Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Nói lại về phản ánh và nghiền ngẫm

 

Sự nghiền ngẫm của chúng tôi được kích hoạt bởi câu của GS.TSKH Lê Ngọc Trà (từ đây xin viết tắt là GS.LNT):

“Mọi biểu hiện của đầu óc duy vật và vô thần triệt để đều là những thứ xa lạ với bản chất cuộc sống và lại càng xa lạ hơn với nghệ thuật”. (Văn học và hiện thực. Nghiên cứu văn học. Viện Văn học. H. số 3 và 4 năm 2018).

Thực ra chủ đề của GS.LNT ở tiểu luận trên là quan hệ giữa phản ánh và nghiền ngẫm trong sáng tạo văn học. Còn mệnh đề trên không rõ là cố ý hay tiện giấy bút thêm vào, nhưng nó lại đặt ra vấn đề còn lớn hơn quan hệ phản ánh – nghiền ngẫm. Vậy thì bản chất của cuộc sống và nghệ thuật sẽ là ái duy vật. Tác giả không đụng đến phạm trù duy tâm nhưng người đọc hiểu là vừa duy vật vừa duy tâm, duy linh, nghĩa là ái vật ái tâm. Vừa duy vật vừa duy tâm!

Thấy rằng tư tưởng trên của GS.LNT là một sự ủng hộ, khuyến khích cho các cô đồng thầy cúng, các hoạt động núp bóng tự do tín ngưỡng đang như nấm sau mưa trong đời sống xã hội; cho những người chủ trương hài hòa Âm – Dương trong văn học – nghệ thuật như chính trị – văn nghệ phải hài hòa Âm – Dương… nên chúng tôi sẽ để phần trao đổi về phản ánh – nghiền ngẫm lại sau. Bài này sẽ trao đổi về bản chất cuộc sống và nghệ thuật với quan niệm ái duy vật (duy vật không triệt để).

Trước khi nói đến lí luận, chúng tôi xin dẫn ra một số hiện tượng duy vật không triệt để. Nói duy vật không triệt để để đối lập với duy vật triệt để. Khó định lượng được tỉ lệ của triệt để hay không triệt để nhưng trong đời sống thực tiễn thì người ta lại thay thế duy vật không triệt để (ái duy vật) bằng duy tâm thật sự.

Trước đây khoảng 30 năm chúng tôi có quan hệ gần gũi với sư trụ trì chùa Bảo Sái – Yên Tử – Quảng Ninh. Mỗi khi về Hà Nội có việc, Sư thầy đều ghé thăm tôi. Thậm chí có việc gì cần hỗ trợ, thầy đều gửi gắm. Thầy cũng cho biết nhiều “sự kiện” mà thường nhật tôi cố quên đi nhưng nay đọc bài của GS.LNT, bỗng nhớ lại. Rằng rất nhiều gia đình quan chức thường lên lễ chùa trước khi đức phu quân có sự kiện gì đấy. Có lần tôi gặp một trưởng ban ở một Bộ cùng với gia đình và cả hội của ông cung tiến cho chùa. Cả đêm đó mọi người ngồi trước Tam Bảo, tràn cả ra sân đọc kinh cầu nguyện cho đến giờ phút “hô thần nhập tượng”, tấm lụa điều sau lễ khai thân Đức Ngài, được chia nhỏ phân phát cho mọi người. Ai cũng vui mừng vì được ban ân. Ủng hộ cho Nhà Chùa là chuyện bình thường. Ngài Cấp Cô Độc còn dâng cho Đức Phật cả khu vườn rải đầy vàng. Một Phật tử ở Long Thành – Đồng Nai đã cung tiến cho Tu viện Thường Chiếu khu đất rộng hàng nhiều hécta để Nhà Chùa xây dựng cơ sở thờ tự… (Theo Hòa thượng Thích Thanh Từ – Tu viện Thường Chiếu. Trong quyển Tu là chuyển nghiệp…). Những sự như thế thường lắm. Lại nhớ lời Đức Phật: Nếu giữ được giới luật thì Đạo của Ngài sẽ còn. Mà giữ giới luật thì không phải ở chỗ tượng to chùa lớn. Mà ở chỗ thành tâm tu tập. Lại nghĩ đến hình ảnh tối hôm đó trên sân chùa. Thấy vị trưởng ban nọ thành kính cầu kinh mà vừa thương vừa tủi. Ấy là một ví dụ sinh động về một người ái duy vật. Một người đã qua Đại học Văn – Sử. Hồi sinh viên hăng hái lắm. Bí thư Chi đoàn Liên khoa. Ra công tác lại là cán bộ tin cậy.

Trước đây cô đồng Phương (Hàm Rồng – Thanh Hóa) từng làm mê mệt bao người khắp trong Nam ngoài Bắc. Nghe đồn là một chuyện. Nhưng chính tôi được nghe một bậc đàn anh họ Cao trong một lần gặp gỡ ở nhà chị Thiếu Mai – nhà văn, nguyên Trưởng ban Lí luận – phê bình báo Văn Nghệ (Hội Nhà văn) thời Cái đêm hôm ấy đêm gì của Phùng Gia Lộc đang làm sôi sục dư luận. Bậc đàn anh họ Cao nói đại ý có đến tận nơi mới biết cô Phương thiêng thật. Một bậc huynh trưởng khác từng là Bí thư chi bộ, nay chuyện nhà có khúc mắc, cũng đến cầu cô Phương. Nhưng cô phán không rõ ràng. Lại một cô bạn thân của tôi bảo tổ chức một chuyến về Hàm Rồng cầu cô Phương. May là tôi đã không làm theo lời bạn. Tết năm trước được tặng cuốn Với quê Thanh của Hội đồng hương Văn nghệ Thanh Hóa ở Hà Nội xuất bản. Có lời giới thiệu của nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu. Rồi bài đầu tiên là của Chủ tịch Hội đồng hương Lê Duy Ngọ – nguyên Bộ trưởng, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Thanh Hóa trước khi ra Trung ương. Điều thú vị là chính một nhà báo của báo Thanh Hóa lại lật tẩy được cô đồng Phương. Bài báo khó khăn lắm mới ra được. Ra rồi thì phản ứng cũng gay gắt. Nhưng may mắn là Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu đã đọc và khen ngợi. Đại ý nhà báo không được bẻ cong ngòi bút mà phải dũng cảm viết đúng sự thật. Sau bài báo đó thì cô đồng Phương im hơi lặng tiếng không biết đã ra đồng chưa. Hóa ra cô toàn nói dựa, cho nên sa bẫy của nhà báo cùng quê. Bây giờ trên núi Hàm Rồng là Đền thờ Anh hùng – Liệt sĩ rất uy nghi đồ sộ. Nay thì đàn anh họ Cao, chị Thiếu Mai, Phùng Gia Lộc đã thành người thiên cổ. Nhưng cái sự ái duy vật nó đang đầy rẫy trong đời sống xã hội. Ba Vàng Quảng Ninh rồi lại Ba Vàng Quảng Nam may là chưa xây dựng. Ngày nay người ta nói nhiều đến văn hóa tâm linh, du lịch tâm linh. Chưa về Tam Chúc chưa tròn cõi tu… Nay lại được GS.LNT vun đắp thêm cơ sở lí luận thì sự thể chắc là hay lắm. Cơ hội ngàn năm có một. Bậc giáo sư danh cao đạo rộng đã ban cho lời vàng ý ngọc. Nam mô… boong! Giáo sư có thể bảo những cô đồng Phương, những anh Cao, những bạn Nguyễn không phải là ái duy vật chân chính. Ái duy vật phải là mềm mại uyển chuyển hài hòa Âm – Dương như Cố Hoàng Tiến sĩ – Phó Giáo sư… Vâng, chúng tôi xin thụ giáo! Nhưng cũng xin trở lại lí luận về quan hệ duy tâm – duy vật. Và bản chất cuộc sống, bản chất nghệ thuật.

Nhân chuẩn bị cho câu chuyện Phản ánh – nghiền ngẫm, chúng tôi đọc lại Bút kí triết học của Lênin (NXB Sự thật – 1976), ở trang 189, Người viết như sau:

“Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn – đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lí, của sự nhận thức hiện thực khách quan. Can-tơ(*) hạ thấp khoa học để mở đường cho lòng tin; Hêghen(*) đề cao khoa học, quả quyết với chúng ta rằng nhận thức, tức là nhận thức về Thần. Người duy vật đi sâu vào sự nhận thức về vật chất, giới tự nhiên, tống Thần và những bọn triết học đê tiện bảo vệ Thần vào hố rác”.

Bây giờ chúng tôi sẽ xem xét quan niệm duy vật triệt để, tức là đi sâu vào sự nhận thức về vật chất, giới tự nhiên…có xa lạ với bản chất cuộc sống không?

Trước hết nói về bản chất cuộc sống. Nhìn vào cuộc sống quanh ta, thường nhật, thì bản chất cuộc sống là rất duy vật. Và ngày càng triệt để duy vật. Khoa học, kỹ thuật, công nghệ hiện đại chứng tỏ điều đó. Xin dẫn mấy thành tựu trong cuộc sống ở Việt Nam gần đây và hiện nay. Việc mổ tách thành công cặp song sinh Song Nhi là thành tựu rực rỡ của Y học Việt Nam và thế giới. Vì những ca song sinh phức tạp như thế rất hiếm gặp. Nếu không đi sâu vào cấu tạo của cơ thể người, của cơ chế sống, của di truyền và sinh sản thì con người không hiểu được hiện tượng song sinh. Người ta xem là bất thường, kì lạ và chỉ có một trong hai cách xử lí: hoặc xem là ma quái, nghiệp chướng, quả báo; hoặc xem là linh thiêng. Người ta sẽ kì thị xua đuổi hoặc sẽ tôn thờ. Vào khoảng giữa thế kỷ trước, sự xuất hiện những cây chuối trổ hai buồng, cây cau hai thân, cây dừa ba ngọn là sự lạ. Nhiều người háo hức đến xem. Bạch xà tinh, tức là những con trăn, rắn trắng, rùa vàng… lại càng linh thiêng. Nhưng khoa học đã khám phá ra nguyên nhân: đó là sự không bình thường trong di truyền – sinh sản. Trên thế giới đã có ca sinh 5, được chăm sóc vẹn toàn. Trong nông nghiệp ngày nay, nhờ đi sâu vào nghiên cứu cây trồng mà hiểu được cấu tạo của nó. Từ đấy có cách lai tạo cho năng suất rất cao. Như kỹ sư Hồ Quang Cua ở Sóc Trăng đã tạo thành công thứ gạo được đánh giá là ngon nhất thế giới. Đưa hoa hồng lên trồng ở Sapa là chuyện ngày nay mới có. Vùng Phan Rang (Ninh Thuận) trở thành vùng trồng nho cũng là một kì tích. Đó chính là khám phá được đặc tính của cây nho là ưa nắng nhưng lại rất cần nước. Phan Rang là vùng có số ngày nắng cao nhất trong năm. Thậm chí nhiều tháng không mưa. Người nông dân ở đây đã đáp ứng được nhu cầu của cây nho bằng cách đào giếng để có nước tưới thường xuyên. Nếu Giáo sư đi qua vùng Quán cháo Đồng Giao, nay thuộc Tam Điệp – Ninh Bình cho đến Nông trường Hà Trung cũ nay thuộc thị xã Bỉm Sơn – Thanh Hóa thì thấy bạt ngàn dứa (thơm). Ngày xưa đó là vùng đất khủng khiếp: Ai qua Quán cháo Đồng Giao / Má hồng để lại xanh xao đem về. Sự thay đổi của vùng đất này là nhờ nghiên cứu thổ nhưỡng: đất đồi vùng này trồng cây dứa (cây thơm – tiếng Nam bộ) là thích hợp nhất. Như quả vải thiều Lục Ngạn, trước đây chỉ có ở Hải Dương, nay đã xuất khẩu sang Nhật với giá trị rất cao, khoảng 120.000 VND cho một hộp 5 quả vải thành phẩm. Còn vô vàn hiện tượng đáng mừng khác. Và ngay như công cụ làm việc, điều kiện làm việc, ăn ở, đi lại… của Giáo sư bây giờ rất tiện lợi như điện thoại thông minh, láp-tốp kèm máy in, ghế ngồi, bàn viết, giấy, bút bi thay cho bút mực, điều hòa nhiệt độ, máy hút ẩm hút bụi, v.v… đều là nhờ vào duy vật triệt để, tức là đi sâu vào nghiên cứu cơ học, hóa học, điện tử… mà có được.

Thế thì bản chất đời sống là duy vật và duy vật triệt để. Vì GS.LNT đã trở nên xa lạ với quan điểm duy vật triệt để nên mới thấy nó xa lạ với bản chất đời sống, chứ thực tiễn đời sống có như thế đâu.

Tình trạng duy vật nửa vời, ái duy vật ái duy tâm là trở ngại rất lớn cho quá trình nhận thức cũng như đời sống thực tiễn. Nó là một trong những nguyên nhân dẫn đến chủ nghĩa thực dụng và cơ hội trong cuộc sống nói chung cũng như trong nghệ thuật nói riêng mà chúng tôi sẽ hầu chuyện Giáo sư vào kì tiếp theo.

(Còn tiếp)

Chu Giang
Tuaần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 606

—————————
(*) Can-tơ; Hêghen: Các nhà triết học Đức.

Ý Kiến bạn đọc