Tản văn

Những nỗi buồn thiên thu

Bệnh viện Sài Gòn một ngày mưa. Tôi đã tỉnh sau ngày vào cấp cứu. Cũng đã quen vì đây không phải lần đầu. Vẫn là giường nệm trắng tinh. Đối diện với tôi là một bệnh nhân cùng phòng vẫn đang còn mê mệt với chai nước truyền dịch. Thi thoảng có tiếng xe đẩy nhỏ của cô y tá đi dọc hành lang mang thuốc tới các phòng bệnh. Tiếng xe kêu lạch xạch, xe qua đi rồi còn lại chỉ là sự phẳng lặng buồn tênh.

Nằm nghĩ vẩn vơ rồi cũng chán, tôi nghiêng mình đặt chân xuống dép, bước ra ngoài, vịn tay bên thành cầu thang, tôi bước từng bước lên lầu trên – cả dãy hành lang cũng vắng tanh. Ngồi xuống một ghế tựa êm bên lan can, tôi lim dim mắt bỗng nhớ lại cách đây 50 năm, tại Quân y viện của thời kháng chiến chống Pháp, vẫn không quên mấy câu thơ ai đó viết trên báo tường: “… Tôi tới thăm anh một buổi chiều/Quân y hôm ấy buồn cô liêu…”.

Thời ấy tôi mới là một chiến sĩ 17 tuổi. Buồn thật, nhưng tôi thấy ấm lòng khi đọc mấy vần thơ thấm đẫm tình người.

Quân y thời ấy chỉ nhà tranh vách nứa thôi, ở vùng chiến khu Đông Triều, núp dưới khoảng rừng cây thưa thớt. Ăn uống kham khổ, thuốc men thì quá thiếu thốn. Phụ trách trạm xá này là một ông trung niên từng làm y tá bệnh viện của Tây trong thành phố. Chúng tôi gọi ông là bác sĩ Trinh. Bộ sậu của ông chỉ có hai cô y tá tập sự và hai hộ lý là nam giới xấp xỉ hơn tôi vài tuổi thôi.

Có một hôm người ta khiêng cáng tới một anh dân quân du kích đường số 5. Trên mình anh chỉ mặc mỗi cái áo cánh nâu bạc mầu với một quần đùi đẫm máu. Anh gần như mê sảng vì qua lớp vải quấn tạm, buộc chặt cho máu đỡ rỉ ra bởi một viên đạn tiểu liên găm trong đùi. Lập tức anh được đặt nằm trên bàn mổ (là hai cái bàn gỗ ghép lại giữa nhà) chẳng có ai cấm bệnh nhân chúng tôi xúm lại nhìn ở xung quanh.

Ky-hoa-chiec-vong-tre---Pham-Thanh-Tam

Ca này đang khiến bác sĩ Trinh của chúng tôi bối rối. Chỉ có mỗi một cách là dùng dao rạch một vết nhỏ rồi thọc cái kẹp gắp (pince) vào đùi (!), dụng cụ đồ mổ không đủ, thuốc mê, thuốc tê đều không (!!). Vậy mà bác sĩ cứ loay hoay ngoáy cái kẹp sắt sâu trong đùi từ quãng gần đầu gối tới háng (…) thương binh để tìm viên đạn. Cảnh tượng thật ghê rợn, căng thẳng… Nhưng khốn nỗi không tài nào thấy! Không thể nào cầm được máu! Có lúc anh thương binh kêu rú lên đau đớn rồi lại lịm đi. Mắt tôi trân trân nhìn…kinh hoàng đến không hé được một lời than. Tuổi học trò, tôi đã từng ngã trầy da đầu gối, máu chảy không nhiều mà tôi đã quá đau… Huống chi… Trời! Trong chân cẳng anh đâu có cấu tạo mềm đơn giản để tìm ra viên đạn như tìm trứng cút trong một chiếc bánh bao! Vị bác sĩ của chúng tôi vừa làm vừa nước mắt nhòe… Rồi ông ôm mặt khóc rưng rức… Tất cả chúng tôi bỗng vỡ òa bật lên kêu khóc thảm thiết, cũng cảm thông như bác sĩ: Một sự tuyệt vọng; thấy mình như cũng có tội vì không làm sao được đành để người đồng chí, đồng đội của mình phải chịu chết thảm thê, chết uổng!…

Mọi người chỉ còn réo gọi “anh ơi” mà chưa ai kịp biết tên anh là gì, gia đình anh ở đâu? Ở tận xóm, thôn nào?…

Bà con ngôi làng gần biết tin, ngay chập tối họ khiêng tới cho chúng tôi một quan tài vốn là cỗ hậu sự dành sẵn cho một cụ già 80 tuổi. Khi mọi người gợi ý, cụ trầm ngâm rồi gật đầu hiến tặng ngay. Sớm hôm sau, nhiều người dân, trong đó có cả cụ già mang vàng hương tới cùng tất cả chúng tôi đi đưa đồng chí dân quân tới lập ngôi mộ ở một mé đồi cách Quân y vài trăm mét.

Chẳng có điếu văn gì đâu. Mọi người đang khóc lóc bỗng dừng. Chỉ còn nghe tiếng sụt sịt giữa những câu hát nghẹn ngào đứt quãng của chị Vân (y tá) giọng trầm trầm tê tái:

“… Trời mây xa xôi nghe sấm vang ầm bom súng
Có bóng đoàn hùng binh cùng dấn bước ra sa trường
Dưới núi đèo hoang, âm thanh vắng mơ hồ vi vu theo diều gió…”

Tất cả chỉ có chừng hơn hai chục người không khăn tang. Chúng tôi phải đưa đi từ mờ sớm để tránh máy bay Pháp đi tuần có thể oanh tạc. Đưa liệt sĩ về trong lòng đất chỉ tịnh có khói hương của dân cùng với mấy bụi hoa tím đồi sim… mà trang nghiêm trịnh trọng vô cùng.

Từ bé cho tới bấy giờ, lần đầu tiên tôi mới thấy, mới biết trên đời này có những nỗi buồn lớn, có những xúc động mạnh, bất ngờ khiến ta khiếp đởm biết chừng nào! Những nỗi đau mà con người không thể nào không hiểu, không thể nào thờ ơ, không ghi tâm khắc cốt.

Ôi thiên thu là những nỗi buồn!

*
Qua nhiều thập kỷ, sang trang thế kỷ, rồi sẽ là thiên niên kỷ… Dần dà thế giới loài người càng thấy yêu mến Việt Nam hơn.

Mờ sáng 3-9-1969, nhiều người đã ngạc nhiên vì sao dân Hà Nội vẫn dậy sớm như hôm qua – Ngày Quốc khánh 2-9. Dân ở ngoại thành đổ dồn vào trung tâm thành phố càng lúc càng đông. Bầu trời thiếu nắng. Tới quãng gần trưa, bỗng nhiên loa phóng thanh vang khắp các phố phường. Khi trên loa, trên đài cùng một lúc báo tin Bác Hồ mới mất (…) Bác Hồ đã đi xa (…) mới đầu còn ngỡ ngàng – nhưng khi nghe tới lời kêu gọi của Trung ương Đảng và Chính phủ, nghe đọc lời Di chúc của Bác Hồ… thì tất cả mọi ngả đường toàn thủ đô Hà Nội đều ran ran vỡ òa tiếng kêu khóc hầu át tiếng loa phóng thanh, cứ đều đều liên tục đọc bài thông báo tin buồn. Tôi và một anh bạn (thiếu tá Đặng Anh Vinh) cứ len lỏi theo dòng nước mắt từ phía chợ Cửa Nam dọc đường Tràng Thi cho tới đầu phố Đinh Lễ (bờ hồ Hoàn Kiếm) thì phải dừng lại cũng chỉ để ôm nhau cùng với mọi người cùng khóc.

Và lạ chưa? Không ai không thấy lạ: Bầu trời Hà Nội đang u ám bỗng tối sầm. Từng đợt mưa to, mưa rất to đổ xuống ào ào như góp phần nước mắt của Trời! Chỉ trong chốc lát con đường nhựa phố xá, nước đã ngập đầy tới mắt cá chân. Lúc này hầu như không có xe cộ nào chạy trên đường. Mọi người dân đã đứng sát lại bên nhau trong các mái vỉa hè để tránh mưa, cho đỡ lạnh, và cùng khóc… Hiện tượng đặc biệt như thế này, đã vào thơ Tố Hữu:

“Suốt mấy hôm rày đau tiễn đưa
Đời tuôn nước mắt, trời tuôn mưa…”

Cho tới năm 1975 giải phóng rồi, tôi mới lại chú ý mùa mưa Sài Gòn, cũng có đặc điểm: Từng đợt, từng cơn mưa mãnh liệt ồn ào… ngập ngang mặt đường rồi ngưng. Trời lại sáng nắng. Kiểu mưa Sài Gòn như thế này, tôi chỉ biết có một lần ở Hà Nội ngày Bác mất. Trong những bài thơ viết ngày Bác Hồ đi về với các cụ Karl Marx, Lénine tôi vẫn còn nhớ nhất một câu của nhà thơ Việt Phương: “… Con đóng cửa ở mình con với Bác…”.

Để rồi, chưa đầy 6 năm sau (1975), Việt Nam ta đã toàn thắng oanh liệt một cuộc chiến tranh lớn nhất trong lịch sử dân tộc. Trong những ngày này, còn được nghe rất nhiều chuyện vô cùng cảm động về tình cảm “sốc”, buồn, thương nhớ Bác của cán bộ, bộ đội và nhân dân miền Nam ở các vùng miền từ Quảng Trị dọc Trường Sơn cho tới các chiến khu bưng biền Đồng Tháp Mười – vào tới mũi Cà Mau; còn chưa kể được bao nhiêu dòng nước mắt cũng đã tuôn chảy bí mật khóc thầm trong các thành phố nơi địch còn chiếm đóng, kìm kẹp…?

Có vùng miền nào đâu nhỉ? Trên trái đất này – Người nổi tiếng tài năng xuất chúng rất nhiều, nhưng tài – đức vẹn toàn; càng xuất chúng lại càng gần gũi với mọi người như Hồ Chí Minh – Việt Nam thì quả là vô cùng quý hiếm.

Bởi vậy nỗi đau buồn của chúng ta ngày Bác mất đã chứng minh niềm tự hào của đất nước này thực hiện đúng như bình sinh nguyện cầu của Bác là Đoàn kết, Đại đoàn kết….

*
Nhưng thiên thu nỗi buồn đâu chỉ có trong những tình cảm lớn.

Bạn biết đấy: vui – buồn… là cặp phạm trù tự nhiên trong tâm tính, trong tâm hồn mỗi một con người. Trẻ nhỏ thường bộc lộ rất rõ hàng ngày: Khóc đấy lại cười đấy – mang tính bản năng, rất giản đơn. Nhưng khi đã lớn khôn thành người thì ý thức đã hiểu thế nào là hỷ – nộ – ai – lạc thì những bộc lộ tình cảm đã trở nên vô cùng phong phú và phức tạp. Nó còn chịu sự chi phối của sự đúng – sai, tốt – xấu trong tư tưởng về lẽ sống, về lý tưởng, về quan hệ mình với mọi người, về tác hại hay có ích trong cuộc sống chung cộng đồng xã hội.

Chân lý – ngọn đuốc Chân – Thiện – Mỹ đã và sẽ không bao giờ ngừng giúp con người chúng ta mở rộng tấm lòng cao thượng, tránh những tình cảm cá nhân ích kỷ buồn giận nhỏ nhen dẫn tới sự thấp hèn và thù hận.

Đừng ngại, đừng lảng tránh những nỗi buồn. Người đời vẫn luôn phân biệt: nỗi buồn đi lên – nỗi buồn đi xuống (tiêu cực hai tay buông xuôi). Những nỗi buồn chân chính đều hướng về hạnh phúc tương lai về cái đẹp… Bởi vậy con người mới cần biết suy nghĩ chấp nhận vượt qua mọi trắc trở để đi lên trong tiếng đời đã có bao nhiêu khúc nhạc buồn gợi cho ta sức sống… – mới gọi là biết khóc, biết buồn. Và biết vui nữa.

Sài Gòn, tháng 4/2017

Phạm Thanh Tâm
(Bạch Đằng, Tân Bình)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 451