Văn học nước ngoài

Nỗi khổ của “anh cao”

Mặc dù làm việc ở tòa soạn báo, song “anh cao” thấy cuộc sống cũng chỉ tàm tạm. Anh là một phóng viên trung thực và anh tin là mình biết việc phân công viết bài đã được lên kế hoạch ra sao, anh chỉ lấy làm lạ là ở vị trí trọng trách mà sếp lại có thể giao nhiệm vụ viết phóng sự cho những người hay đưa tin sai lệch một cách khinh xuất như vậy. Tuy anh yêu mến họ, nhưng anh không đồng tình với họ.

Không ai biết “anh cao” đã trở thành phóng viên như thế nào. Ông trưởng phòng của anh nói do tình cờ, vì ông ta thấy có một người chậm hiểu trong con người anh. Tuy nhiên, “anh cao” không chậm hiểu, chẳng qua chỉ đơn giản là anh không phải là người làm báo; và điều đó có ảnh hưởng bất lợi, nếu người ta cố làm phóng viên.

Nhưng “anh cao” còn có một bất lợi khác mà anh phải chịu thiệt thòi với nó nhiều hơn: chiều cao của anh; và cả sự vụng về của anh cũng gây phiền toái cho anh. Tuy thế, các đồng nghiệp quả quyết điều phiền phức nhất với anh là lòng trắc ẩn của anh đối với đồng loại mà anh phải viết về nó trong các bài báo của mình. Điều đó cũng có phần đúng. Anh có thể hút đầy sự đau khổ như một miếng bọt biển; sau đó anh lại vắt kiệt nó lên những phóng sự của mình. Bằng cách này anh nhận lại hầu như tất cả các bài phóng sự, và sếp của anh đã phê ở trên đầu trang dòng chữ bằng bút chì đỏ: “Phải chăng tòa soạn của chúng ta là cơ quan cứu trợ xã hội?”.

Khi “anh cao” về đến nhà, việc đầu tiên là anh bỏ mũ ra, và điều đó khiến anh thấy thoải mái hơn rất nhiều, vì lúc này anh chỉ còn cao 1m99. Sau đó anh đi nấu ăn. Anh cúi đầu xuống và đi vào trong bếp, nơi anh phải vất vả để tự nấu cho mình món trứng chưng.

Anh-minh-hoa---Noi-kho-cua-anh-cao

Mụ chủ nhà đang ngồi trong góc bếp. Vì lòng tham vô đáy mụ đã cho thuê tất cả các phòng trong ngôi nhà và chỉ để lại cho mình gian bếp. Giờ đây, như con nhện đang rình những con ruồi ở trên mạng, mụ ngồi chờ những người thuê nhà đến thuê bếp để nấu ăn, trong số đó mụ ghét “anh cao” nhất.

“Anh cao” cũng không ưa gì mụ chủ nhà. Nhưng trong khi mụ không giấu giếm sự phẫn nộ chính đáng của mình thì “anh cao” lại giấu kín nỗi tức giận của người bị đổ lỗi một cách vô lý ở đằng sau cái ví lép kẹp; và trong suốt những năm qua anh đành mặt dày mày dạn nấu món trứng chưng của anh vào mỗi tối ở trong gian bếp này mà chưa một lần phản kháng.

Bây giờ “anh cao” cũng đang cố tình phớt lờ cái nhìn chòng chọc của mụ chủ nhà, như thể không biết là mụ đang nhìn mình, và cố gạt miếng bơ thảo mộc từ con dao vào thành chảo, động tác mà anh luôn phải cố gắng lắm mới làm được. Đồng thời anh bỏ ngoài tai tiếng thở dài kèm câu nói xưa như trái đất của mụ chủ nhà: “Trời ơi, vụng ơi là vụng!”. Đúng vậy, anh cũng rất vụng trong việc phải đập vỡ làm đôi thứ gì đó còn nguyên vẹn nên anh rất lóng ngóng khi đập trứng, bởi bàn tay của anh có ngón cái to bè như cái bay, còn những quả trứng thì vừa tròn vừa trơn. Và kết quả là những quả trứng bị vỡ nát bét ra. “Anh cao” thở dài vẩy vẩy tay cho lòng đỏ trứng rỏ xuống chảo, réo xèo xèo trong bơ. Mụ chủ nhà nhăn mặt như vừa phải uống dấm, nói: “Trời ơi!”. Mụ có lý khi nói “Trời ơi”, vì sự vụng về của “anh cao” quả là hiếm thấy. Nhưng mụ đâu có biết là sự khéo léo được người ta học một cách từ từ như khi khắc phục dần dần sự vụng về, cho dù người ta có khả năng làm được hai việc đó hay không thì cả hai đều là của hồi môn của số phận.

“Anh cao” tắt bếp ga và với tay lên nóc tủ bếp lấy bánh mì ở trong chiếc hộp, nơi còn hai ổ bánh mì tròn đã để lâu ngày mà anh đã cố giấu ở trong đó trước cặp mắt diều hâu của mụ chủ nhà. Chiếc hộp rơi xuống nền lát đá, một cái thì lăn tọt vào gầm bếp lò còn một cái thì lăn long lóc vào gầm tủ bát đĩa, “anh cao” phải khều chúng ra, trong khi đó mụ chủ nhà kêu ca, mắng mỏ anh một cách thậm tệ.

Mụ chủ nhà cao 1m56, so với “anh cao” mụ chỉ như một vật bé nhỏ mà anh có thể treo lên thanh treo rèm bằng hai ngón tay, nhưng anh vốn là người không hay thù oán, vì thế anh mặc kệ cho mụ mắng mỏ, cầm cái chảo ở trên bếp và cúi đầu đi lên phòng của mình. Anh đứng lại ở giữa phòng vì anh sực nhớ ra rằng mình quên thứ gì đó. Trời đã bắt đầu tối, trong lúc anh đứng ở đó thì trong đầu anh lóe lên những ý nghĩ khác, anh lại nhớ đến loài cây ưa thích của mình là cây dừa, nhớ đến những con chim hải âu, nhớ đến những chiếc tàu viễn dương bật đèn sáng trưng và điệu nhảy rumba của ban nhạc trên tàu hòa quyện với tiếng réo rắt của đàn ghi-ta Hawaii. Và giờ đây tiếng trống rộn ràng vọng về từ một trong những hòn đảo được mệnh danh là “hạnh phúc” trong cẩm nang du lịch mỗi lúc một rõ hơn, to hơn. Đúng lúc ấy thì cánh cửa bật mở, và mụ chủ nhà đứng ở đó, mụ đã chạy từ dưới bếp lên để đòi cái chảo. “Anh cao” bừng tỉnh, sợ hãi đưa nó cho mụ. Nhưng trong chảo vẫn còn trứng chưng, nó đã nguội đi, và vì khi chưng anh cao đã cho ít bơ quá, nên trứng bị cháy đen dính chặt xuống chảo. Anh đằng hắng, luống cuống cạo lớp trứng cháy đi. Sau đó mụ chủ nhà đóng sầm cửa lại.

Tim của “anh cao” đập thình thịch như sắp sửa nổ tung, anh không thể ăn được gì nữa, tiếng đóng cửa mạnh của mụ chủ nhà làm tan nát tâm can anh, người ta có thể giết chết anh bằng ba lần đóng cửa mạnh như vậy trong ngày. Mắt anh hoa lên, anh run run đặt bánh mì lên chậu hoa, nhiều mụ chủ nhà hiện ra trước mặt anh, đập vào hai bên thái dương đang giần giật của anh, cạo quèn quẹt trứng cháy ở chiếc chảo và thi nhau đóng cửa thật mạnh.

“Anh cao” cố gắng kéo hai chiếc ghế nối vào ghế đi-văng, sau đó anh nằm xuống. Anh chưa bao giờ được nằm trên một cái ghế đi-văng đủ dài để có thể duỗi chân một cách thoải mái. Những ông chủ xưởng đóng ghế đi-văng không tính đến chiều cao của những người khổng lồ; không ai quan tâm đến họ.

Bóng tối ở trong phòng trở nên đậm đặc hơn. Đêm đã đến, những ngôi sao đang lên cao, và “anh cao” ngẫm nghĩ, không biết có còn nhiều người cao như mình hay không. “Anh cao” không cảm thấy cô đơn, hoàn toàn không. Việc không có ai ở bên mình đã trở nên bình thường đối với anh. Chỉ thỉnh thoảng anh mới cảm thấy không vui khi biết có ít người cao lớn giống mình, anh thường cho rằng mình là người rất cổ xưa và có cảm giác mình thuộc về một dòng giống của chủng tộc người khổng lồ thời tiền sử, được họ giao phó bảo vệ quyền lợi trần thế ở trên thế gian này. Và chỉ khi đó “anh cao” mới muốn biết mình nên làm gì và liệu tất cả những người cao lớn đang sống có chắc chắn thuộc về chủng tộc này hay không.

Ở dưới đường có một chiếc ô tô đi ngang qua. Ánh đèn pha của nó chiếu vào các ô cửa sổ tạo nên một hình chữ nhật được chia làm bốn phần chạy trên trần nhà, sau đó biến thành hình thoi, di chuyển xuống tường và biến mất.

“Anh cao” nghe thấy tiếng đài của người hàng xóm ở phía bên trái đang phát chương trình thời sự, chiếc đài của người hàng xóm ở phía bên phải thì được điều chỉnh sang chương trình nhạc jazz. Còn anh thì ngược lại, anh không muốn nghe gì hết. Anh chỉ muốn có sự yên tĩnh. Nhưng anh cũng biết rằng sự yên tĩnh phụ thuộc nhiều vào ý thức và sự tò mò của những người xung quanh. Điều đó cũng giống như việc không muốn gây chú ý của nhiều người. Anh khao khát có được điều đó, hàng ngày anh mơ tưởng đến nó. Tuy thế mới đây thôi, khi anh băng qua đường, vừa cúi đầu bước lên tàu điện thì có tiếng xì xào bàn tán cùng tiếng cười khúc khích. Bọn trẻ nhốn nháo, nghển cổ nhìn anh và chúng đã nghĩ ra đủ thứ để chế giễu anh, chúng gọi anh là “người vượn”, là “hươu cao cổ”, là “tháp truyền hình” và là “người ngoài hành tinh”. Với chiều cao của mình anh luôn là nạn nhân của những trận cười ác ý và những lời chế nhạo cay độc, nên anh chỉ còn cách tỉnh bơ, phớt lờ tất cả.

“Anh cao” cho rằng anh và những người quá lùn, người quá béo, người gù ở trên thế giới này đều giống như “những sản phẩm bị lỗi” của tạo hóa. Và có lẽ cũng như họ cho đến cuối đời anh vẫn đặt ra cho mình câu hỏi: “Tại sao lại là tôi?”. Vì bố anh là người thấp bé, mẹ anh là người nhỏ nhắn, còn ông nội của anh là người nhẹ cân.

(Từ nguyên bản tiếng Đức)

Wolfdietrich Schnurre (Đức)
Phạm Đức Hùng (dịch)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 452