Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Nói lại về phản ánh và nghiền ngẫm

(Tiếp theo số báo 606, ngày 6-8-2020)

 

Lênin nêu ra đặc điểm của chủ nghĩa thực dụng như thế này:

“Đặc điểm của chủ nghĩa thực dụng là ở chỗ cho rằng, phàm cái gì thành công và, bằng cách này hay cách khác, có thể thích nghi được ngay với thời đại như: khoa học, tôn giáo, đạo đức, truyền thống, tập quán, thủ cựu, đều là chân lí. Tất cả phải được coi trọng…” (Bút kí triết học. Trg.484. NXB Sự thật. 1976).

Và ông còn nói rõ hơn ở một đoạn khác:

“Chỉ có những quan điểm thành công mới có tính chân lí. Nhưng cần phải biết rằng chúng có tính chân lí vì chúng dẫn đến thành công, hay chúng dẫn đến thành công vì chúng có tính chân lí. Chủ nghĩa thực dụng… theo hướng thứ nhất. Lẽ phải thông thường… theo hướng thứ hai” (Sđd. Trg.490).

Có một cách nói của phương Đông rất hình tượng về chủ nghĩa thực dụng: Mèo trắng mèo đen đều tốt nếu bắt được chuột.

Chúng tôi đã nói là quan niệm duy vật nửa vời là một trong những nguyên nhân dẫn đến chủ nghĩa thực dụng. Quan niệm duy vật triệt để đem lại Thế giới quan hay cách nhìn đúng đắn về thế giới. Nhờ đó mà có được sự kiên định về lí tưởng, về chân lí đã được khẳng định qua kinh nghiệm lịch sử. Kinh nghiệm lịch sử ở đây là rút ra từ nền sản xuất tư bản chủ nghĩa. Và sau đó, sau Cách mạng Tháng Mười Nga và Cách mạng Việt Nam, chân lí của chủ nghĩa Mác – Lênin đã được kiểm nghiệm. Sự khủng hoảng của CNXH hiện nay là do không thực hiện đúng chân lí Mác-xít, không phải chân lí đó không đúng.

Những người duy vật nửa vời khi thấy CNXH bị khủng hoảng thì họ mất lòng tin, nghiêng ngả. Bởi vì họ xem sự khủng hoảng hiện nay của CNXH là thất bại. Đã thất bại thì học thuyết, chân lí không còn đúng nữa. Nhưng phải xem sự khủng hoảng này chỉ là một thất bại trong quá trình của sự nghiệp XHCN. Cần phải xem những yếu tố XHCN vẫn được duy trì và đang mở rộng trong đời sống nhân loại. Cuối cùng, phải thấy chủ nghĩa Mác – Lênin – tư tưởng Hồ Chí Minh là một chủ nghĩa nhân đạo cao nhất trong lịch sử nhân loại. Ở chỗ nó công khai tuyên bố đấu tranh để giải phóng con người ra khỏi mọi sự bất công, tha hóa, đem lại cho con người điều kiện sống nhân đạo nhất, xứng đáng với con người. Làm sao cho Tổ quốc được Độc lập, nhân dân được Tự do. Đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành (Hồ Chí Minh). Mỗi dân tộc đi lên CNXH theo con đường riêng phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của mình.

Đi lên CNXH về chính trị và kinh tế là cực kì quan trọng, mở đường. Nhưng đi lên CNXH về văn hóa mới là mục tiêu cuối cùng, cơ bản, lâu dài. Văn học – nghệ thuật là lĩnh vực quan trọng bậc nhất trong công cuộc xây dựng văn hóa XHCN, xây dựng con người XHCN. Để nghệ thuật XHCN làm tốt chức năng nhiệm vụ đó thì quan niệm duy vật triệt để càng phải được thấm nhuần trong lực lượng sáng tạo ở lĩnh vực này. Đó là tầng lớp văn nghệ sĩ. Và bây giờ có thể trở lại chủ đề chính trong tiểu luận của GS.LNT:

“Văn học trước hết không phải là phản ánh hiện thực mà là sự nghiền ngẫm về hiện thực… Nghiền ngẫm là một mặt khác của nghệ thuật, của tác phẩm. “Phản ánh” và “nghiền ngẫm” ở đây là hai hành động khác nhau. “Phản ánh hiện thực” là để mang lại bức tranh về đời sống, còn “nghiền ngẫm về hiện thực” là để có một tư tưởng, là sự trăn trở, chiêm nghiệm về cuộc đời, về thế sự, về sự sống, về cõi nhân sinh nói chung. Tư tưởng ấy, nói theo L. Tolstoi, không phải là một mặt của “chủ nghĩa hiện thực” mà là một phương diện khác của tồn tại độc lập, có thể cùng với “chủ nghĩa hiện thực” mà cũng có thể không. (Văn học và hiện thực. Nghiên cứu văn học. Viện Văn học, số 3-2018. Trg.22-23)

Đoạn trích trên chứng tỏ tính chất duy vật nửa vời ở GS.LNT. Khi ông tách phản ánh và nghiền ngẫm ra làm hai hành động khác nhau, có quan hệ nhân quả, trước sau với nhau và đề cao nghiền ngẫm có thể đưa đến Tư tưởng (của nhà văn) là độc lập, có thể không cùng đi với chủ nghĩa hiện thực. Từ lí luận này ông đi đến quan niệm kiến tạo hiện thực như là hành động chủ quan của chủ thể sáng tạo. Quan niệm kiến tạo hiện thực không có gì mới và hiểu một cách cực đoan sẽ dẫn đến bóp méo, xuyên tạc hiện thực, đưa ra những tư tưởng không có cơ sở hiện thực. Vấn đề này chúng tôi sẽ đề cập đến sau khi xem xét mối quan hệ giữa phản ánh và nghiền ngẫm.

GS.LNT cho rằng “Phản ánh luận nếu có thể vận dụng thì tốt nhất không phải đối với sáng tác văn học mà là trong lĩnh vực nghiên cứu lịch sử văn học hay nghiên cứu văn học theo quan điểm xã hội học. (LNT. Nghiên cứu văn học. Số 3. Trg.3)

Thế là GS.LNT xem sáng tác văn học là một vương quốc riêng không quan hệ gì với phản ánh luận. Vậy phản ánh luận là như thế nào và ý nghĩa (quan hệ) của nó đối với mọi hoạt động sáng tạo của con người trong đó có sáng tạo nghệ thuật. GS.LNT rất nhiều lần nói đến phản ánh luận Marxist, rằng “Phản ánh luận Marxist được Lênin phát triển cặn kẽ trong cuốn Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán” (LNT. Bđd. NCVH số 3-2018. Trg.4). Nhưng ông không nói rõ nội dung phản ánh luận và sự phát triển cặn kẽ của Lênin là như thế nào. Vì vậy chúng tôi xin trích dẫn Bút kí triết học là tác phẩm Lênin nhiều lần nói đến Phản ánh luận.

1/ “Sự sống sinh ra bộ óc. Giới tự nhiên được phản ánh trong bộ óc người. Trong khi kiểm điểm và áp dụng sự chính xác của những phản ánh ấy vào thực tiễn của mình và trong kỹ thuật, con người đạt đến chân lí. (Bút kí triết học. NXB Sự thật. 1976. Trg.224)

2/ Ý thức con người không chỉ phản ánh thế giới khách quan mà còn tạo ra thế giới khách quan. (Sđd. Trg.235)

3/ Nghĩa là thế giới không thỏa mãn con người và con người quyết định biến đổi thế giới bằng hành động của mình. (Sđd. Trg.236)

4/ Nhận thức là sự phản ánh giới tự nhiên bởi con người. Nhưng đó không phải là một phản ánh đơn giản, trực tiếp hoàn toàn quá trình này mà là cả một chuỗi những sự trừu tượng, những sự cấu thành và những sự hình thành ra các khái niệm, qui luật, v.v… Và các khái niệm, qui luật này, v.v… (tư duy, khoa học = “ý niệm logic” cũng bao quát một cách tương đối, gần đúng qui luật phổ biến của giới tự nhiên vĩnh viễn vận động và phát triển.

Ổ đây, thực sự về khách quan có ba bộ phận:

* Giới tự nhiên.

* Nhận thức của con người = óc người (với tư cách là sản phẩm cao cấp của giới tự nhiên).

* Hình thức của sự phản ánh của giới tự nhiên vào trong nhận thức của con người; hình thức này, đó là những khái niệm, những qui luật, những phạm trù… (Sđd. Trg.202)

5/ Thật ra tính chủ quan chỉ là một giai đoạn của sự phát triển bắt đầu từ tồn tại và từ bản chất. Và sau đó tính chủ quan ấy “phá vỡ giới hạn của nó một cách biện chứng” và “thông qua suy lí mà triển khai thành tính khách quan”. [360] 

Rất sâu sắc và thông minh! Những qui luật của logic là phản ánh của cái khách quan vào trong ý thức chủ quan của con người. 

(Bút kí triết học. Sđd. Trg.203)

Trong trích dẫn số 5; số [360] là số trang trong Logic học của Heghen mà Lênin dẫn lại và đoạn văn được đóng khung là đánh giá của Lênin về logic học của Heghen.

Qua các trích dẫn trên bạn đọc sẽ có được tư tưởng cơ bản của Lênin về phản ánh luận. Quá trình phản ánh như vậy không phải là sao chụp giản đơn mà đã có nghiền ngẫm qua cả một chuỗi những trừu tượng để có được khái niệm, qui luật, phạm trù, v.v…

Vì thế, tách rời phản ánh với nghiền ngẫm trong quá trình phản ánh là một sai lầm hiển nhiên. Là do thiếu cái nhìn duy vật, triệt để, thiếu cái nhìn biện chứng, là áp đặt chủ quan.

Như thế là GS.LNT đã cố ý không trình bày trung thực phản ánh luận Marxist. Bàn về phản ánh luận Marxist mà không đọc Bút kí triết học một cách nghiêm túc thì mới chỉ tiếp cận một phần nhỏ, chưa phải là một nửa sự thật của vấn đề.

Cần phải thấy phản ánh là tiền đề cho nghiềm ngẫm và quyết định nội dung của nghiền ngẫm. Đương nhiên nội dung, kết quả nghiền ngẫm còn liên quan với tư tưởng chủ quan của chủ thể phản ánh, tính khuynh hướng của chủ thể phản ánh tức là thế giới quan hay cách nhìn, góc độ, v.v… Không phải chờ có bức tranh về hiện thực rồi mới nghiền ngẫm về hiện thực mà ngay trong phản ánh đã có nghiền ngẫm. Như ở trích dẫn (4), không phải là phản ánh giản đơn trực tiếp… mà là cả một chuỗi những sự trừu tượng. Một chuỗi những sự trừu tượng… chính là sự nghiền ngẫm rồi đấy. K. Marx đã nói một cách hình tượng, rất đặc sắc, về con ong làm tổ theo bản năng di truyền còn người kiến trúc sư thì đã hình dung, tưởng tượng ra ngôi nhà trước khi xây dựng đồ án thiết kế.

Lại cũng phải thấy sự nghiền ngẫm là cực kì phong phú. Có những nghiền ngẫm và đưa ra quyết định cho hành động chỉ trong giây lát, bằng thời gian của một tiếng trống hay nghe xong một vế câu đối. Xong tiếng trống Trạng Quỳnh vẽ được 10 con giun trong khi những người khác chỉ phác được một phần con vật nào đó. Giang Văn Minh đã đối lại Đằng Giang tự cổ huyết do hồng ngay sau khi Thiên triều đọc xong câu Đồng trụ chí kim đài dĩ lục. Sử sách truyền tụng sau câu đối đó thì Giang Văn Minh bị Thiên triều cắt lưỡi. Có sách nói bị mổ bụng. Hoặc Tào Thực (em Tào Tháo) sau bảy bước đi làm xong bài thơ. Giai thoại văn học cổ vẫn truyền là Bài thơ bảy bước. Phải chăng là nguyên hình xuất phát của câu thành ngữ Huynh đệ tương tàn (Cây đậu nấu hạt đậu)? Sự nghiền ngẫm cực nhanh như thế thường có ở những người cực thông minh, có sức tư duy siêu phàm, phản ứng (phản xạ) cực nhanh… là phẩm chất cực quí trong hoạt động thực tiễn; trong chỉ huy quân sự, điều khiển phương tiện tốc độ cao như phi công, thuyền trưởng, lái xa; cho các vị trí chỉ huy điều hành, nhất là trong ngoại giao, đàm phán, thương thuyết, v.v… Lại có những nghiền ngẫm trong thời gian rất dài. Như thí nghiệm, thực nghiệm khoa học; chế tạo sản phẩm mới; xây dựng các lí thuyết, học thuyết hoặc những chủ đề nhân sinh thế sự, Thức khuya mới biết đêm dài / Ở lâu mới biết lòng người thủy chung, v.v… Chính GS.LNT cũng đã nghiền ngẫm trong suốt 30 năm cho chủ đề phản ánh và nghiền ngẫm. Nghĩa là không thể và không nên tách rời phản ánh với nghiền ngẫm. Dù phải kéo dài 30 năm hay hơn nữa thì sự nghiền ngẫm bao giờ cũng phải cập nhật tài liệu mới nhất, tức là sự phản ánh liên tục. Không bao giờ nghiền ngẫm kéo dài trên những tài liệu ban đầu, giới hạn trước một thực tiễn vĩnh viễn vận động và phát triển.

Có lẽ, phù hợp hơn, GS.LNT là một nhà tư liệu. Bởi ông không làm cho khái niệm của ông phù hợp với sự vật mà trái lại, ông làm cho sự vật phù hợp với khái niệm của ông. (Tham khảo: Nhà triết học tư liệu. Bút kí triết học. Sđd. Trg.51)

Điều đó thể hiện rất rõ trong cách ông nhìn và đánh giá nền văn học thời kì đấu tranh giải phóng dân tộc mà chúng tôi sẽ trình bày ở phần sau.

(Còn tiếp)

Chu Giang
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 607

Ý Kiến bạn đọc