Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Những thước phim về Mậu Thân 1968

LTS. Đã 50 năm sau cái Tết Mậu Thân lịch sử 1968. Phần đông những người cầm súng tham gia cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mùa Xuân ấy vẫn còn sống. Họ là những nhân chứng bác bỏ mọi sự xuyên tạc của những thế lực phản động. Chúng tôi sẽ lần lượt giới thiệu một số bài viết của họ để bạn đọc tham khảo.

Mùa thu 1964, Điện ảnh Quân đội (ĐAQĐ), số 17 Lý Nam Đế – Hà Nội, trực thuộc Cục Tuyên huấn Tổng cục chính trị (TCCT) Quân đội nhân dân Việt Nam chiêu sinh khóa Quay phim cho miền Nam, tất cả có 16 học viên.

Tuy không tấp nập ngày khai giảng cũng như náo nhiệt ngày bế giảng nhưng khóa này công khai ngay trong Xưởng phim Quân đội, khác với khóa trước gồm các anh Trường Sơn Nguyễn Văn Hích, Nguyễn Phú Thạnh được đào tạo và đưa đi âm thầm vào năm 1961, bí mật đến độ giám đốc xưởng phim lúc bấy giờ là ông Dương Minh Đẩu khi nhắc lại nhóm đi B này cũng đành nói: Tớ chỉ nghe loáng thoáng! Là một cơ quan quân đội thời chiến, ĐAQĐ không lỏng lẻo hớ hênh trong công tác bảo mật thế đâu mà có thể là vào thời điểm này Luật sư Nguyễn Hữu Thọ, Chủ tịch Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam phát lời kêu gọi con em miền Nam, những cán bộ miền Nam tập kết ra Bắc quay trở về miền Nam tham gia công cuộc chống Mỹ cứu nước. Có thể là như thế, nhưng trong khi đó nhóm phóng viên báo chí quân đội, nhóm Việt Nam Thông tấn xã thì lại rất âm thầm. Chuyện nhà nước không biết đâu mà lần, toàn “tham mưu con”.

So-488--Nhung-thuoc-phim-ve-Mau-Than-1968---Anh-1
Đại hội mừng công Bắc Gia Định, 1971. Nguyễn Quế đứng đầu bên trái.

16 học viên này gồm toàn là giáo viên văn hóa trong quân đội đã tốt nghiệp đại học. Xin nhắc lại một chức danh trong quân đội thời đó mà ngày nay hẳn không còn: giáo viên văn hóa. Chúng ta đã biết đạo quân đánh thắng giặc Pháp xâm lược 1945-1954 là đạo quân nông dân do Đảng Lao động Việt Nam lãnh đạo, tuyệt đại bộ phận là nông dân, rất ít học sinh (bậc trung học) và trí thức (bậc tú tài). Các anh hạ sĩ quan và sĩ quan cấp trung đội, đại đội, thậm chí tiểu đoàn đọc viết rất kém cỏi. Việc ghi chép lời giảng của cấp trên truyền đạt lại cho cấp dưới rất hạn chế… Ngay từ năm 1955, nhận thức tình hình này, TCCT thành lập Cục Văn hóa phụ trách việc giảng dạy, bổ túc văn hóa cho toàn quân, một số lớn chiến sĩ, hạ sĩ xuất thân từ học sinh trung học được tập trung lại bổ túc văn hóa, bồi dưỡng phương pháp giảng dạy rồi đưa về các sư đoàn, các trung đoàn làm giáo viên chuyên nghiệp giảng dạy cho sĩ quan, một số được đưa về tiểu đoàn hoặc đại đội kỹ thuật làm giáo viên không chuyên. Học viên là sĩ quan, giáo viên là hạ sĩ quan bên ngoài trên dưới phân minh, vào lớp quan hệ thật tế nhị, thầy trò đánh vật với nhau nhiều năm trời mới đẩy bay những mắc míu về quy tắc tam suất, tỷ lệ thuận nghịch, phân số rồi khá hơn là những bài toán lượng giác những sin và cosin, tang và cotang cho các sĩ quan pháo binh. Từ 1963 trở đi, những bức bách về văn hóa giảm đi thì tình hình chiến trường lại căng lên, đội ngũ giáo viên văn hóa thừa và đây là cơ hội cấp trên điều động giáo viên văn hóa sang các binh chủng khác.

Trong 16 học viên đó có tôi, người viết bài này, chúng tôi được đưa đi học quay phim cho miền Nam. Đã học qua vật lý và hóa học, những vấn đề về ống kính máy quay, ghi nhận của phim đen trắng, in tráng chúng tôi tiếp nhận dễ dàng. Người giảng dạy chúng tôi là đồng chí Bân vừa học xong lớp quay phim hai năm do chuyên gia Trung Quốc hướng dẫn. Thỉnh thoảng cũng vấp vài vấn đề về danh từ chuyên môn khó hiểu. Phim đen trắng ghi nhận hình ảnh cảnh vật bên ngoài vào phim thành một phổ xám gọi là “độ dịch xám”. Thầy Tàu dạy sao, thầy Bân chúng tôi nói lại vậy, không giải thích nổi nội hàm của cụm từ này. Cứ trăn trở mãi đến một hôm gặp được chuyên viên Cục Điện ảnh sang phụ đạo, ông ta mới cho biết, lại bằng tiếng Pháp, đó là “traduiser en gris”, chữ dịch ở đây là traduiser chứ không phải là xê dịch (glisser). Cả lớp vỡ òa, cái thời mà một thế hệ người Việt để hiểu được thuật ngữ tiếng Việt lại phải dùng tiếng Pháp đối chiếu dẫn giải.

Những vấn đề kỹ năng của người quay phim dần dà trong mấy tháng cuối năm 65 đầu 66 chúng tôi tiếp cận được cả, đã đi thực tập mỗi người làm một tin ngắn đạt yêu cầu sản xuất tin thời sự, đáng tiếc là các anh ở 17 Lý Nam Đế, nhiều anh rất am hiểu chiến trường, hiểu biết trong chiến tranh chống Pháp, không ai dạy chúng tôi đi chiến trường thì phải quay những gì, làm một phim phóng sự 10 phút về một vùng quê giải phóng thì cần có những hình ảnh gì. Không ai dạy cả. Vào miền Nam B2, các anh Tuyên huấn cũng chỉ nhấn mạnh hình ảnh máy bay rơi, xe tăng cháy, thu vũ khí, bắt tù binh… không có những hình ảnh đó coi như chưa hoàn thành nhiệm vụ! Thậm chí có quay phim thu hình được một xe tăng cháy, mừng lắm, nhưng một anh tuyên huấn nào đó phán: Nòng pháo của nó vươn cao ngạo nghễ lắm, phải gục xuống mới coi được. Với chỉ đạo đó, nhiều anh em quay phim đi chiến trường suốt mùa khô năm sáu tháng trời chỉ lèo tèo có mấy cảnh quay.

So-488--Nhung-thuoc-phim-ve-Mau-Than-1968---Anh-4a
Nguyễn Quế cuối năm 1965, trước khi về Nam.

Trong 9 tháng học ở Lý Nam Đế có hai sự kiện làm nức lòng chúng tôi:

Khoảng tháng 12-1964, báo Quân đội Nhân dân đưa tin Xưởng phim Quân giải phóng miền Nam Việt Nam mở lớp đào tạo nhân viên chiếu bóng và nhiếp ảnh cho các tỉnh, quân khu trên toàn B2. Chúng tôi mừng thầm rằng đội ngũ mình trong đó đông đảo rồi.

Tháng 5-1965, Quân giải phóng đánh chiếm thị trấn Đồng Xoài, uy hiếp thị xã Phước Long. Sau đó ít lâu bộ phim “Đồng Xoài rực lửa” của Xưởng phim Giải phóng công chiếu trước khán giả vùng giải phóng, trên généric có tên các anh quay phim Quân giải phóng. Một lần nữa chúng tôi lại reo lên: Ngành của mình làm ăn nên nỗi!

Về đến Xưởng phim Quân giải phóng B2 đầu năm 1966, trong một tối chiếu phim có phim thời sự “Những hình ảnh chiến thắng đường 2” (tức là một phần của Chiến dịch Bình Giã cuối năm 1964). Hình ảnh anh Đại đội trưởng Tạ Quang Tỷ lao lên xe bọc thép M113, lính Sài Gòn bỏ xe chạy tháo thân, cướp đại liên trên xe bắn truy kích bọn địch tháo chạy. Nhà quay phim trẻ Phạm Khắc đã chớp được thời cơ quý báu này để ghi hình. Năm 1967, tại liên hoan Anh hùng và Chiến sĩ thi đua toàn miền Nam, anh Tạ Quang Tỷ được tặng thưởng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang. Mãi 30 năm sau, vào thập kỷ 90, nhà quay phim Phạm Khắc được trao tặng danh hiệu Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới. Các nhà tổ chức thi đua khen thưởng có ghi nhận thành tích những thước phim chiến tranh hay không?

Mùa mưa năm 1967, Bộ Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam tổ chức Đại hội liên hoan Anh hùng và Chiến sĩ thi đua toàn Miền lần thứ 2 (Lần thứ nhất năm 1965) nhằm vinh danh cán bộ, chiến sĩ, nhân dân toàn miền Nam hai năm đánh Mỹ thắng lợi. Giữa chiến trường bom đạn căng thẳng, sự xuất hiện nữ tướng Nguyễn Thị Định hiền hòa đôn hậu điềm tĩnh với nụ cười trên môi, giọng nói khoan hòa đã cuốn hút tất cả các máy quay phim nhiếp ảnh với ánh đèn flash chói lòa. Phóng viên nào cũng muốn riêng mình sở hữu một khuôn hình đẹp nhất về người Phụ nữ Việt Nam kiệt xuất đó. Xưởng phim QGP chúng tôi làm một phóng sự ngắn về đại hội này tựa đề “Đại hội những người chiến thắng” gửi ra Bắc, các anh 17 Lý Nam Đế (ĐAQĐ) lồng tiếng, vào nhạc dự Liên hoan Phim Việt Nam lần thứ I – 1970 đoạt giải Bông sen Bạc. Ở trong Nam, chúng tôi chẳng hề hay biết gì về vinh dự đó cả, mãi đến gần đây…

So-488--Nhung-thuoc-phim-ve-Mau-Than-1968---Anh-2
Nguyễn Quế quay phim ở Nha Trang, 3-1973. Quân Đại Hàn rút quân.

Cũng trong đại hội này, trong một lần gặp gỡ với phóng viên và các anh tuyên huấn, Trung tướng Trần Văn Trà bảo: Chiến cuộc sắp đến còn ác liệt hơn nhiều. Không nói trước được ai còn ai mất. Đề nghị các anh em quay phim, nhiếp ảnh ghi thật nhiều hình ảnh các anh hùng dũng sĩ… Rồi như ngại sa vào bi lụy anh bỏ lửng câu chuyện, xoay sang chủ đề khác. Câu nói đó vào cuối mùa mưa năm 1967, mấy tháng sau là Chiến dịch Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 long trời lở đất. Chúng ta không còn đánh Mỹ ở rừng núi và nông thôn nữa mà đưa chiến tranh vào đô thị… Ngày nay câu nói đó còn ghi lại trong phòng trưng bày truyền thống Cục chính B2, Xưởng phim QGP B8, Bảo tàng Miền Đông Quân khu 7.

Tham gia Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 68 trên toàn miền Nam, ngành tuyên huấn dốc hết cả vốn liếng phóng viên báo chữ, quay phim, nhiếp ảnh ra chiến trường. Khu 5, Tây Nguyên, Trị Thiên do các cơ quan trung ương ở Hà Nội cử người đi. B2 (Nam bộ và khu 6) có phóng viên của Ban Tuyên huấn Trung ương Cục như Báo Giải phóng, Xưởng phim Giải phóng, Đài phát thanh Giải phóng, các nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ, họa sĩ thuộc Ban Văn nghệ R, TTX Giải phóng… Bên Quân giải phóng B2 cũng với một đội ngũ tương tự nhưng ít hơn. Xa xôi như khu 9, đội ngũ quay phim của anh Vũ Sơn, Bảy Triển cũng “xuống đường”…

Một trong những người ghi hình thành công nhất có thể (nói có thể theo cảm tính vì không có một hội nghị tổng kết nào về chuyện này) là anh Đặng Xuân Hải quay phim quân đội đột nhập vào cổ thành ghi lại lá cờ Mặt trận Giải phóng đĩnh đạc bay trên Ngọ Môn Huế. Có thể anh Hải còn nhiều hình ảnh đắt giá nữa mà tôi không được biết hết. Anh Hải đi suốt chặng đường 7 năm sau đến ngày toàn thắng, được vinh danh Nghệ sĩ Nhân dân, Đại tá, Giám đốc Xưởng phim Quân đội và hiện là Chủ tịch Hội ĐAVN.

Người thứ hai thành công là nhà quay phim Phạm Khắc. Đột nhập vào Sài Gòn theo hướng Tây Nam, anh theo chân một nhóm biệt động thành ghi lại các cô tự vệ Sài Gòn đi kiểm tra tảo thanh tàn quân lẩn trốn. Hình ảnh hai cô rất đẹp, xem một lần còn nhớ mãi. Chiến tranh rồi cũng qua đi, con người còn lại là vốn quý. Sau này có dịp gặp lại Phạm Khắc khi anh đã trở thành NSND, Giám đốc Đài truyền hình TP. Hồ Chí Minh, được hỏi về hai cô gái đó anh cho biết sau đó mấy hôm hai cô đều hy sinh. Thật đáng tiếc! Hai cô tươi trẻ, đẹp đẽ và trên hết… anh hùng quá!

Hai người bạn đồng nghiệp, đồng môn của tôi là Vũ Thập và Dương Phước An cũng vào Sài Gòn theo hướng quận 6. Cuối đợt 1, Vũ Thập bị thương về hậu phương; đợt 2, Dương Phước An vừa đi Bến Tre về vào thay ngay Vũ Thập đi cùng phụ quay Dương Minh Quang. Tôi gộp chung hai anh đi hai đợt khác nhau vào cùng một hướng Tây Nam Sài Gòn vì phim nháp chiếu lên không phân biệt cảnh nào của từng anh đã thu hình. Có hai cảnh đắt nhất. “Sáng mờ sương bộ đội ta vào đến quận ven dừng lại trước xí nghiệp có bảng hiệu Vinatexco”. Không trộn lẫn vào đâu được là bộ đội ta đã vào đến Sài Gòn. Cảnh thứ hai: “Một khẩu đội cao xạ 12 ly 8 đặt ngay trên đường phố phát dương một điểm xạ”. Cả hai cảnh đều quay lúc mặt trời chưa lên, nội dung cảnh quay rất quý nhưng hình ảnh không sắc nét, không gây ấn tượng mạnh. Và sau đó… chỉ có thế. Bộ đội ta vào thành phố không phải là đi diễu hành mà chiến đấu, lợi dụng nhà dân ẩn nấp, lấy phố làm công sự, đục tường làm giao thông hào, chiếm cao ốc làm điểm cao quan sát và chế ngự đối phương. Trên đường trở về căn cứ, Dương Phước An bị phục kích trên “đồng chó ngáp”, hài cốt đến nay vẫn thất lạc mặc dù gia đình vẫn khắc khoải tìm kiếm. May mắn phim đã quay và máy quay do phụ quay Dương Minh Quang đem về an toàn. Vũ Thập hoàn thành nhiệm vụ trở về với gia đình và qua đời trong gánh nặng tuổi tác.

So-488--Nhung-thuoc-phim-ve-Mau-Than-1968---Anh-3
Xe cơ giới địch sa vào bãi mìn. Lộc Ninh, 1971.

Cao Nguyên Dũng sau này người quý mến biết đến là quay phim đạo diễn của Đài truyền hình TP. Hồ Chí Minh, không mấy ai biết anh đã lặn lội suốt 10 năm chống Mỹ ở Quân khu 6 cái nơi “ngước lên thấy núi, cúi xuống thấy dốc” cùng với anh Bảy Nghiệp (một khóa đào tạo quay phim với Phạm Khắc) âm thầm ghi hình ảnh quân và dân khu 6. Dũng kể: Mậu Thân, anh Bảy Nghiệp theo chân bộ đội đột nhập vào thị xã Phan Thiết, quay được nhiều hình ảnh tốt. Đến khi rút ra trong đêm Bảy Nghiệp trúng đạn, máy quay và phim thất lạc.

Riêng tôi, người viết bài này, xuân 1968 đi theo Sư đoàn 7 giữa đợt 1 và đợt 2 đứng chân vùng Tân Uyên chuyên đánh quân phản kích vòng ngoài. Địch đổ quân vùng Bố Lá, Nhà Đỏ Bông trang, đường 16 hòng ngăn chặn đường tiếp viện của bộ đội ta vào Bắc Sài Gòn. Mỹ đổ quân một tiểu đoàn trên lộ và ven rừng cao su, bị một trung đoàn của sư 7 diệt gọn, ngày hôm sau chúng đổ quân xuống dọn dẹp thương binh tử sĩ và bố trí lại một tiểu đoàn Úc giữ trận địa. Để mấy chú lính Úc ngủ một đêm an giấc, đêm sau cũng chính sư 7 tập kích đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn lính Úc này. Thế là trong 3 đêm ta diệt và đánh thiệt hại nặng hai tiểu đoàn Mỹ – Úc trên cùng một địa điểm. Tuy đánh thắng nhưng phi pháo địch đáp trả không kém phần ác liệt, có mấy anh em bị thương trên đường rút lui lạc lối trong rừng mất vài ngày may mắn gặp du kích phát hiện đưa về quân y. Một chiến sĩ bị vỡ xương chân la lết di chuyển vẫn giữ bên mình khẩu B40 và viên đạn duy nhất với quyết tâm gặp địch là “Tao ăn thua đủ với mày”. Người chiến sĩ đó sau thời gian điều trị ra viện với “bước đi chấm phẩy” (chân dài chân ngắn) được đưa về hậu phương. Xưởng phim B8 chúng tôi nhận anh thương binh đó làm công tác in tráng. Từ đấy cho đến ngày toàn thắng, những thước phim từ chiến trường về đều qua tay anh in tráng. Anh tên là Lương Ngọc Triển với đức tính cần cù và ham học hỏi thành thạo công việc in tráng anh đã tiếp tay cho những người quay phim chúng tôi hoàn thành công việc đưa hình ảnh chiến đấu của bộ đội ta đến với khán giả quân dân cả nước.

Lần lượt các thước phim từ chiến trường miền Nam gửi về Hà Nội mà địa chỉ là ĐAQĐ, 17 – Lý Nam Đế. Đạo diễn Dương Minh Đẩu, Giám đốc Xưởng phim cùng tập thể sáng tác xưởng đã biên tập lại thành phim tài liệu “Vài hình ảnh chiến thắng đầu xuân 68” đoạt giải Bông sen vàng Liên hoan phim Việt Nam lần thứ I – 1970. Những anh em quay phim chúng tôi đều có tên trên généric cả.

Hài cốt chiến sĩ ta khi quy tập về nghĩa trang chưa biết tên có một thời ghi là “vô danh”. Sau thấy ghi như vậy bất nhẫn quá nên các ban quản trang chuyển lại là “Chưa rõ tên”. Thế đấy, trong các kho tư liệu về chiến tranh Việt Nam rải rác trên thế giới có cơ man nào là phim hữu danh và vô danh. 10 năm trước, kỷ niệm 40 năm Mậu Thân trên Youtube có một đoạn phim ngắn về Huế gồm nhiều cảnh như: bộ đội ta mặc quần xà lỏn, quần dài quấn trên cổ như mới vừa lội sông lội ruộng lên, các anh chia nhau điếu thuốc, máy bộ đàm hoạt động, B40 bắn, AK bắn… Với những cảnh như thế chỉ có thể là người quay phim cách mạng đi theo đoàn tranh thủ ghi lại, không thể nào có chuyện một phóng viên ngoại quốc xen vào được. Nhưng tại sao phim lại lọt sang phía bên kia? Tôi quan tâm đến phim chiến tranh cách mạng Việt Nam, nhưng chưa có dịp nào xem những cảnh trên trong phim tài liệu Việt Nam sản xuất cả. Của ta nhưng ta chưa bao giờ dùng cả mà phía bên kia dùng trước. Xin đưa ra một giả định:

Có thể là một nhà quay phim nào trong quá trình vận động đánh rơi những hộp phim đã quay, người Huế dân trí cao, nhìn hộp phim biết ngay đem nộp cho Thông tin Sài Gòn thời ấy. Có thể là nhà quay phim đó đã hy sinh, đánh rơi máy và phim trên chiến trường. Đã có “hài cốt vô danh”, nay lại thêm những “thước phim vô danh” nhưng cực kỳ hữu ích. Tôi xin nêu lại vấn đề này với mong mỏi ai đó đương thời quan tâm truy tầm trong bạn bè đồng nghiệp tác giả của những thước phim này là ai. Có lẽ cũng là một câu chuyện thú vị ý nghĩa hơn nhiều, khác nào chuyện đi tìm “lá diêu bông” của Hoàng Cầm hay chuyện “nàng TTKH” một thời trên văn đàn trước 1945.

Xưởng phim QGP B2 thường gọi B8 lần lượt có hơn 120 cán bộ chiến sĩ đến phục vụ trong hơn 13 năm hoạt động, có 33 đồng chí hy sinh. Lớp quay phim 16 người của ĐAQĐ năm 64 về Nam bộ 8 người, kết thúc chiến tranh còn lại được 3 người thì 2 đã bị thương đôi ba lần, riêng có một anh chàng năm nào cũng đi chiến trường mà không mất một sợi râu, không rách một cái áo, vẫn đỏ da thắm thịt, hoàn thành nhiệm vụ. Ngày còn chiến tranh mỗi khi đi quay về còn gặp nhau là mừng mà không kịp nghĩ đến điều hiếm hoi kỳ diệu ấy.
­­­

Nguyễn Quế (*)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 488

______________

(*) Tác giả nguyên là quay phim Xưởng phim QGP B2, 1965-1976, nguyên biên tập Xưởng phim TSTL TP.HCM, 1977-1997. Hiện là hội viên CCB P.13, Tân Bình).

Ý Kiến bạn đọc