Đồn có nuôi một đàn lợn rừng, gà đồi và đàn bò ngót trăm con. Người dân thuộc khu vực Đồn A Mú Sung quản lý gồm 5 dân tộc Mông, Dao, Tày, Nùng, Kinh, với tập quán canh tác nương rẫy và khai thác lâm sản. Thiếu nước sạch ngay ngã ba nơi con sông Hồng chảy vào đất Việt thoạt nghe tưởng là chuyện đùa nhưng nó lại là thực tế khi vào những năm trước, để gánh được nước sông lên dùng, có khi phải đổ ngần ấy mồ hôi. Các anh tâm sự: “Ngày nghỉ, nhớ nhà, đành đi xuống thị trấn, mua mấy thứ lặt vặt ăn xong bữa sáng đã quá 12 giờ cuốc bộ về đồn là sẩm tối”.

Nơi biên giới, hôm nay đã có rất nhiều cái mới, cái hay, nhiều mô hình làm ăn kinh tế hiệu quả. Các bản dọc tuyến biên giới huyện Bát Xát và đặc biệt là xã A Mú Sung trước đây còn đói nghèo. Nhưng, với quyết tâm “Bàn tay ta làm nên tất cả! Có sức người sỏi đá cũng thành cơm!”, bộ đội biên phòng A Mú Sung đã tìm hướng đi giúp bà con thoát đói nghèo. Phía bên Trung Quốc khi ấy phát triển mạnh phong trào trồng chuối vì đây là giống cây cho thu nhập khá cao do phù hợp với thổ nhưỡng. Thế là, các chiến sĩ tuyên truyền vận động hướng dẫn bà con, cùng với đó, mỗi chiến sĩ luôn sát cánh làm mọi việc. Thành quả đã đến khi dân ngày càng no ấm, giàu có. Nhiều gia đình thu nhập từ trồng chuối bình quân 200 đến 300 triệu đồng/năm.

Bữa cơm tối được tổ chức tại nhà ăn của các chiến sĩ, những món ăn do chính tay các anh nấu nướng bằng cả tấm lòng hiếu khách, có cả món rau rừng A Mú Sung lần đầu tiên tôi được thưởng thức. Ăn và ca hát, tình cảm và những lời ca như xua tan đi cái lạnh cuối năm nơi núi rừng biên giới… Ly rượu nồng nấu từ nếp nương cay cay thơm quyện trong tiếng đàn… Những tiếng cười và cái bắt tay thật chặt khi gặp lại đồng hương. Có chiến sĩ quê ở Bắc Giang, Hưng Yên, Hải Dương, Thái Bình… đã nhiều tháng nay, các anh chưa về thăm gia đình, nay gặp những người dưới xuôi lên, nỗi nhớ nhà vỡ òa trong lời tâm sự, hỏi thăm, hay chỉ là khi tình cờ nhắc đến một địa danh quen thuộc gắn bó với mình từ bé…

Đêm đã về khuya, để có chỗ nghỉ ngơi cho cả đoàn chúng tôi, các chiến sĩ biên phòng A Mú Sung đêm nay sẽ thức trắng đêm, nhường lại những chiếc giường, chiếc chăn ấm cho chúng tôi. Không ai nói ra lời, nhưng tất cả chúng tôi cảm nhận trong đó là mong muốn, là lời chúc tốt đẹp nhất của các anh chiến sĩ biên phòng khi sớm mai chúng tôi thức dậy sau giấc ngủ ngon, mọi người sẽ có thêm sức khỏe để tiếp tục cuộc hành trình…

Chia tay các chiến sĩ A Mú Sung, kỷ vật đoàn chúng tôi tặng các anh chỉ là chiếc ti vi nhưng gói ghém trong đó là những tình cảm chân thành tốt đẹp của tạp chí Văn nghệ Hải Dương dành cho các chiến sĩ nơi biên cương, như lời hẹn về một ngày trở lại của chúng tôi và những người đã tới đây, được tiếp thêm sức mạnh cho các chiến sĩ tiếp tục gắn bó với mảnh đất thiêng liêng nơi địa đầu Tổ quốc, hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân giao phó.

Bùi Thị Thu Hằng
(Đài phát thanh TP. Hải Dương)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 481

Ý Kiến bạn đọc