Tản văn

Niềm tin của người ở lại

Cơn mưa tháng 7 thật não nề. Cánh đồng ngô trước nhà ngập nước, chết rũ. Nghe tin đâu đó mấy huyện miền núi bị lũ cuốn, sạt lở đất, gây chết người, lại buồn thêm.

Tháng 7 với chị Trần Thị Hán lại bắt đầu bằng nỗi nhớ vời vợi và niềm tin bất tận. Ngồi trong nhà, nhìn ra cánh đồng trước mặt, chị hi vọng nước sẽ nhanh rút đi, mầm xanh sẽ trở lại. Ngọn núi Chò đằng kia mây phủ lãng đãng, xanh ngắt màu quen thuộc thời trẻ thơ chăn trâu, hái sim, lượm củi. Chị lại nhớ tới người bạn trai thân thiết ngày ấy, giờ không biết nằm lại nơi nào trên dải đất Việt thân yêu này. Sắp tới ngày Thương binh – Liệt sĩ, chị đã chuẩn bị mấy thứ cần thiết mà anh thích, như thuốc lá, bánh tẻ, khoai sọ luộc… Bó hoa huệ trắng thì buổi sáng hôm đó chị sẽ mua, rồi đem tất cả tới Nghĩa trang Liệt sĩ của xã. Ngôi mộ có tên anh – Liệt sĩ Hoàng Thanh Giản nằm thẳng hàng trong hàng hàng ngôi mộ, nhưng không có hài cốt. Anh chỉ nằm vậy, để ghi khắc bóng hình một người trai trẻ với xóm làng, thời mười tám, đôi mươi nụ cười tươi, ánh mắt sáng, vai khoác ba lô chiến trận, theo tiếng gọi của non sông lên đường chống Mỹ, cứu nước.

Trich-tranh-O-moi-som---Dang-Duc-Sinh
Trích tranh – Ở mỗi xóm – sơn dầu – Đặng Đức Sinh.

Anh Giản, chị Hán vốn là một đôi “thanh mai – trúc mã” của làng tôi hồi những năm cuối thập kỷ 60. Chị là một thôn nữ xinh đẹp, tóc dài chấm hông, răng khểnh duyên dáng. Anh vạm vỡ, khôi ngô, mặt chữ điền nghị lực. Lẽ ra họ đã nên duyên chồng vợ, nếu như không có chiến tranh. Năm ấy, ngày nào máy bay Mỹ cũng gầm réo qua làng, bom đạn rực trời. Sau cái đêm tháng 7-1967, bom Mỹ ném xuống giết hại 7 người dân vô tội trong làng, thì anh tình nguyện nhập ngũ, chị xung phong đi xây dựng lâm trường. Họ đi theo tiếng gọi “Thanh niên 3 sẵn sàng”, chiến đấu, bảo vệ Tổ quốc. Anh đi bộ đội, sau 3 tháng huấn luyện, trước khi chuẩn bị đi chiến trường có về thăm nhà. Hai gia đình giục họ làm đám cưới, nhưng anh bàn với chị, hãy chờ ngày đất nước hòa bình, vẫn chưa muộn. Thực lòng anh sợ chị khổ. Chiến tranh không nói trước điều gì. Người ra đi cũng chỉ hẹn ngày trở lại, chứ cũng không dám ràng buộc nhau. Nếu rủi ro, chị sẽ dang dở cả cuộc đời.

Ngồi trong nhà chị một chiều mưa tháng 7, chị đem thư cũ của anh ra cho tôi xem lại. Những chiếc phong bì làm bằng giấy đen học sinh, đóng dấu Bưu cục Hà Nội, nhưng bên trong lại ghi là Tiền tuyến. Thư chiến trường được quân bưu tập trung lại, chuyển ra Bắc, rồi nhờ Bưu điện Hà Nội chuyển về từng địa phương. Lá thư ngày 26-9-1969, anh Giản đã ghi như vậy. “Tiền tuyến” là một cách viết để giữ bí mật, chứ lúc đó anh đang đóng quân ở Quảng Trị. Anh đem không khí chiến trường về với chị dưới nét mực Cửu Long xanh mà thời gian chưa làm nhòa đi. Tôi đã tưởng tượng không khí chiến trường nơi anh ngồi viết thư cho chị. “Hán thương nhớ! Mấy hôm nay trời mưa to quá, nước chảy ở các suối cứ ầm ầm. Nằm dưới hầm mà khó chịu vô cùng. Xa xa, vọng tiếng bom nổ ình ình, thỉnh thoảng lại có mấy chiếc L19 bay liệng vè vè, ngó nghiêng một lúc không thấy gì lại chuồn mất”. Chị Hán bảo, lúc đọc thư anh, tim thắt lại vì lo lắng. Chiến trường ác liệt thế, cầu cho anh an toàn để còn thời gian mà nhớ tới hậu phương, nhớ tới chị. Chị đã khóc khi anh kể rằng, cuộc sống chiến trường gian khổ lắm “suốt ngày nằm dưới hầm, thằng nào nằm dúi ở hầm thằng nấy, đến bữa anh nuôi đem tận cửa hầm cho nắm cơm với nhúm muối trắng”. Công việc thì “lúc chiến đấu, khi tải đạn, túi bụi cả ngày. Người thì gầy đi, râu thì mọc dài ra, như ông cụ non”.

Chị đi trồng rừng, núi này qua núi kia, màu xanh hi vọng vươn lên, hi vọng ngày đoàn tụ cũng cháy bỏng. Chị nhớ lại cái hôm anh được về phép 3 ngày, đã đạp xe từ Phù Ninh xuống Bình Xuyên thăm chị, hơn 50 cây số dưới nắng hè. Mồ hôi ướt đầm lưng áo quân phục xanh biếc. Ngôi sao đỏ trên mũ rực lên những lời anh muốn nói. Họ nói được với nhau rất ít, vì bữa cơm tập thể hôm đó, các cô gái lâm trường tíu tít quanh anh bộ đội trẻ, hỏi hết chuyện này đến chuyện khác. Lúc ra về, chị chỉ còn lại một cái nắm tay xiết chặt. Anh vào chiến trường, biền biệt. Tết năm 1970 anh có gửi thư về, nói rằng mấy tháng nay không nhận được thư chị. Chị cũng hờn trách nhiều lắm, đã viết gửi đi hàng bao nhiêu lá thư mà thất lạc hết. Xuân ấy, cả hai người cùng vui mừng vì đã liên lạc được với nhau. Bài thơ anh chúc mừng xuân mới gửi cho chị, đầy hứa hẹn.

Trời xanh tắm ánh nắng hồng
Thủy chung gửi cả tấm lòng yêu thương
Xuân về nhuộm đỏ quê hương
Cây tung hoa nở bốn phương đã nhiều
Gửi về H quả tim yêu
Sang năm công tác đạt nhiều chiến công
Hậu phương tiền tuyến một lòng
Hẹn xuân thống nhất về trong một nhà

Bài thơ viết ngày 29-1-1970, đã trở thành kỷ vật cuối cùng anh gửi về. Lời hẹn của anh vẫn còn đó, mà anh đi mãi không về. Rồi có tin năm đó anh đã hi sinh ở Quảng Trị. Giấy báo tử đưa về địa phương. Chị chết lặng, ngồi khóc một mình trên rừng cây mới trồng, nguyên một buổi sáng.

Năm nay đã 74 tuổi, chị Hán sống một mình trong căn nhà nhỏ gọn gàng, sạch sẽ tại thôn Hiệp Lực, xã Phú Lộc, huyện Phù Ninh (Phú Thọ). Đứa cháu con người em trai cất nhà ngay bên cạnh, chung sân, chung cổng để tiện trông nom bác gái. Chị đã dành hết tuổi xuân tươi đẹp để đợi chờ. Chị không tin anh đã hi sinh, hi vọng một phép lạ nào đó xảy ra, anh đột nhiên khoác ba lô trở về làng như một số trường hợp đã thấy. Một thời, bao nhiêu chàng trai ở cùng cơ quan, ở cùng thôn xóm ngỏ lòng thương yêu xin cưới chị. Có những lúc muốn mềm lòng bước tới, nhưng cứ nghĩ đến nụ cười của anh, cứ đọc lại bài thơ hứa hẹn của anh, là chị lại chối từ hạnh phúc. Giờ thì đã về hưu, sống thanh thản với các em các cháu, chăm sóc ruộng lúa, nương chè… và ôn lại những kỷ niệm thời thiếu nữ qua những lá thư của anh mà chị còn giữ được. Gần hai chục lá thư từ chiến trường gửi về, những bức ảnh cá nhân của anh chị còn giữ được, đã trở thành di vật của Liệt sĩ Hoàng Thanh Giản. Người em trai của anh hiện đang thờ cúng liệt sĩ đã đến nhà chị Hán xin vài bức thư, tấm ảnh của anh đem về thờ.

Chị Hán trầm ngâm kể: “Có người từ chiến trường về, nói từng tự tay chôn cất anh Giản. Vậy mà đến nay mộ anh vẫn chưa tìm thấy. Chị có ý định thử đi Quảng Trị một chuyến, nhờ người đồng đội của anh đưa tới nơi chôn cất anh xưa. Biết đâu anh linh thiêng, còn thương chị mà chỉ chỗ anh đang nằm tại nơi nào”. Niềm tin của người phụ nữ trọn đời chờ đợi tình yêu, biết đâu sẽ có hậu. Gần nửa thế kỷ qua rồi, chiến trường xưa đã thay đổi hoàn toàn. Những khu rừng, trảng cỏ ngày nào, nay có khi đã thành khu công nghiệp hoặc làng xóm mới. Chị Hán lặng đi, rồi vẫn khẳng định mình sẽ đi. Cả cuộc đời chị chờ đợi anh, nay muốn thực hiện ước mơ gặp lại của hai người năm nào. Dù bây giờ gặp anh với chút hài cốt.

Chúng tôi may mắn gặp và đọc được những lá thư của Liệt sĩ Hoàng Thanh Giản, xúc động cùng sống lại những ngày tháng hào hùng, lịch sử của quê hương. Mái tóc của người phụ nữ thủy chung giờ đã bạc trắng, nụ cười của chị đã héo hắt. Nhưng gió trên cao vẫn lồng lộng niềm tin người ra đi sẽ “trở về”.

12/7/2017

Phùng Phương Quý
(Huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 460

Ý Kiến bạn đọc