Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Nói lại về phản ánh và nghiền ngẫm

(Tiếp theo số báo 607, ngày 13-8-2020)

 

Chúng tôi xin nói về luận điểm “kiến tạo hiện thực” như đã hẹn ở bài trước. Kiến tạo hiện thực chỉ là đổi cách nói từ hư cấu mà thôi. Ở Việt Nam đã xuất hiện Hiệp hội tác giả phi hư cấu lại do một nhà thơ nữ chủ trì. Lúc đầu thấy ngồ ngộ. Sau thấy có lí. Đúng là văn học từ xưa tới nay có hai phương thức sáng tạo: hư cấu và phi hư cấu. Thể kí là văn học phi hư cấu. Và không phải kém giá trị như Thượng Kinh kí sự của Lê Hữu Trác. Văn học chính luận càng chứng tỏ như thế qua Cáo bình Ngô (Nguyễn Trãi) hay Tuyên ngôn Độc lập (Hồ Chí Minh). Tiểu thuyết tư liệu đã quen thuộc với bạn đọc từ trong nước cho đến toàn thế giới, như Mười ngày rung chuyển thế giới của Giôn Rít, một nhà báo Mỹ viết về Cách mạng Nga năm 1917.

Hư cấu tức là nhà văn sử dụng chất liệu của hiện thực đời sống, kể cả phi hiện thực như thần thoại, huyền thoại để đưa ra một bức tranh đời sống như là một hiện thực giả định nhằm bộc lộ tư tưởng của mình. Hư cấu dù đơn giản đến đâu cũng là sự tái tạo hiện thực qua chủ quan của nhà văn. Thường nói là hiện thực được khúc xạ qua lăng kính của nhà văn. GS.LNT trích dẫn rất nhiều các tác giả phương Tây, ông tỏ ra đặc biệt tâm đắc với tư tưởng của Dostoievsky: nghệ sĩ tự mình sáng tạo ra cuộc sống chứ không phải phản ánh cuộc sống (Nghiên cứu văn học số 4-2018. Trg.16). Hoặc chủ nghĩa hiện thực chỉ là tư tưởng của đám đông, đa số. Rằng “Nghệ thuật bản thân nó là lệch chuẩn. Sáng tạo nghệ thuật thực sự lại càng đòi hỏi sự lệch chuẩn, v.v…”, “chỉ có hiện thực” được “bịa” ra ấy mới là tiếng nói của chính tâm linh người viết, là cuộc sống được tạo ra bởi cái Tôi của nghệ sĩ, là sự hiện hình của thế giới tinh thần của người sáng tác. (Bđd. Trg.16)

Nhưng từ khá lâu Nguyễn Công Hoan đã nói rồi. Đại ý viết văn hay hư cấu là chuyện bịa như thật. Bịa thì tha hồ, có ai đánh thuế người nói khoác! Nhưng như thật thì khó đấy. Không phải như thật là y như thật mà thật ở đây là tính logic của câu chuyện. Dù bịa đến đâu cũng phải có cơ sở hợp lí để người đọc tiếp thu, chấp nhận được. Bịa đến thành con rắn vuông thì siêu quá, bạn đọc không dám đọc!

Như chúng tôi đã nói, đề cao nghiền ngẫm, đề cao cái Tôi nghệ sĩ một cách phiến diện, cực đoan là tự làm mất giá trị của nghệ thuật. Có rất nhiều ví dụ trong văn học Việt Nam đương đại, chỉ xin nêu một vài. Bạn đọc dễ dàng nhận thấy Dương Thu Hương đã kiến tạo hiện thực, đã bộc lộ cái Tôi nghệ sĩ như thế nào qua Bên kia bờ ảo vọng, Những thiên đường mù, Bầy quạ đen vỗ cánh… Ấy vậy mà có người khen văn Dương Thu Hương là tín hiệu S.O.S cho đám đông và toàn xã hội về quyền lực hoành hành và sụp đổ!

Gần đây nhất là Miền hoang (NXB Trẻ năm 2015. Giải sách hay của Quĩ Văn hóa Phan Châu Trinh sau đó). Tác phẩm được Lã Nguyên (Đại học Sư phạm Hà Nội) xem là độc sáng, là nói lên được thân phận con người bị lạc đường, bị bỏ rơi… GS. Trần Đình Sử cũng tán thành Lã Nguyên. Nội dung tác phẩm thế này: Tùng, một chiến sĩ Quân tình nguyện Việt Nam ở Campuchia trong một lần bị phục kích, bị bắt làm tù binh. Thân phận khổ sở, cơ nhục của tù binh thì đã đành. Nhưng rất lạ là anh ta chấp nhận đi theo chúng: Tao muốn ở lại. Tao muốn khiêng cõng ông lớn! Khi cả bọn ra khỏi rừng già thì đều trở thành Dã Nhân, Người Rừng. Quần áo tả tơi, râu tóc đúng là người rừng. Nhưng lạ hơn là không ai nhìn vào, không ai để ý đến đám người này. Ngay cả khi một chiếc xe của Quân tình nguyện vụt qua… Hiện thực được kiến tạo trong Miền hoang được nhà phê bình văn học – PGS.TS Lã Nguyên đánh giá như thế. Ai đã bị lạc? Ai đã bị bỏ rơi? Nếu là một truyện kí, hồi ức… thì khả dĩ, vì là chuyện có thật. Nhưng được kiến tạo hiện thực đồng nghĩa với hư cấu, có tính khái quát. GS.LNT hãy trả lời hai câu hỏi trên xem sự “nghiền ngẫm” của tác giả Miền hoang, của nhà phê bình Lã Nguyên, của GS. Trần Đình Sử có phải là vượt lên cái thực để thực không? Chúng tôi xin gợi ý, GS.LNT hãy tìm đọc hồi ức Chuyện lính Tây Nam của Trung Sĩ (NXB Trẻ. 2018) và Mùa chinh chiến ấy, Mùa linh cảm của Đoàn Tuấn (NXB Trẻ. 2018-2019). Và một số truyện, thơ, hồi kí về Quân tình nguyện Việt Nam ở Campuchia, v.v… Qua đó Giáo sư sẽ thấy Miền hoang đã kiến tạo một hiện thực mang tính nhân văn cao cả, cứu cả một dân tộc khỏi họa diệt chủng thành một hiện thực tăm tối, thấp hèn…

Thêm một ví dụ về kiến tạo hiện thực lịch sử của Nguyễn Huy Thiệp qua ba truyện ngắn Vàng lửa, Kiếm sắc, Phẩm tiết. Dư luận đương thời đã quá nhiều. Đây là nhận định của một cán bộ quản lí văn nghệ có trách nhiệm thời đó: “… Nghị quyết 05 yêu cầu “phát huy truyền thống dân tộc” thì báo Văn Nghệ – cơ quan của Hội Nhà văn lại đăng liên tiếp mấy truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp thóa mạ Quang Trung, hạ thấp Nguyễn Du, bôi nhọ nền văn hóa dân tộc”. (Không có một thời như thế. Hà Xuân Trường. NXB Văn học. H.1998. Trg.37)

So-608--Anh-minh-hoa---Moi-lai-ve-phan-anh-va-nghien-ngam---Anh-1

Con người đã đánh tan mấy chục vạn quân Xiêm ở Rạch Gầm – Xoài Mút (Nam bộ) và cũng mấy chục vạn quân Thanh ở Đống Đa (Thăng Long) cứu đất nước khỏi họa can thiệp và chia cắt lại có thể tàn bạo, thấp hèn như thế ư? Vì không được một lời khen mà cắt lưỡi, xẻo dái, nhét cứt vào miệng người ta. Lại còn đốt nhà, bắt con gái họ, định chiếm đoạt… Cái Tôi nghệ sĩ kiến tạo hiện thực như thế mà GS.LNT tỏ ra hoan hỉ. Thế là văn học, theo ông, không quan hệ gì với lịch sử và hiện thực khách quan nói chung.

Và không chỉ có thế. Tháng 10-2003, cái Tôi nghệ sĩ này nói trước độc giả Thụy Điển rằng thế hệ chúng tôi (NHT) nôn mửa vào cuộc chiến tranh ấy (chống Mỹ). Năm 2012, mượn lời nhân vật tung ra câu Đời có ra chi mà đéo chửi. Đến Giăng lưới bắt chim (2016) thì nhục mạ cả Hội Nhà văn, xem họ là một lũ chập cheng dở hơi, vô học, và tệ hơn, là viết thẳng ra câu rất vô văn hóa thế này: Vợ tôi ra ngẩn vào ngơ / Hôm nay nó bảo dí thơ vào l… / Vợ tôi đi đứng bồn chồn / Hôm nay nó bảo dí l… vào thơ! “Thế là “… góp phần tăng thêm tiếng nói dân chủ trong sáng tạo nghệ thuật và trong xã hội nói chung”. (Lời LNT. Hà Xuân Trường trích lại. Sđd. Trg.69)

Như vậy, chủ quan nghệ sĩ tự do kiến tạo hiện thực đến đâu cũng phải tôn trọng hiện thực, tôn trọng đạo lí đời sống và cao hơn, phản ánh được, đáp ứng được khát vọng tinh thần của công chúng, của xã hội nói chung. Không thể kiến tạo một cách tùy tiện.

GS.LNT hoàn toàn đứng trên quan điểm của lí luận văn học phương Tây nên ông không thấy ra đặc trưng bản chất của văn học xã hội chủ nghĩa và văn học Việt Nam trong thời kì chiến tranh giải phóng dân tộc. Ông cho rằng: “Cái nhìn hiện thực bộc lộ đặc biệt rõ rệt khi thế giới quan của nghệ sĩ bị chi phối không phải của quan điểm tôn giáo hay khoa học tự nhiên mà bởi những thiên kiến chính trị, đạo đức. Thế giới có thể trở nên toàn màu hồng hay màu xám, nhìn đâu cũng thấy Đất nở hoa và Trời mỗi ngày lại sáng, thấy Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng, hay ngược lại thấy xã hội bế tắc, tối đen như đêm Tắt đèn, như đời chị Dậu. Đã có một thời văn học cách mạng ở các nước XHCN tràn ngập một màu hồng. Đó không hẳn là sự ngụy tạo bắt nguồn từ sự giả dối của người cầm bút. Trong phần lớn trường hợp đó là niềm tin ngây thơ, thành thật của những người mà cái nhìn đã hoàn toàn được giáo dục và thấm nhuần thế giới quan cộng sản… (Nghiên cứu văn học. LNT. Số 3-2018. Trg.14-15).

Ở đoạn sau ông tiếp tục: “Văn học hiện thực XHCN không đặt vấn đề phản ánh khách quan toàn bộ hiện thực trong sự phức tạp của nó mà chủ trương “phản ánh chân thật cuộc sống trong quá trình phát triển cách mạng của nó” (Điều lệ Hội Nhà văn Liên Xô), thể hiện một cách chân thật và hùng hồn cuộc sống mới, con người mới, tạo nên được những hình tượng sinh động, những điển hình hùng hồn có sức thuyết phục mạnh mẽ về đạo đức mới, về con người mới trong quan điểm của Trường Chinh về văn hóa nghệ thuật. Việc phản ánh cuộc sống theo nguyên tắc lựa chọn những gì phù hợp với yêu cầu tính Đảng, yêu cầu giáo dục tư tưởng và tuyên truyền đã phục vụ đắc lực cho những mục tiêu của cách mạng, nhưng đồng thời cũng ảnh hưởng không ít đến tính chân thật và giá trị nhận thức của tác phẩm, dẫn đến sự tồn tại của một kiểu văn học “hiện thực phải đạo” như có nhà phê bình đã từng nhận xét”. (Bđd. Trg.15-16)

Trước hết cần nhớ triết học Mác không chỉ giải thích thế giới mà cải tạo thế giới. Giải thích để cải tạo. Không phải giải thích để giải thích.

Văn học hiện thực XHCN góp phần vào công cuộc cải tạo thế giới theo con đường XHCN. Nó khác với văn học ở các thời đại trước chỉ phản ánh, nghiền ngẫm về cõi nhân sinh và chỉ dừng lại ở đó. Đó là sự khác biệt về chất giữa hai thời đại văn học. Câu “phản ánh chân thật cuộc sống trong quá trình phát triển cách mạng của nó” là hoàn toàn đúng đắn. Và nguyên tắc này không hề đối lập với phản ánh khách quan toàn bộ hiện thực trong sự phức tạp của nó” như Giáo sư nghĩ. Tham vọng “phản ánh khách quan toàn bộ hiện thực trong sự phức tạp của nó” là một tham vọng ngô nghê nếu không phải để nhằm che giấu một ẩn ý khác. Như sự đối lập vừa nêu trên. Những người duy vật triệt để, người Marxist bao giờ cũng tìm ra những mâu thuẫn chủ yếu có tính quyết định cả quá trình để giải quyết phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể. Không phải và không thể và không cần giải quyết tất cả trong một lúc. Tham vọng của GS.LNT là tham vọng kiểu “ốc chưa mang nổi mình ốc…”.

Không thể nói trong văn học XHCN, nghệ sĩ bị chi phối bởi thiên kiến chính trị, đạo đức rồi nhìn đâu cũng thấy hồng hoặc đen. Phải thấy là văn nghệ sĩ XHCN thấm nhuần thế giới quan Marxist một cách tự giác và họ nhìn ra bản chất của đời sống. GS.LNT tỏ ra không hiểu hay cố tình cắt xén, bóp méo nghệ thuật của Chế Lan Viên. Trước 1945, Chế Lan Viên đã viết Điêu tàn, viết Xuân với những câu:

Tôi có chờ đâu có đợi đâu
Mong chi xuân đến gợi thêm sầu
Với tôi tất cả đều vô nghĩa
Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau…

Khi cách mạng bùng nổ, ông đã lập tức đi theo cách mạng với sự dìu dắt của “Ông hoàng Đỏ” Nguyễn Minh Vĩ. Trong trận Tà Cơn ông đã chứng kiến sự hi sinh dũng cảm của những chiến sĩ ôm bom công đồn và ông tự nguyện xin vào Đảng. Phải ở hoàn cảnh của Chế Lan Viên, của các Giáo sư Hồ Đắc Di, Tôn Thất Tùng, Tạ Quang Bửu, Phạm Quang Lễ (Trần Đại Nghĩa)… của Nguyên Hồng, Nam Cao, v.v… mới thấy được Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng. Từ nô lệ, bị chia cắt làm ba kỳ, hơn hai triệu đồng bào chết đói chỉ trong mấy tháng vì Nhật – Pháp cướp thóc lúa… đến Tổ quốc độc lập, tự do. Pháp chạy Nhật hàng, rồi Mỹ vào can thiệp, dám đánh Mỹ và thắng Mỹ… Một Tổ quốc, một dân tộc như thế có đẹp không, có anh hùng không, có xứng đáng để tự hào không?

Việc phản ánh cho chân thật cho hùng hồn con người và cuộc sống trong những năm chiến tranh vệ quốc là hoàn toàn đúng đắn. Câu đó không chỉ ông Trường Chinh nói mà Cụ Hồ cũng đã nói. Và thực tiễn nó như thế. Thực tiễn có rất nhiều, nhưng xin mời GS.LNT tìm hiểu một số sau đây thì sẽ sáng rõ: Anh hùng tình báo Nguyễn Văn Thương bị CIA cưa chân 6 lần. Anh hùng Đoàn Thanh Phương bị đục 12 cái răng, đóng đinh vào đầu ngón tay, rứt hết móng tay móng chân. Chị Lịch, du kích ở Bình Định, bị chặt chân 3 lần. Chị Kiểng, du kích ở Quảng Nam, bị chặt chân 2 lần. Anh hùng Nguyễn Thị Lợi đã cùng nổ với một va li thuốc nổ đánh đắm chiến hạm của Pháp ở ngoài khơi biển Sầm Sơn – Thanh Hóa ngày 27-9-1950, tiêu diệt hơn 200 sĩ quan và binh lính Pháp(*). Và sự tích về các chiến sĩ ở Thành cổ Quảng Trị năm 1972. Và còn rất nhiều. Từ Kim Đồng, Vừ A Dính ở Việt Bắc đến Ngọn đuốc sống Lê Văn Tám ở Sài Gòn – Gia Định… Một bà mẹ ở Đà Nẵng bị bắt chỉ hầm bí mật. Mẹ không chỉ. Chúng bắn chết con mẹ. Mẹ vẫn bảo không biết. Chúng bắn chết đứa con thứ hai. Mẹ vẫn không chỉ. Địch phải chùn bước. Mẹ ôm xác hai đứa con đau đớn nói với mọi người: Các con tôi chết nhưng cán bộ nó còn thì phong trào còn… (Tư liệu của ông Bùi Văn Tiếng, Chủ tịch Hội Văn nghệ Đà Nẵng). Những con người trong cuộc sống đấu tranh dũng liệt như thế, bản thân nó đã đủ sức lay động nghiền ngẫm…

Đó là những cá nhân trong cuộc chiến đấu toàn dân. Nhìn bao quát thì một đất nước nghèo nàn lạc hậu do bị nô lệ gần trăm năm, đất không rộng người không đông – vào năm 1945 mới khoảng 30 triệu người – đứng lên tranh đấu với các cường quốc quân sự và kinh tế, cuối cùng đã chiến thắng trọn vẹn. Đó là một kì tích. Một sự thần kì trong thời đại ngày nay. Một hiện thực như thế chẳng phải là hùng hồn sao?

Văn nghệ sĩ của thời đại đó không phải bị chi phối bởi thiên kiến chính trị mà họ tự nguyện. Toàn bộ văn nghệ sĩ trong Hội Văn hóa Cứu quốc từ 1943 cho đến Hội Văn nghệ Việt Nam, Hội Văn nghệ Giải phóng, v.v… là hoàn toàn tự nguyện. Đem nghệ thuật phục vụ cho công cuộc giành độc lập tự do của dân tộc, đó là vinh dự lớn lao của người nghệ sĩ. Bảo rằng họ viết cho phải đạo, rằng có một kiểu văn học “hiện thực phải đạo” là xuyên tạc, nhục mạ toàn bộ đội ngũ văn nghệ sĩ và nền văn học của thời đại Không có gì quí hơn Độc lập – Tự do.

Dĩ nhiên, sáng tác trong điều kiện khó khăn như thế, viết dưới mưa bom bão đạn, trong ngục tù, trong thiếu thốn thậm chí đói, rét… làm sao toàn bích được. Chuyển đổi tư duy nghệ thuật sang thời đại mới, hiện thực mới đâu phải là câu chuyện ngày trước ngày sau. Các nền văn học phương Tây có hiện thực ổn định hàng trăm năm. Còn ở Việt Nam? Vì vậy, đạt được thành tựu như đã có là một điều đáng tự hào, tin tưởng. Và rõ ràng có những thành tựu, những giá trị không thể phủ nhận được. Đặc biệt trong âm nhạc và thơ.

Giành lại độc lập dân tộc là thành tựu cực kì lớn lao. Làm nền tảng cho sự xây dựng đất nước trong hòa bình. Thế giới thay đổi phức tạp. Văn học – nghệ thuật nằm trong bối cảnh đó.

Có điều kiện giao lưu, tiếp cận với lí luận văn học và tác phẩm văn học của toàn thế giới. Điều đó đòi hỏi phải đứng trên mảnh đất của dân tộc mình để tiếp thu, hòa nhập. Đáng tiếc là GS.LNT và một số người khác lại đứng trên mảnh đất phương Tây, hiện thực phương Tây, lí luận phương Tây mà nhìn nhận và giải quyết những vấn đề của thực tiễn, thực tại Việt Nam. Trong bài viết, GS.LNT có đến 106 trích dẫn đông – tây – kim – cổ (trong đó có 11 tác giả Việt Nam).

Rất dài dòng về phản ánh và nghiền ngẫm ở những đâu đâu mà không nhớ đến hai câu của Trần Bích San: Văn vô sơn thủy phi kì khí / Nhân bất phong sương vị lão tài… thì quả là Bụt chùa nhà không thiêng.

Ở phần đầu bài viết, GS.LNT cho rằng không thể áp dụng phản ánh luận vào sáng tác văn học. Phần cuối ông bảo duy vật triệt để là xa lạ với bản chất cuộc sống… Thế là triệt để từ bỏ Mác – Lênin dưới cái vỏ lí luận “uyên bác” đấy. Nhưng toàn bộ khoa học xã hội ở Việt Nam đã và đang lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng.

Cần lưu ý là tư tưởng lí luận của Lê Ngọc Trà ra đời giữa bối cảnh ở Liên Xô Gorbachev mượn chiêu bài cải tổ để hạ bệ Mác – Lênin và đến 1991 thì y lộ rõ bộ mặt phản bội với tuyên bố giải tán Đảng Cộng sản Liên Xô khiến Liên bang Xô-viết sụp đổ kéo theo cả hệ thống XHCN Đông Âu sụp đổ. Lê Ngọc Trà đang tu nghiệp ở Liên Xô hồi đầu pê-rê-trôi-ka (cải tổ). Còn ở trong nước là khuynh hướng phủ nhận Mác – Lênin, phủ nhận thành tựu cách mạng giải phóng dân tộc, hạ bệ thần tượng thực chất là hạ bệ vai trò lãnh đạo của Đảng, thể hiện trong lí luận và sáng tác văn học. Khuynh hướng đó lúc dội lên lúc tạm lắng và đến 2014 thì lộ rõ ở Trần Đình Sử: Lí luận văn nghệ Mác-xít đã trở nên bơ vơ không còn nơi nương tựa sau khi CNXH ở Liên Xô sụp đổ. Lí luận Nhà nước về văn học ở Việt Nam đã trở nên mất thiêng, chức năng của văn học bây giờ là phản ánh cái vô thức xã hội, thực ra là tư tưởng chống đối lại cái chính thống… (Trên đường biên của lí luận văn học. NXB Phụ nữ tái bản. H.2016).

Lúc đầu (1991), Trần Đình Sử dị ứng với Lê Ngọc Trà. Nhưng đến nay thì cả hai tỏ ra đồng thanh đồng khí. Đó là cảnh báo cần thiết đối với đời sống văn học hiện nay. Nhất là các Trung tâm Ngữ văn Đại học.

Xin được đính chính một chữ ở bài trước: Tào Thực (em Tào Tháo), nay sửa lại cho đúng là Tào Thực (con Tào Tháo). Mong được bạn đọc thứ lỗi.

Đồng Nai hạ. Tháng 8-2020

Chu Giang
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 608

————————————-
(*) Xem các tác phẩm:
- Người bị CIA cưa chân sáu lần. Mã Thiện Đồng. NXB Tổng hợp TP.HCM, in lần thứ 11, năm 2018.
- Cuộc chiến sinh tử nơi địa ngục trần gian. Hồi ức của Anh hùng Đoàn Thanh Phương. NXB Thanh niên, 2017.
- Nhân vật trong Nhật kí người mẹ ra trận của nữ nhà báo Lệ Thu. NXB QĐND. H.2016.
- Dũng sĩ diệt Mỹ Huỳnh Thị Kiểng, hiện nay ở TP. Cần Thơ.
- Người con gái Núi Sam (An ninh Thế giới, số 1.992. Ngày 11-7-2020).

Ý Kiến bạn đọc