XEM BÁO GIẤY
Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Những người “vĩ đại…”

(Tiếp theo Văn nghệ TP.HCM, số 439, ngày 2-3-2017)

Tiến sĩ Nguyễn Bá Thành – Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội) viết:

“Gia Long – Nguyễn Ánh và Quang Trung – Nguyễn Huệ đều yêu nước và đều cứu nước nhưng theo quan niệm khác nhau, nên đã trở thành đối thủ tiêu diệt của nhau, mặc dù cả hai đều là những vị vua có công lao đối với đất nước”.

(Toàn cảnh Thơ Việt Nam 1945-1975. NXB Đại học Quốc gia Hà Nội – 2015. Tr.50)

Quan niệm khác nhau về yêu nước và cứu nước không phải là cứu cánh của vấn đề. Có sự khác nhau là đương nhiên. Nhưng khác nhau đến độ tiêu diệt nhau thì đã chuyển hóa phương tiện thành cứu cánh. Điều đó là vô lý về nhận thức và thực tiễn. Chỉ có hai con dê mới xem chuyện qua cầu vượt suối là phụ. Quyết một mất một còn, không chịu nhường nhau. Thà chết cho phương tiện, không hy sinh cho cứu cánh. Có thể hiểu nhận thức luận của TS.

Nguyễn Bá Thành như thế. Và thực tiễn lịch sử chứng minh điều đó.

Yêu nước theo quan niệm truyền thống là trừ bạo yên dân (Nguyễn Trãi), cứu đời giúp dân, kinh bang tế thế… Tu tề trị bình là đạo của bậc quân tử.

Ta xem Nguyễn Ánh đã trừ bạo yên dân, cứu đời giúp dân như thế nào. Nguyễn Ánh đã yêu nước như thế nào.

Có thể khẳng định Nguyễn Ánh yêu ngôi vị của dòng tộc, quyền lợi của vương triều, yêu cái ngai vàng trước khi yêu nước. Sự nghiệp của Nguyễn Ánh là gây bạo hiếp dân thậm chí phản quốc… để tranh đoạt lấy ngôi vị vương triều. Nguyễn Ánh tiếp tục sự nghiệp đó của cha ông mình. Và trong “sự nghiệp” này thì cả hai dòng họ Trịnh và Nguyễn là thủ phạm gây nên sự đau khổ cho nhân dân cả nước suốt 200 năm.

Vua-Gia-Long-thoi-gian-o-Xiem
Vua Gia Long thời gian ở Xiêm

Giữa hoàn cảnh đất nước phân ly, dân lành khốn khổ như thế thì cuộc khởi nghĩa Tây Sơn do anh em Nguyễn Huệ khởi xướng, lãnh đạo là đáp ứng được đòi hỏi bức thiết của dân chúng, của đất nước. Đó là một sự nghiệp chính nghĩa, tiến bộ. Cứu cánh của Nguyễn Huệ là đất nước, là dân tộc trước khi là quyền lực. Chiếu lên ngôi cũng như võ công và khát vọng của ông đã nói lên điều đó: đánh cho nó biết nước Nam này có chủ… Nguyễn Huệ có khát vọng thu phục lại những vùng lãnh thổ bị ngoại bang cướp đoạt trước đây. Nhưng cái chết bất ngờ của ông đã làm chuyển hướng lịch sử. Dẫu vậy, sự nghiệp trừ bạo yên dân, đánh tan quân can thiệp ngoại bang, khẳng định ý chí độc lập dân tộc mà Nguyễn Huệ đã cống hiến cho lịch sử dân tộc là không bao giờ phai nhạt, ông là một trong những vị anh hùng dân tộc xứng danh nhất, sau những Lý Thường Kiệt, Trần Nhân Tông, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Trãi…

Nguyễn Ánh có hành động cứu nước không?

Thế nào là cứu nước?

Dựng nước và giữ nước, là quy luật của lịch sử Việt Nam từ khởi thủy đến nay. Khi đất nước bị nạn ngoại xâm, ngoại bang thống trị, các bậc anh hùng hào kiệt đã đứng lên tổ chức lãnh đạo nhân dân chiến đấu giành lại độc lập tự chủ cho đất nước. Từ Hai Bà Trưng cho đến Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh là lịch sử cứu nước, lịch sử của những anh hùng cứu quốc.

Thời kỳ Nguyễn Ánh không có nạn ngoại xâm mà chỉ có bọn can thiệp ngoại bang, một do Nguyễn Ánh chủ mưu đưa vào, với sự cầu viện quân Xiêm. Một do Lê Chiêu Thống cầu viện quân Thanh.

Đó là một hành động bán nước rất rõ ràng. Món nợ máu với hàng vạn người Xiêm, Nguyễn Ánh sẽ trả vào đâu, nếu như Nguyễn Ánh thắng cuộc đó. Đương nhiên là phải đem lợi ích dân tộc ra mà trả. Rõ ràng Nguyễn Huệ đã cứu đất nước, cứu dân tộc khỏi hai khoản nợ quốc gia bằng máu. Còn Nguyễn Ánh là kẻ gây ra món nợ đó. Sao có thể nói Nguyễn Ánh yêu nước, cứu nước, có công với nước như Nguyễn Huệ được?

Hành động bán nước thứ hai của Nguyễn Ánh là Hiệp ước với nước Pháp do Bá Đa Lộc làm trung gian. Nội dung chính của Hiệp ước là Pháp giúp cho Nguyễn Ánh bốn chiến thuyền với 1.500 binh lính cùng vũ khí để chống lại Nguyễn Huệ. Phía Nguyễn Ánh nhượng hẳn cho Pháp đảo Côn Lôn (Côn Đảo), cửa biển Hội An, Đà Nẵng (?)… Nếu Hiệp ước này được thực hiện và Nguyễn Ánh có chiến thắng được Nguyễn Huệ thì số phận của Nguyễn Ánh cũng sẽ được định đoạt tiếp đó không lâu. Bởi khi đã đứng chân được ở những vị trí đầu cầu thì quân Pháp có dừng lại “tôn trọng lẫn nhau” không? Sự kiện 1847, tàu chiến Pháp vô cớ bắn chìm chiến thuyền của nhà Nguyễn ở Đà Nẵng và tiếp tục cuộc xâm lược Việt Nam cho đến khi nhà Nguyễn đầu hàng hoàn toàn… đã chứng tỏ Nguyễn Ánh thật sự là cõng rắn về nhà. Hiệp ước đó tuy không được thực hiện nhưng Nguyễn Ánh đã để lộ điểm yếu chết người trên phạm vi quốc gia. Người Pháp không cần phải có tình báo chiến lược mà chính Nguyễn Ánh đã cung cấp cho họ một thông tin đưa đến mất nước: Nguyễn Ánh hành động chỉ vì lợi ích cá nhân, dòng tộc, không phải vì quốc gia. Khi cần có thể bán cả một phần quốc gia. Hàn toàn không có lý tưởng quốc gia dân tộc mà chỉ là vụ lợi dòng tộc… Một đối thủ như thế thì không khó khăn gì để gây hấn và đè bẹp. Và lịch sử đã diễn ra như thế. Con cháu Nguyễn Ánh, để giữ lấy ngôi vị, đã đầu hàng từng bước, đến đầu hàng toàn bộ, chấp nhận thân phận bù nhìn cho đến chung cuộc. Trước khi nhắm mắt, Nguyễn Ánh dặn lại con cái: “Con hãy thương yêu người Pháp, phải biết ơn những gì họ đã làm cho chúng ta. Nhưng đừng bao giờ để cho họ đặt chân lên đất nước chúng ta”. Thì đã quá muộn. Đã để lộ thiên cơ cho họ mất rồi! (Chế độ thực dân Pháp… – Nguyễn Đình Tư. NXB Tổng hợp, TP.HCM 2016. Tập I. Tr.11)

Chan-dung-vua-Quang-Trung---Nguyen-Hue
Chân dung Vua Quang Trung – Nguyễn Huệ

Về phương diện này, Nguyễn Ánh là thủ mưu tội phản quốc, kéo dài cho đến Bảo Đại. Hậu quả tai hại cả vật chất, xương máu lẫn tinh thần mà Nguyễn Ánh gây ra – tinh thần bạc nhược ươn hèn – là vô cùng to lớn. Đất nước do bao thế hệ tạo dựng được, con cháu Nguyễn Ánh đã dâng cho ngoại bang. Có được đất nước hôm nay là nhờ cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Giành lại đất nước từ tay giặc ngoại xâm. Pháp chạy. Nhật hàng. Mỹ cút. Ngụy nhào… Đâu phải các chúa Nguyễn, Nguyễn Ánh và vương triều Nguyễn trực tiếp để lại cái gói “thơm thảo” cho con cháu.

Nguyễn Ánh – Gia Long có công thống nhất đất nước như thế nào?

Khi Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế, kéo quân ra Bắc đánh tan đạo quân Thanh do Tôn Sĩ Nghị chỉ huy. Chiến công Đống Đa đã đưa uy tín của Hoàng đế Quang Trung lên đến đỉnh cao. Vua Càn Long nhà Thanh đã phải ngậm bồ hòn làm ngọt khi cho vị Quang Trung giả làm lễ ôm gối. Phía Nam, quân Xiêm đã tan tác trước đó. Nước Việt Nam lúc ấy cơ bản đã thống nhất. Phía Bắc giao cho các tùy tướng trung thành. Phía Nam giao cho các anh Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ. Nguyễn Huệ đóng đô ở Phú Xuân. Nguyễn Ánh lúc bấy giờ phải lẩn trốn ở các đảo phía Tây Nam. Nguyễn Huệ mong được lấy 10 năm nuôi dưỡng lực lượng thì ông không sợ gì quân giặc Bắc và ông mưu tính khôi phục lại các vùng đất bị giặc phương Bắc chiếm đoạt trước đó. Nhưng cái chết đột ngột của người anh hùng vĩ đại đã làm thay đổi lịch sử. Sau khi Nguyễn Huệ mất, nội bộ nhà Tây Sơn lục đục. Đã bất tài lại bất hòa. Thừa cơ đó Nguyễn Ánh bình lại được. Khi đã chiếm lại được ngôi vị, đất đai, đương nhiên Nguyễn Ánh phải tổ chức lại công cuộc cai trị, tổ chức lại nền hành chính quốc gia. Nói Nguyễn Ánh thống nhất được đất nước là trong hoàn cảnh đó. Thực chất là thừa hưởng lại những cơ sở nền tảng của một quốc gia thống nhất mà Quang Trung – Nguyễn Huệ đã khai phá, sáng lập.

Vua-Quang-Trung-trong-tranh-dan-gian
Vua Quang Trung trong tranh dân gian

Nhìn lại diễn tiến của lịch sử từ khi Nguyễn Ánh lên ngôi với niên hiệu Gia Long (1802), ta không phủ nhận những công việc Gia Long đã làm được trong khi cai trị quốc gia và cũng giữ được sự yên ổn cho quốc gia gần 20 năm (1802-1820). Và chỉ 30 năm sau, cái hậu họa mà Gia Long rước vào – Hiệp ước do Bá Đa Lộc làm trung gian – đã trở thành tai họa. Quân Pháp ngang ngược đánh chiếm và con cháu Nguyễn Ánh đã đầu hàng. Nước mất hoàn toàn vào tay người Pháp. Nam Triều chỉ là bù nhìn. Xứ Đại Nam Trung kỳ mang tiếng là tự trị nhưng dưới quyền điều khiển của Tòa Khâm sứ. Nguyễn Ánh không đầu hàng người Pháp nhưng đã bộc lộ bản chất thấp hèn mà người Pháp nắm được để gây hấn xâm lược. Nguyễn Ánh chung sống được với ngoại bang vì ngôi vị vương triều nhưng không thể chung sống được với đồng bào mình khi mất ngôi vị vương triều. Có thể tóm tắt về Gia Long – Nguyễn Ánh như thế.

Gần đây Nguyên Ngọc hết sức bênh vực Tự Đức và vương triều Nguyễn trong việc để mất nước. Cho rằng căn bệnh “bản thể” của Việt Nam lúc ấy là lạc hậu, yếu kém, thua xa phương Tây cả một thời đại. Bị xâm lược và mất nước là một tất yếu, một định mệnh. Và chỉ có bài thuốc dân trí dân khí… mới cứu được nước. Đó là lập lại Phạm Quỳnh. Phạm Quỳnh cho rằng sự xâm chiếm của Pháp là định mệnh lịch sử. Sự hiện diện của người Pháp là tất yếu chính trị. Rằng phải được học để hiểu trách nhiệm làm người tự do, để có ý chí tự do. Có ý chí rồi không ai cướp được tự do. A.Q lạy cụ! Đó là chủ nghĩa đầu hàng, là ru ngủ dân chúng an phận chấp nhận sống nô lệ.

Ca ngợi Gia Long, đặt Gia Long yêu nước cứu nước, có công với nước cũng như Nguyễn Huệ… là cố tình đổi trắng thay đen, xuyên tạc lịch sử, dối trá một cách ngang ngược, bất chấp đạo lý đời sống và học thuật. Đáng lo ngại là tư tưởng bênh vực cho chủ nghĩa đầu hàng lại có ở giáo trình của một giảng viên đại học. Sẽ ảnh hưởng như thế nào đến các thế hệ học sinh – sinh viên. Với những người mưu toan lãng quên thành tựu của công cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, xin đọc mấy dòng này:

Chúa ngục hỏi: Ông không phải là đảng viên cộng sản, ông mắc nợ gì với Hồ Chí Minh mà không chịu hô đả đảo?

Già Ngọc bình tĩnh đáp: Tôi mắc nợ Cụ Hồ Chí Minh đã đem lại độc lập tự do cho nước Việt Nam.

(Trần Văn Giàu. Lời giới thiệu. Lịch sử nhà tù Côn Đảo. NXB Tổng hợp, TP.HCM 2015. Tr.13)

TP. Hồ Chí Minh, 26-2-2017

Quan Văn Đàn
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 440

Ý Kiến bạn đọc


Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Những người “vĩ đại…”

Ông Nguyễn Đức Thành viết:

“Gần đây, từ trong ngôi đền thiêng của những nhân vật kiệt xuất nhất của lịch sử Việt Nam, Giáo sư Trần Đức Thảo cùng với những người đồng hương vĩ đại khác của ông, những Mạc Đĩnh Chi, Lương Thế Vinh, Trương Vĩnh Ký… hẳn đang trìu mến nhìn ra bên ngoài…”

(Bìa gấp – Triết gia Trần Đức Thảo. NXB Đại học Huế, 2016)

Nói tóm tắt như thế bạn đọc sẽ không được chiêm ngưỡng cụ thể sự vĩ đại của họ. Vì trong Triết gia Trần Đức Thảo (Di cảo, Khảo luận, Kỷ niệm) không nói đến Trương Vĩnh Ký. Nên xin được tóm tắt cụ thể về sự vĩ đại của mỗi người.

Trương Vĩnh Ký (khoảng 1837-1898)

Truong-Vinh-Ky
Trương Vĩnh Ký

Từ năm lên 9 tuổi được một cố đạo người Pháp nuôi và đưa vào học ở các trường Dòng ở Cao Miên và Mã Lai, cho đến năm 23 tuổi (1860) ra làm thông ngôn cho Soái phủ Nam kỳ, tức quân đội Pháp. Trương Vĩnh Ký làm thông ngôn cho phía Pháp trong chuyến Phái bộ Phan Thanh Giản sang Pháp xin chuộc lại 3 tỉnh miền Đông. Kết quả chuyến đi của Phái bộ Phan là xôi hỏng bỏng không.

Khoảng 1885, được Toàn quyền Paul Bert đưa về Nam triều, sung vào Cơ mật viện với nhiệm vụ thường xuyên bên cạnh tên vua bù nhìn Đồng Khánh. Đồng Khánh chết, Paul Bert cũng chết, Trương Vĩnh Ký về Sài Gòn, được giao phụ trách tờ Gia Định báo, tờ công báo của chính quyền thực dân, vừa dạy học và viết sách, chết năm 1898.

Trương Vĩnh Ký bẩm sinh thông minh. Trong thời gian ở các trường Dòng, đã học, biết được nhiều ngoại ngữ. Trong tác phẩm của Trương Vĩnh Ký, đáng kể là loại sách “Cẩm nang giao dịch”, được một người Pháp ca ngợi: “Trương Vĩnh Ký là một tác giả có công rất lớn đối với người Pháp đầu tiên học tiếng An Nam”. Loại nghiên cứu truyền thống bản xứ như truyện dân gian hay dịch Truyện Kiều từ chữ Nôm sang chữ quốc ngữ… đều nằm trong chủ trương của người Pháp là nghiên cứu để cai trị mà chính Trương Vĩnh Ký đã tự nhận trong thư gửi Soái phủ Nam kỳ ngày 12-11-1882: “… Làm công tác này (in sách) ý định của tôi là chứng tỏ cho các ông thấy trong số 13 tác phẩm do tôi ấn hành cho đến ngày hôm nay, tôi không bao giờ đi lệch mục đích chính và trực tiếp mà tôi đã đề nghị và trước đây tôi có dịp đã trình bày cho Nhà nước cũng như Ủy ban cứu xét các tác phẩm của tôi. Mục đích này là sự biến cải và đồng hóa dân tộc An Nam”.

Cuộc đời Trương Vĩnh Ký nằm trọn vào thời kỳ Pháp bắt đầu xâm lược và bình định xong toàn cõi Việt Nam. Gọi là thời kỳ loạn lạc của đất nước cũng đúng, vì có nạn ngoại xâm và cuộc chống ngoại xâm. Nước loạn mới biết tôi trung. Trương Vĩnh Ký hoàn toàn không trung với nước, với mảnh đất đã sinh ra ông, mảnh đất của ông bà tổ tiên để lại. Cụ thể là:

- Trương Vĩnh Ký trung với Chúa của ông. Mà Chúa đó hiện diện cụ thể thời kỳ đó là nước Pháp, người Pháp.

Trong khi Phái bộ Phan Thanh Giản thất bại trở về thì Trương Vĩnh Ký được nước Pháp yêu quý: “Tôi không thể nào quên được lòng biết ơn với chính phủ chẳng những đã chiếu cố đến đứa con dưỡng tử mà lại đem đến nguồn hạnh phúc tràn trề, nhất là lòng tin cẩn”.

Hoạt động của Trương Vĩnh Ký khi làm thông ngôn cho phía Pháp trong sự kiện Phái bộ Phan Thanh Giản ở Paris không thấy nói đến trong sử liệu. Có thể người Pháp xếp vào loại vĩnh viễn tối mật không bao giờ đáo hạn khai thác. Nhưng Trương cảm thấy hạnh phúc tràn trề, nhất là lòng tin cẩn hẳn hàm chứa một nội dung chúng ta có thể đoán biết: Viên thông ngôn này đã làm tất cả những gì để có lợi cho nước Pháp. Sự thất bại của Phái bộ Phan Thanh Giản hẳn có phần “đóng góp” quan trọng của Trương Vĩnh Ký.

- Đối với phong trào chống Pháp của nhân dân ta bấy giờ, Trương Vĩnh Ký đã chống lại bằng cách đứng hẳn về phía người Pháp:

• Tôi sẽ trấn áp những hãnh thần (tức những người có lập trường yêu nước) và sẽ bao vây lấy nhà vua…

• Những bọn phiến loạn không đáng sợ…

• Tôi đang lo tiếp xúc để cung cấp cho ngài những tin tức chính trị hữu ích. Tôi hết lòng tán đồng dự án hoàn mỹ của ông Pène về công cuộc bình định… Như sứ giả tiên khu của Chúa, tôi dọ đường cho ngài… (Báo cáo cho Paul Bert ngày 10-5-1886).

• Trong chuyến đi Bắc kỳ năm 1876, Trương Vĩnh Ký khuyên sĩ phu Bắc Hà nên đầu hàng Pháp:

“… Tất cả quý vị đều phải thấy rằng nếu nhà cầm quyền Pháp có ý xâm chiếm xứ này, họ đã có thể làm việc ấy từ lâu, một cách dễ dàng không cần bàn cãi gì cả. Quý vị phải thấy rằng quý vị là những kẻ yếu, thật sự quá yếu, cần sự giúp đỡ của ai đó để gượng dậy. Và tốt hơn, chi bằng quý vị chỉ nên tin tưởng vào những người bạn đồng minh tiếng tăm của quý vị và phải dựa vào họ một cách thành thật để đứng lên, nhưng phải thẳng thắn, không hậu ý, không mưu tính kín đáo, dang cả hai tay ra với họ…”.

(Báo cáo gửi Đô đốc Duperré sau chuyến đi Bắc kỳ ngày 28-4-1876)

• Đồng hóa (người An Nam) chỉ có thể thực hiện được bằng giáo dục và học vấn.

(Thư gửi Soái phủ Nam kỳ ngày 12-11-1882)

Tóm lại:

“Nhìn lại toàn bộ trứ thuật của Trương Vĩnh Ký từ 1864 đến 1894 hẳn thấy những chính sách đó không đi ra ngoài chủ đích nghiên cứu để cai trị của người Pháp”

(Nguyễn Sinh Duy – Cuốn sổ bình sinh – Nam Sơn – Sài Gòn phát hành tháng 3-1975)

Giáo Sư Trần Đức Thảo

Sinh năm 1917 tại Thái Bình. Nguyên quán xã Châu Khê, Từ Sơn, Bắc Ninh. Mất năm 1993 tại Paris (Pháp).

Gs-Tran-Duc-Thao
Gs Trần Đức Thảo 

Năm 1923 vào học Trường Albert Saraut tại Hà Nội. Năm 1936 được học bổng, sang Paris thi vào Trường Đại học Sư phạm phố d’Ulm. Năm 1943, đỗ Thạc sĩ Triết học và đăng ký làm luận án tiến sĩ nhà nước về Hiện tượng luận của Husserl. Năm 1944-1946, tham gia nghiên cứu tại Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Quốc gia Pháp (CNRS). Cuối năm 1944, lãnh đạo phong trào Việt kiều ở Pháp. Giữa năm 1945, do hoạt động ủng hộ kháng chiến ở Việt Nam, ông bị nhà cầm quyền bắt giam vào nhà ngục Santé. Cuối năm 1950, ông nổi tiếng về cuộc tranh luận với Sartre. Sau 5 buổi tranh luận, Sartre đã phải ngừng lại. Năm 1951, ông trở về nước tham gia kháng chiến. Năm 1953, là một trong những sáng lập viên Ban Văn – Sử – Địa, tiền thân của Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội hiện nay. Năm 1955, giảng dạy tại Đại học Sư phạm Hà Nội, đồng thời là Phó Giám đốc Đại học Văn khoa. Năm 1956, tham gia dịch các tác giả kinh điển tại Nhà xuất bản Sự thật. Sự cố Nhân văn – Giai phẩm (1956-1958) có làm gián đoạn công tác nghiên cứu của ông một thời gian. Nhưng ông nhanh chóng trở lại con đường nghiên cứu miệt mài lặng lẽ với những khám phá đặc sắc về triết học.

Năm 1986, GS. Trần Đức Thảo chuyển vào TP. Hồ Chí Minh. Năm 1991, Giáo sư được Ban Bí thư Trung ương Đảng cử sang Cộng hòa Pháp để hoàn thiện các công trình triết học.

Giáo sư Trần Đức Thảo qua đời ngày 24-4-1993 tại Paris. Ông được truy tặng Huân chương Độc lập hạng Nhì vào ngày 27-4-1993 và Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học và công nghệ năm 2000.

Theo thư mục chọn lọc trong Triết gia Trần Đức Thảo thì bằng tiếng Pháp, là 30 công trình. Và bằng tiếng Việt cũng chừng ấy công trình. Đối với nhà khoa học thì số trang viết hay số lượng công trình nói lên sức làm việc của họ. Nhưng quan trọng hơn, là giá trị khoa học của công trình. Đây là điều rất thú vị khi khảo sát giá trị khoa học của Trương Vĩnh Ký và Trần Đức Thảo. Nhưng trước khi khảo sát vấn đề thú vị này, chúng ta hãy khảo sát tính nhân văn nhân bản của nhà khoa học mà biểu hiện cao nhất là thái độ đối với Tổ quốc, đối với đồng bào.

GS. Trần Đức Thảo ngay khi đang nghiên cứu khoa học trên đất Pháp, ông đã tham gia phong trào Việt kiều yêu nước. Là một trong những người lãnh đạo phong trào và thảo ra Cương lĩnh Avignon tháng 12-1944, đòi dân chủ cho Đông Dương. Vào đầu năm 1945, khi Nhật hất cẳng Pháp, ông đã phản đối việc Nhật bày trò trao trả độc lập cho bọn bù nhìn thân Nhật. Ông 1946, ông tham gia phái đoàn đón tiếp Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sang Hội nghị Phong-ten-nơ-blô. Ông đã gặp Hồ Chủ tịch và hứa sau khi hoàn thành Luận án Tiến sĩ triết học sẽ trở về tham gia kháng chiến. Khi tướng Leclerc đưa quân sang Việt Nam, có nhà báo hỏi ông về thái độ của Việt Nam sẽ như thế nào, ông trả lời sẽ đón tiếp bằng tiếng súng (à coups de fusil!). Do sự kiện này mà nhà cầm quyền Pháp bắt giam ông vào ngục Santé 3 tháng.

“Tôi ra làm chính trị cuối năm 1944 vì nghĩa vụ dân tộc” (Triết gia Trần Đức Thảo. Báo cáo bổ sung lý lịch. Sđd. Tr. 27)

“… ngay từ 1946, khi thấy chính phủ Pháp nhất định đánh ta, tôi đã kiên quyết rút khỏi Trung tâm Nghiên cứu khoa học Pháp (CNRS). Sau đấy thì tôi sống rất vất vả bằng cách dạy tư và viết bài…”. (Sđd. Tr.26). Chính trong thời kỳ này ông đã đi gần tới chủ nghĩa Mác – Lênin.

Đến 1950, qua tranh luận với Sartre, chúng ta thấy Trần Đức Thảo đã tiến sâu vào triết học Marx như thế nào. Chính vì vậy, dù Luận án đã viết xong, nhưng không thể bảo vệ được:

“Vì ngày ấy trường đại học Pháp không thể nào chấp nhận phần thứ 2 (của Luận án) là phần đã đi gần với chủ nghĩa Marx, mà đối với họ thì đã là hoàn toàn mác-xít… Họ cũng bảo tôi rằng, nếu cứ hạn chế ở phần thứ nhất là phần trình bày chủ nghĩa hiện tượng của Husserl thì họ tiếp thu được… Nhưng tôi kiên quyết công bố tất cả, và như thế là từ bỏ cái bằng Tiến sĩ.

Đó là sự hy sinh của tôi, vì chân lý và vì kháng chiến của ta đương tiếp diễn.

Chừng ấy, ta thấy rõ thái độ của GS. Trần Đức Thảo đối với Tổ quốc. Và càng thấy nhân cách trí thức của ông. Chân lý khoa học và vận mệnh Tổ quốc cao hơn mọi thứ bằng cấp.

Đáng chú ý là thái độ đối với Tổ quốc của Trần Đức Thảo không phải là tình cảm bồng bột mà có nguồn gốc sâu xa từ nhận thức khoa học. Trong công trình Về cái cơ bản chung của lịch sử dân tộc, phần Nội dung cơ bản của tính cộng đồng dân tộc, ông viết:

“Nội dung cơ bản của tính cộng đồng của dân tộc là quyền sở hữu cộng đồng về địa bàn đất đai: đất nước là của chung dân tộc… Do đấy, một dân tộc bị giặc ngoại xâm chiếm đóng, thì bao giờ cũng có quyền chiến đấu, để giải phóng đất đai của mình”.

(Triết gia Trần Đức Thảo. Sđd. Tr.567)

Tinh thần yêu nước của Trần Đức Thảo bắt đầu từ truyền thống dân tộc (1944), chân lý khoa học (1951), được củng cố sâu sắc hơn về triết học (1977).

Trung thành với lý tưởng khoa học và xã hội

Dù phải trải qua vô vàn gian khổ, đau khổ… GS. Trần Đức Thảo vẫn trung thành với lý tưởng khoa học của mình: Đó là chủ nghĩa Mác. Suốt đời ông trung thành với Mác và nghiên cứu để khẳng định và phát triển tư tưởng của Mác.

Qua mấy buổi tranh luận với Sartre ông đã nhận ra thực trạng hiểu biết hời hợt về Mác và nguy cơ xuyên tạc Mác. Chính ông đã thừa nhận những sai lầm khi còn bị ảnh hưởng của chủ nghĩa Mác qua sự biến dạng ở Stalin và Mao Trạch Đông:

“Vì không đi xa hơn triết học của Stalin, nên trong tất cả những công trình nghiên cứu của tôi những năm 60, 70 và đầu 80, in trong La Pensée, La Nouvelle Critique và Éditions Sosiales, tôi đã mắc nhiều sai lầm khoa học, xuất phát từ quan điểm siêu hình chiết trung của Stalin.

Quan điểm triết học cực kỳ sai lầm của Stalin – Mao, đi đôi với cái bệnh sùng bái cá nhân, là nguồn gốc của những khó khăn và sai lầm của ta. Mãi đến 3, 4 năm nay, với phong trào đổi mới, cải tổ tôi mới bước đầu khắc phục khó khăn. Điều ấy cũng chứng minh rằng chủ nghĩa Mác – Lênin là căn bản đúng. Một khi khắc phục được lý luận trái ngược của Stalin, thì chủ nghĩa Mác – Lênin nhân bản chân chính sẽ mở đường cho sự phục hưng của loài người, tiến lên chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản”.

(Triết gia Trần Đức Thảo. Sđd. Tr.43)

Tác phẩm Tìm cội nguồn ngôn ngữ và ý thức của ông (xuất bản năm 1973) được đánh giá là tác phẩm lớn của một nhà triết học lớn, đã sáng tạo ra triết học duy vật biện chứng nhân bản.

(TS. Cù Huy Chữ. Triết gia Trần Đức Thảo. Tr.443)

Sơ lược về hai nhân vật lịch sử này, ta có thể rút ra một vài nhận xét:

• Về tinh thần dân tộc, thái độ đối với Tổ quốc: Trương Vĩnh Ký hoàn toàn đối lập với Trần Đức Thảo.

Trần Đức Thảo thật sự yêu nước, hy sinh cho Tổ quốc thì Trương Vĩnh Ký là một người vong bản, vong quốc hoàn toàn. Về danh nghĩa, Trương Vĩnh Ký dâng Tổ quốc của ông cho Chúa của ông. Về thực chất, ông dâng Tổ quốc của ông cho người Pháp. Ông phục vụ cho người Pháp trong công cuộc xâm lược Tổ quốc của ông.

Trần Đức Thảo ra làm chính trị vì nghĩa vụ dân tộc, còn Trương Vĩnh Ký phục vụ cho giặc ngoại xâm áp bức dân tộc!

• Về học thuật: Cũng hoàn toàn đối lập.

Trần Đức Thảo đem tri thức của mình ra cống hiến cho chân lý khoa học và cho Tổ quốc trong công cuộc đấu tranh giành độc lập, giành quyền bình đẳng dân tộc. Còn Trương Vĩnh Ký thì đem tri thức của mình ra phục vụ cho kẻ thù dân tộc. Toàn bộ tác phẩm của Trương, như tự bộc lộ, là nhằm mục đích biến cải và đồng hóa người An Nam.

Triết học của Trần Đức Thảo đã là và sẽ là công cụ nhận thức cho dân tộc và nhân loại trên hành trình phục hưng, xây dựng xã hội mới thật sự tự do, nhân bản. Còn Trương có gì? Chúng ta ghi nhận trí thông minh và sức viết của Trương. Nhưng đối với kẻ sĩ, dẫu ở thời nào, đem cái tài ra làm đẹp cho dân cho nước mới là tài năng học thuật chân chính. Trương là một thứ ngụy học thuật, phản dân phản quốc phản Chúa. Chúa lòng lành không bao giờ tha tội cho một con chiên về hùa với bọn giặc cướp nước, đàn áp đồng bào mình.

Xin trân trọng nhắc lại lời của GS. Trần Đức Thảo:

“Nguyên lý chung mà ta sẽ dựa vào để phân tích cái gì có giá trị, cái gì không có giá trị là: đặt mọi giá trị tinh thần trong công cuộc lao động và đấu tranh của nhân dân. Cái gì phản ánh đúng đắn công cuộc đó đều có giá trị”.
(Lịch sử tư tưởng trước Mác. Triết gia Trần Đức Thảo. Sđd. Tr.163).

(Còn tiếp)

TP. Hồ Chí Minh – Xuân Đinh Dậu – 2017

Quan Văn Đàn
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 438

_____________________________

• Những trích dẫn về Trương Vĩnh Ký dựa theo bài “Chật chội hay rộng rãi đều từ con mắt và cái đầu” của Cao Đức Trường, Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh, số 377, ngày 29-10-2015.

Ý Kiến bạn đọc