Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Nỗi ám ảnh Mỹ Lai

(Bài viết gốc: Thảm sát Mỹ Lai, 49 năm nhìn lại, của Mike Hastie, bác sỹ quân y Hoa Kỳ trong chiến tranh Việt Nam, nguồn: https://www.counterpunch.org/…/my-lai-massacre-49-years-la…/.)

Bài Viết Là Tâm Sự Ám Ảnh Về Tội Ác Của Quân Đội Mỹ. Trong Bài, Tác Giả Dẫn Lại Lời Của Nhân Chứng Larry Colburn, Một Lính Mỹ Đã Ngăn Cản Vụ Thảm Sát, Khai Rằng: “Điều Duy Nhất Lính Hoa Kỳ Không Làm (Với Các Nạn Nhân) Là Nấu Lên Và Ăn Họ”.

Ngày 16/3/2017 là ngày kỷ niệm 49 năm thảm sát Mỹ Lai, thuộc tỉnh Quảng Ngãi, Việt Nam. Đó là sáng thứ bảy, ngày 16/3/1968, khi gần 115 lính Hoa Kỳ thuộc Đại đội Charlie, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 20 đổ bộ bằng trực thăng ngay bên ngoài làng Mỹ Lai 4. Trong 4 giờ tiếp theo, những lính Mỹ này, và Bộ chỉ huy của họ, những người đang bay trên những chiếc trực thăng quan sát cuộc tàn sát, đã tham gia vào một chương trình kinh dị vượt xa trí tưởng tượng của con người. Họ đã hành động vượt xa thuật ngữ “Tội ác chiến tranh”, tạo ra một lò giết mổ (nguyên văn: của hàng thịt) cho một chương trình tàn sát bệnh hoạn. Thực chất, nó đã trở thành giải pháp cuối cùng của Hoa Kỳ, bằng hành động man rợ để lấy lại tinh thần (nguyên văn: tái định nghĩa) cho cuộc chiến ở Việt Nam.

Phải mất nhiều năm để giải mã được những gì xảy ra vào ngày hôm đó, với sự phủ nhận được dùng làm thuốc ngủ để bảo vệ chúng ta khỏi dằn vặt bởi nỗi ô nhục quốc gia. Chính vì hai từ này, National Shame (Nỗi ô nhục quốc gia), đã khiến họ tiếp tục che giấu sự thật về những gì đã xảy ra ở Đông Nam Á, những gì Quân đội Hoa Kỳ đã làm ở đó, ngày 16/3/1968. Tôi sử dụng từ “Chúng ta” vì tiền thuế của chúng ta đã được dùng cho vụ thảm sát và sự thiếu hiểu biết của chúng tôi về chiến tranh đã tán thành việc đó.

Trong số những người bị giết có 182 phụ nữ, trong đó có 17 người mang thai; 173 trẻ em đã bị hành hình, bao gồm 56 trẻ sơ sinh; 60 người đàn ông lớn tuổi cũng bị sát hại. Bảo tàng ở Mỹ Lai cũng lưu giữ một sự kiện quan trọng khác: có một ngôi làng khác gần Mỹ Lai 4, gọi là Mỹ Khê 4, cũng bị cánh quân Mỹ thuộc Đại đội Bravo tàn sát trong cùng ngày. Như vậy, với 407 người bị sát hại tại Mỹ Lai 4, và 97 người bị giết tại Mỹ Khê 4, tổng số 504 thường dân Việt Nam đã chết trong uất hận. Cũng cần phải lưu ý, có 20 vụ cưỡng hiếp đã được làm rõ, không bao gồm những vụ hãm hiếp không thành hoặc không được làm rõ.

So-494--Noi-am-anh-My-Lai---Anh-2
Bức tranh tường ở Khu tưởng niệm Mỹ Lai.

Tôi không đi sâu mô tả chi tiết về những hành động man rợ đó, về sự tra tấn bằng cực hình mà quân đội Hoa Kỳ đã thực hiện dưới sự đào tạo và cho phép của Lầu Năm Góc. Tâm lý đồ tể ở lò giết mổ này là điều rất khó diễn tả và khó có thể hiểu được với hầu hết mọi người. Tôi sẽ nói điều này, đó là một trích dẫn từ Larry Colburn, một tay súng máy trên trực thăng của Hugh Thompson đã hạ cánh trong vụ thảm sát, cố gắng ngăn chặn việc giết người. Đây là những lời của Larry Colburn: “Điều duy nhất mà lính Hoa Kỳ không làm là nấu lên và ăn họ”.

Để hiểu tại sao vụ thảm sát này xảy ra vào ngày 16/3/1968, một bản tóm tắt về lịch sử những gì đã xảy ra ở Quảng Ngãi trong chiến tranh sẽ hữu ích cho người đọc. Tôi đã xem qua một bài viết đoạt giải vào ngày 2/10/1994 của tác giả, cựu chiến binh Việt Nam (cựu chiến binh Mỹ tham gia chiến tranh Việt Nam), Tim O’Brien. Tiêu đề của bài báo là “Việt Nam trong tôi”, đây là những lời của ông: “Trong những năm trước khi xảy ra vụ thảm sát tại Mỹ Lai, hơn 70% làng mạc tỉnh Quảng Ngãi đã bị phá hủy bởi các cuộc không kích, pháo binh, bật lửa Zippo, napalm, phốt-pho trắng, máy ủi, súng đạn và các phương tiện khác. Khoảng 40% phải sống trong các trại tị nạn, trong khi số người thiệt mạng trong khu vực đã lên đến 50.000 người mỗi năm. Các số liệu này, do phóng viên Jonathan Schell báo cáo vào năm 1967, sau đó đã được các nhà điều tra Chính phủ xác nhận là đúng, chứ không phải là tôi xác nhận. Trở lại năm 1969, quang cảnh đổ nát là phổ biến xung quanh chúng ta, khiến nó trở thành như là một phần của địa lý tự nhiên. Tạo ra đống đổ nát là nguyên tắc của quân đội Mỹ, bắn phá và giết tất cả. Trẻ em bị thiêu cháy, phụ nữ bị bắn bằng súng, rải thảm lửa tự do, ném bom và bắn pháo bừa bãi, những mảnh cơ thể vương vãi khắp nơi, các ngôi làng bị biến thành tro, súng máy M-60 phạt đứt những hàng cây xanh và cuộc sống của con người phía sau những rặng cây đó. Trong một cuộc chiến mà không có mục đích, bạn sẽ có xu hướng không nhằm mục đích nào cả. Bạn nhắm mắt lại, nhắm mắt lại, và bắn. Hậu quả trở nên khủng khiếp theo nghĩa đen nhất. Với rất ít mục tiêu quân sự, chỉ có một vài kẻ thù ở lẫn trong dân chúng, nhưng Quảng Ngãi đã bị quân đội Mỹ xác định là kẻ thù thực sự – bởi đây là một nơi lý tưởng, với núi đồi và ruộng lúa. Chúng ta đã tiến hành một cuộc chiến tranh kỳ quái, độc ác đã nhanh chóng phát triển thành một cái gì đó vượt xa sự điên rồ, trở thành những kẻ giết người bị nhấn chìm bởi chủ nghĩa hư vô, không lý tưởng, không tinh thần, không mục đích. Như Schell đã viết sau những sự kiện ở Mỹ Lai, không có gì nghi ngờ rằng hành động tàn bạo như vậy và một số phương pháp khác để giết thường dân, phá hoại các làng mạc đã trở thành quy luật, chứ không phải là ngoại lệ, trong cách hành xử của chúng ta trong chiến tranh”.

Trong cuốn sách Kill Anything That Moves (Giết tất cả những gì động đậy) của Nick Turse, ông viết trên trang 11: “Con số thương vong của chiến tranh thực sự đáng kinh ngạc. Từ năm 1955 đến 1975, Hoa Kỳ đã mất hơn 58.000 nhân viên quân sự ở Đông Nam Á. Số lính bị thương khoảng 304.000 người, với 153.000 trường hợp nghiêm trọng, và 75.000 cựu chiến binh tàn tật nặng. Trong khi người Mỹ phục vụ ở Việt Nam phải trả một giá nghiêm trọng như vậy, thì ước tính số người tử vong ở Việt Nam còn cao gấp 100 lần so với thiệt hại của Hoa Kỳ”.

So-494--Noi-am-anh-My-Lai---Anh-3
Máy bay Mỹ ở An Khê, lính Mỹ viết “Tại sao?”, thể hiện sự bế tắc trong cuộc chiến.

Ở trang 61 của cuốn sách, Nick Turse cũng ghi: “Theo cuốn hồi ký của Westmoreland, MacArthur kêu gọi phải đảm bảo luôn luôn có nhiều pháo binh, đối với phương Đông, họ “rất sợ pháo binh”, và cho rằng Westmoreland phải sử dụng một “chính sách xói mòn đất” ở Việt Nam”.

Khi nghiên cứu sâu văn bản các bài viết này, tôi đã phải đặt tâm trí của mình vào vị trí tỉnh táo khách quan của người làm chứng, nhưng nhiều chi tiết vẫn khiến con tim tôi bị bóp nghẹt, đặc biệt là khi xem video cảnh những người Việt đau buồn khi mất người thân yêu. Sự xấu hổ ô nhục sẽ khiến bạn cảm thấy đau quặn trong ruột. Là một bác sĩ Quân y ở Việt Nam trong 2 năm 1970-1971, chiến tranh Việt Nam đã định hình lại cuộc đời tôi. Tôi lớn lên trong một gia đình quân nhân, cha tôi là một sĩ quan quân đội chuyên nghiệp, là chiến binh kỳ cựu ở Bắc Phi trong Thế chiến II. Tôi đã trải qua chặng đời đầu tiên của mình tại các căn cứ quân sự của Hoa Kỳ ở Nhật Bản, và Đức, cùng các căn cứ ở bờ biển phía Đông và bờ biển phía Tây Hoa Kỳ. Hệ thống niềm tin cốt lõi của tôi là kết quả trực tiếp của quá trình giáo dục đó.

Theo như tôi vẫn xác định, Hoa Kỳ là quốc gia vĩ đại nhất trên thế giới. Tôi hết lòng tin tưởng vào điều đó, cho đến khi chính thức phục vụ quân đội từ tháng 3/1969. Khi đến An Khê, Việt Nam vào tháng 9/1970, lý tưởng của tôi đã suy sụp nhanh chóng bởi thực tế sự can thiệp của Mỹ ở Việt Nam. Tôi đã chứng kiến nhiều trường hợp thương vong, thường xuyên được trực thăng đem về từ đồng ruộng, thỉnh thoảng họ bị tấn công bằng súng cối và tên lửa, nhưng chủ yếu là do bạo lực nội bộ trong đơn vị. Tình trạng nghiện ma túy tràn lan, những vụ tự tử và những cuộc cướp bóc giữa lính Mỹ với nhau xảy ra bất cứ lúc nào.

Tôi đã dành phần lớn thời gian của mình phục vụ các đơn vị trinh sát, bao gồm cả 3 căn cứ hỏa lực vũ trang khác. Các khẩu pháo 155mm thường xuyên bắn vào các vùng oanh kích tự do, cũng như hầu hết các địa bàn trên khắp Việt Nam, còn trực thăng tấn công thường xuyên đi săn lùng các nơi. Cho đến ngày nay, tôi vẫn không biết được hết những thiệt hại mà họ gây ra cho người dân Việt Nam. Vào đầu tháng 4/1971, khi đang làm việc tại trạm cấp cứu, một tàu vận tải đường sông của quân đội Mỹ (APC) đã đến trạm cấp cứu, vì một số thuyền viên bị thương nhẹ. Trên mặt trước của APC đó, thủy thủ đoàn đã viết dòng chữ trắng: GIẾT BỌN MỌI, VÌ CALLEY – William Calley là người duy nhất bị kết tội giết người Mỹ Lai. Anh ta bị kết án vì tội ác chiến tranh vào ngày 29/3/1971, và bị kết án tù chung thân. Tuy nhiên, Tổng thống Nixon đã ân xá cho anh ta (chỉ sau vài tháng), và cuối cùng anh ta trở về Atlanta, Georgia để làm việc trong tiệm bán đồ trang sức của bố vợ. Trong phiên xử, hàng triệu người Mỹ tin rằng anh ta không có tội, và gửi hàng ngàn lá thư tới Nhà Trắng để xin thả anh ta. Mặc dù Calley phạm tội, điều mà hầu hết mọi người không nhận ra là họ phải luôn bảo vệ cấp trên, đây là một quy tắc bất thành văn trong quân đội. Quân đội hầu như luôn luôn đổ lỗi cho những người thừa hành (nguyên văn: quả táo xấu) ở hàng ngũ thấp hơn.

Điều quan trọng cần ghi nhớ về vụ thảm sát Mỹ Lai: đây là một chiến dịch quân sự có kết quả được trù tính từ trước. Họ không đưa đối phương đến với hòa bình bằng cách chỉ giết các chiến binh, mà họ muốn đưa kẻ thù đến bàn đàm phán hòa bình bằng cách giết chết thường dân vô tội, bị biến thành mục tiêu quân sự. Đó là mục tiêu chính trị, mục tiêu chính của kẻ xâm lược là phá vỡ ý chí của người dân, và khả năng bảo vệ quê hương của họ. Chiến lược man rợ này là điều xưa cũ, như chính lịch sử của chiến tranh.

Bây giờ là ngày 16/3/2017, đã 49 năm trôi qua từ Thảm sát Mỹ Lai. Kể từ khi kết thúc Thế chiến II, cuộc đời của tôi, bây giờ 72 tuổi, đã chứng kiến Hoa Kỳ đánh bom 30 quốc gia, sự tàn bạo chưa bao giờ dừng lại. Những gì đã xảy ra ở Mỹ Lai là điều rất quan trọng để có thể hiểu rằng, tất cả những hành động tàn ác trong chiến tranh là Chính sách của Hoa Kỳ! Mỹ Lai là một ẩn dụ về toàn bộ chiến tranh Việt Nam. MỸ LAI KHÔNG PHẢI LÀ MỘT SAI LẦM. Nhận thức quan trọng nhất đã đến với tôi khi viết bài báo này, và nó luôn luôn trở lại với tôi: Vì đất nước mà tôi phải làm điều này. Tôi không thể chối bỏ được thực tế này. Khi trở về từ Việt Nam, cuối cùng tôi đã phải đối mặt với sự thật, rằng tôi là kẻ thù ở Việt Nam. Nhận thức đó cuối cùng đã khiến tôi phải vào hai bệnh viện tâm thần. Hệ thống niềm tin cốt lõi của tôi đã bị phá vỡ hoàn toàn. Tôi cảm thấy như một người lạ mặt ở một vùng đất lạ. Và, bất cứ khi nào tôi cố gắng thuyết phục mọi người rằng chúng tôi là những người man rợ ở Việt Nam, thì càng có nhiều người tránh tôi. Mọi người không muốn nghe sự thật độc hại đó, bởi vì như vậy là tôi đang vi phạm những niềm tin hiện có trong xã hội. Tôi giống như một cô gái 16 tuổi bỗng phát hiện ra rằng bị cha của mình hãm hiếp. Những loại thông tin KIỂU như thế LUÔN là điều cấm kỵ, và chúng tôi được huấn luyện cách thức duy nhất là đổ lỗi cho nạn nhân.

Tôi đã gặp nhiều cựu chiến binh Việt Nam tham gia vào các vụ giết người tàn ác, để biết rằng nỗi đau về nó rất dữ dội. Một số người trong số họ vẫn làm việc sau những gì đã xảy ra, nhưng các di chứng ám ảnh về những gì họ đã trải qua phải được xử lý đằng sau cánh cửa đóng kín với các cố vấn. Xã hội chúng ta không bao giờ là một phần của sự chữa lành đó, bởi vì họ không muốn nghe sự thật. Và, tất nhiên, bạn phải hỏi tại sao? Họ không muốn cảm thấy xấu hổ, bởi vì National Shame (nỗi ô nhục quốc gia) là điều thật đáng sợ, nếu cảm thấy xấu hổ, họ sẽ phải xác định lại toàn bộ cuộc sống của mình.

Cuối cùng, tôi nhận ra rằng, bất cứ khi nào sự thật đe dọa hệ thống niềm tin cốt lõi của một người, sẽ có một nhu cầu cấp thiết để phủ nhận thực tế đó. Đó là lý do tại sao việc chối bỏ sự thật lại trở thành một cứu cánh (nguyên văn: con bò thiêng). Cá nhân tôi biết nhiều cựu chiến binh Việt Nam đã bị hủy hoại cả cuộc đời vì những gì họ trải qua ở Việt Nam. Ít nhất 4 người bạn của tôi đã chết vì tiếp xúc với chất độc màu da cam, bao gồm anh rể tôi. Một người chết vì tai nạn xe hơi, một người chết trên đường phố và hai người tự treo cổ. Tôi không lấy gì làm ngạc nhiên trước thực tế số cựu chiến binh Việt Nam tự sát còn nhiều hơn số bị giết ở Việt Nam. Theo Cơ quan Cựu chiến binh, mỗi giờ lại có một cựu chiến binh tự sát ở Hoa Kỳ. Những người sống sót, sau đó sẽ trở thành sứ giả của hòa bình.

“Họ, những người sống sót, là người chạy trốn những kẻ phong tỏa những thứ “không được phép nhắc đến”. Họ muốn nói chuyện về điều đó, và trong khi làm như vậy, họ sẽ làm suy yếu, dù không có ý định, hiệu lực của những nguyên tắc hiện có. Anh ta đã là người phạm tội, và giờ đây anh ta cảm thấy thật sự mang tội lỗi. Thế giới mà anh ta muốn chống lại không thừa nhận anh ta, và vì anh ta đã nhìn thế giới này như là nguồn gốc của trật tự luân lý, anh ta bắt đầu nghi ngờ chính mình. Điều đó không phải là sự kết thúc, vì bây giờ cảm giác tội lỗi của anh ta sẽ tăng gấp đôi bởi sự phản tỉnh của mình, về nhiệm vụ bản thân, về lời thề với những người đã chết. Sự hành hạ tồi tệ nhất đối với người sống sót là không thể nói ra được sự thật”. 

- Terrence Des Pres, Người sống sót -

Cuối cùng, tôi phải nhắc nhở bản thân mình rằng nhận thức chính là vũ khí có sức mạnh lớn nhất trong chiến tranh. Tôi nhớ những nội dung trong cuốn tiểu thuyết nổi tiếng “Johnny Got His Gun – Johnny có súng của anh ta” mà Dalton Trumbo đã viết: “Nếu điều mà ta chiến đấu đủ quan trọng để chết vì nó, cũng đủ quan trọng để ta suy nghĩ trong những phút cuối cùng của cuộc đời mình. Đó là lý do, cuộc sống là vô cùng quan trọng nên nếu bạn đã cho nó đi thì bạn hãy suy nghĩ với tất cả tâm trí trong những khoảnh khắc cuối cùng của cuộc đời mình, về những điều nó đã dành cho bạn. Vậy, tất cả những đứa trẻ đã chết khi nghĩ về dân chủ, tự do, danh dự, sự an toàn cho mỗi mái nhà, về ước mơ tới những ngôi sao và dải ngân hà thì sao? Rõ ràng là bạn thật sự đáng trách bởi những đứa trẻ đó không hề được nhận những điều ấy”.

Viktor E. Frankl, người đã viết “Mans Search For Meaning – Những người đi tìm ý nghĩa cuộc sống”, đã giúp rất nhiều cho việc chữa bệnh của tôi, khi ông viết: “Sự đau khổ không còn là đau khổ nữa, khi nó có ý nghĩa”.

Vào năm 1994 và 2016, tôi đã có những chuyến đi trở lại Việt Nam, đặc biệt chú trọng vào việc dành thời gian tại Bảo tàng chứng tích Mỹ Lai. Năm ngoái, tôi đã trao tặng 8.600 đô la của tổ chức Cựu chiến binh vì hòa bình, để khôi phục bức tranh tường khảm đá ở đó, miêu tả vụ tàn sát những thường dân trong khoảnh khắc cuối cùng của họ. Đây là một tác phẩm nghệ thuật mang thông điệp rất mạnh. Khi ở đó, tôi đã gặp một phụ nữ Việt Nam, đồng Giám đốc Bảo tàng Mỹ Lai, cô đã làm việc ở đó 17 năm, gặp rất nhiều khách du lịch đến nơi này. Tôi giới thiệu mình là một cựu chiến binh, và có hàng triệu người Mỹ vẫn chiến đấu chống lại chiến tranh, họ biết rằng việc tưởng niệm này là rất quan trọng. Tôi cũng nói với cô ấy rằng, theo như tôi quan tâm, khu vực chứng tích Thảm sát Mỹ Lai (My Lai Massacre) là đất thánh. Lặng lẽ trong giây lát, rồi cô ấy nghẹn ngào khóc. Sự kết nối cảm xúc đã làm tôi cảm thấy vượt qua mọi sự hiểu biết thông thường. Tôi nghĩ đó là điều gần gũi nhất mà tôi cảm nhận được kể từ khi rời Việt Nam sau năm 1971.

Ngay khi gặp, cô ấy đã sắp xếp cho tôi tiếp xúc với một trong số ít ỏi những người sống sót của vụ thảm sát này. Tên ông là Phạm Thành Công, người mới 11 tuổi khi quân đội Hoa Kỳ vào làng sáng sớm ngày 16/3/1968. Một người lính Mỹ ném lựu đạn vào căn nhà, giết chết mẹ ông, 3 chị em gái và 1 em trai 6 tuổi. Ông sống sót là nhờ được che chở bằng cơ thể của họ trong vụ nổ, dù ông cũng bị 3 vết thương khác nhau. Được gặp ông là một đặc ân, nhưng phải thừa nhận rằng, tôi đã cảm thấy e dè, bởi bản thân đã từng là một lính Mỹ ở đất nước của ông. Ngay khi gặp nhau, ông đã hỏi liệu tôi có ở Mỹ Lai trong cuộc thảm sát hay không. Tôi cam đoan rằng mình không ở đó, bởi 2 năm sau cuộc thảm sát tôi mới đến Tây Nguyên. Tôi nhận thấy ông ấy bình tâm trở lại khi nghe tôi trả lời như vậy. Chúng tôi nói chuyện trong khoảng 10 phút thông qua một thông dịch viên, và tôi đã ghi lại một đoạn cuộc trò chuyện đó. Khi bắt đầu nhận thấy đôi mắt ông đỏ hoe với những giọt nước mắt, tôi chuyển hướng cuộc nói chuyện rằng muốn có một bức ảnh chụp chung giữa ông ấy với tôi, cùng một cựu chiến binh Mỹ khác là Sandy Kelson…

Trong đầu tôi, thực sự không biết phải nói những gì với ông khi chia tay. Cuối cùng, tôi hôn vào má ông và nói rằng tôi yêu ông ấy…

Mike Hastie, 16/3/2017

Biên dịch Ngô Mạnh Hùng
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 494

Ý Kiến bạn đọc