Tản văn

Những người mang họ Bác Hồ

Còn nhớ cách đây mấy năm, khi lần đầu gặp Hồ Trung Hiếu, tôi đã không nghĩ anh là người Vân Kiều. Ở người Bí thư Đảng ủy xã gần tuổi 60 này có một nét gì đó mà ngay từ phút đầu gặp gỡ tôi đã nhầm tưởng anh là một cán bộ người Kinh từ dưới xuôi lên vùng cao này công tác. Hồ Trung Hiếu có nụ cười thật rạng rỡ và khuôn mặt phúc hậu. Tôi có cảm tưởng cái chất lịch lãm, hào hoa của một nhà giáo vẫn như còn nguyên vẹn trong anh. Chả thế mà khi tiếp xúc với bà con dân bản, tôi đã nghe nói rằng, ở ba xã miền núi Vĩnh Linh là Vĩnh Ô, Vĩnh Khê, Vĩnh Hà này, đồng bào Vân Kiều vẫn trìu mến gọi anh là thầy Hiếu. Và ngay cả lúc anh đang ngồi nói chuyện với tôi, một số cán bộ ủy ban xã, khi có việc cần trao đổi với anh, họ đều lễ phép gọi anh là thầy. Thì ra họ đều là học sinh cũ của anh từ mười, mười lăm năm trước.

Anh Hiếu nói rằng, dạy học là quãng đời vui nhất của anh. Hồi đó, anh là một trong số không nhiều học sinh người Vân Kiều ở Vĩnh Linh được chọn đi học sư phạm ở huyện Tân Kỳ, Nghệ An. Ra trường, anh tình nguyện trở về quê hương dạy học cho con em dân bản. Bằng cả tấm lòng yêu nghề và bằng cả trái tim khao khát bỏng cháy được hằng ngày đem cái chữ đến cho con em dân bản, Hồ Trung Hiếu đã gắn bó một mạch gần 20 năm với nghề dạy học. Đến ngày rời bục giảng nghỉ chế độ, anh lại tham gia ngay với công tác ở Ủy ban Nhân dân xã, rồi được bầu làm Bí thư Đảng ủy xã Vĩnh Hà quê anh từ gần 10 năm nay. Nói chuyện với Hồ Trung Hiếu, tôi

hào hùng của những bước chân ông cha quật khởi giành lấy điều thiêng liêng nhất cho đất nước: độc lập, tự do.

Giai điệu tự hào cứ ngân vang lòng tôi!

Sài Gòn rợp sắc thu. Những ngả đường như mở ra thênh thang, những tượng đài như thêm ấn dấu lịch sử của dân tộc. Một đất nước “sáng chắn bão giông, chiều ngăn nắng lửa” nhưng vẫn không ngừng vươn vai đứng dậy.

Tôi chậm bước đến công viên 23-9 rồi công viên Lê Văn Tám, bến Bạch Đằng…, những cái tên ghi đậm những bước ngoặt của lịch sử Tổ quốc. Cách mạng tháng Tám vùng lên và thắng lợi mở ra một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của độc lập, tự do và hơn hết là tên nước Việt Nam đã đường hoàng có tên trên bản đồ thế giới. Giọng của Bác như còn sáng mãi, ấm mãi vọng trên lễ đài Ba Đình vang vọng lời “Tuyên ngôn Độc lập”.

nhận thấy ở anh có một sự hiểu biết khá sâu rộng về truyền thống quê hương, dân tộc mình. Bởi vậy, ngoài chuyện làm ăn bây giờ, anh còn kể cho tôi nghe nhiều chuyện về người Vân Kiều quê anh đánh giặc năm xưa mà chuyện nào cũng hấp dẫn, cuốn hút tôi.

Anh Hiếu kể, ngày xưa khi giặc Pháp còn đô hộ nước ta thì rừng núi, bản làng này đều bị chúng cai quản, chiếm đóng. Suốt ngày chúng cho quân đi càn quét, lùng sục, tìm bắt cán bộ Việt Minh từ dưới xuôi lên đây ẩn náu hoạt động. Quân Pháp đi đến đâu là đốt nhà, cướp của, giết người đến đấy. Người Vân Kiều từ già, trẻ, gái, trai đều phải bỏ làng bản, ruộng nương, sống chui lủi, lén lút trong rừng sâu. Họ phải ăn rau rừng, măng tre trừ bữa quanh năm. Ai cũng căm thù giặc Pháp và ai cũng muốn vùng lên đánh đuổi chúng. Vậy rồi ở một bản nọ thuộc xã Vĩnh Khê đã có một người đàn ông Vân Kiều dũng cảm đứng lên kêu gọi nhân dân đi theo Việt Minh chống Pháp. Người đàn ông ấy không ai biết tên gì chỉ thấy gọi là ông Tóc Bối. Người Vân Kiều đồn nhau rằng, ông Tóc Bối có khổ người cao to, vạm vỡ, khuôn mặt tuấn tú, phương phi. Tiếng ông nói vang như chiêng, rền như sấm. Lông mày và râu ông rất đen và rậm. Còn tóc ông thì để dài, bối thành một bối to sau gáy nên mới có tên gọi là ông Tóc Bối. Ông Tóc Bối nổi tiếng là người khỏe mạnh và thạo cung nỏ. Ông có thể dùng tay không quật chết một con bò và bắn cung trăm phát trăm trúng. Ông Tóc Bối quy tụ trai tráng Vân Kiều trong tất cả các bản làng lại

Nhờ sắc đỏ vàng sao của cờ tôi giật mình, sống chậm và nghe ngẫm lại từng tên con đường, góc phố, tên từng công viên ở Sài Gòn để nghe dòng nhiệt huyết của tuổi 20 rực lửa, bừng sáng mãi trong bạn, trong tôi.

Công viên 23-9 gần chợ Bến Thành sáng nay có một ông thương binh bên đôi nạng gỗ. Ông đang cùng mấy cháu nhỏ ngồi bên băng ghế rợp bóng cây xanh. Chiếc lá vàng khẽ xoay và buông theo gió, hết một đời lá dâng đời bóng râm. Ông vuốt chòm râu điểm sắc bạc khẽ kể cho mấy em nhỏ về chuyện mùa thu tháng Tám ở Sài Gòn, ở quê hương khắp nẻo đường Tổ quốc Việt này! Những đôi mắt trẻ náo nức, những đôi môi bặm lại nén cho lòng không kịp thốt tiếng bi thương vì sự hy sinh của rất nhiều đồng chí, đồng đội của ông ngã xuống trong cuộc khởi nghĩa giành lấy hạnh phúc cho mỗi công dân. Niềm vui vỡ òa khi các em nghe ông chợt bật lên giọng rồi thành lập đội vũ trang, trang bị giáo, mác, cung, nỏ… luyện tập quân sự đánh lại giặc Pháp. Ông còn kêu gọi người Vân Kiều không tiếp tế lương thực cho Pháp, không đi lính cho Pháp. Bọn Pháp sợ lắm! Chúng một mặt treo giải thưởng cho ai giết được ông, một mặt lùng sục tìm bắt ông. Nhưng đồng bào Vân Kiều không những không phản bội ông mà còn đi theo ông chống lại giặc Pháp ngày càng đông. Rồi ở xã Vĩnh Ô có một đội vũ trang do hai ông Hồ Tá, Hồ Niệc chỉ huy ra đời. Ở xã Vĩnh Hà cũng có các ông Hồ Pức, Hồ Hăng, Mai Văn Xăng đứng ra kêu gọi nhân dân đánh giặc Pháp. Cả núi rừng miền tây Vĩnh Linh đâu đâu cũng có hầm chông, bẫy đá… do người Vân Kiều dựng lên chờ quân Pháp đến. Đội vũ trang của các ông Tóc Bối, Hồ Tá, Hồ Niệc, Hồ Pức… cứ thoắt ẩn thoắt hiện, đánh cho quân Pháp nhiều trận tơi tả. Quân Pháp không còn dám ngang nhiên càn quét, lùng sục như trước nữa. Rồi bộ đội chủ lực của ta từ dưới xuôi hành quân lên lập căn cứ kháng chiến. Bà con Vân Kiều từ rừng sâu trở về làng bản tăng gia sản xuất, che chở cho bộ đội, du kích đánh giặc. Người Vân Kiều đã đi theo Đảng, theo cách mạng cho đến ngày kháng chiến thắng lợi. Rồi họ lại cùng nhau xây dựng quê hương. Nhưng hòa bình chưa được bao lâu thì giặc Mỹ lại nhảy vào miền Nam. Rừng núi Vĩnh Linh tiếp giáp với sông Bến Hải, nơi ranh giới chia cắt hai miền Nam – Bắc, trở thành căn cứ kháng chiến và cũng là nơi giặc Mỹ tung bọn biệt kích, thám báo từ Lào sang, từ Nam ra hoạt động chống phá ta.

run run và hát “Mùa thu rồi ngày hăm ba, ta đi theo tiếng kêu sơn hà nguy biến, rền khắp trời lời hoan hô dân phương Nam nhịp chân tiếng ra trận tiền. Thuốc súng kém, chân đi không mà lòng người giàu lòng vì nước”. Những tiếng vỗ tay nhịp hòa theo giọng hát của ông dường như thêm màu xanh thẳm trên nền trời thu tháng Tám. Mùa thu của thắng lợi. Mùa thu của Độc lập. Mùa thu của tự hào. Mùa thu của triệu triệu bước chân ngoan được tung tăng cắp sách đến trường trong niềm vui Hòa bình!

Những ngã tư đường phố có nhiều hình ảnh của thanh niên tình nguyện với những pano, áp phích tuyên truyền về an toàn Luật giao thông, về việc bảo vệ môi trường… Hình ảnh ấy là những gương sáng để tuổi trẻ tôi học tập và noi theo.

Tôi chạy nhanh về quảng trường tượng đài Bác Hồ và đường Nguyễn Huệ để nhìn

Máy bay của Mỹ cũng chọn vùng rừng núi Vĩnh Linh làm mục tiêu ném bom để cắt đứt con đường Trường Sơn chi viện cho tiền tuyến lớn của ta. Các ông Tóc Bối, Hồ Tá, Hồ Niệc, Hồ Pức, Hồ Hăng, Mai Văn Xăng… lại tiếp tục chỉ huy các đơn vị dân quân của Vĩnh Khê, Vĩnh Ô, Vĩnh Hà anh dũng chiến đấu đánh trả máy bay và biệt kích Mỹ.

Đang giữa chừng câu chuyện, tôi hỏi Hồ Trung Hiếu:

-   Bây giờ ông Tóc Bối ở đâu?

-  Ông Tóc Bối chết rồi! – Hồ Trung Hiếu xúc động trả lời – Cả ông Hồ Tá, Hồ Niệc, Hồ Hăng, Mai Văn Xăng cũng chết rồi. Các ông ấy đều đã lần lượt ra đi sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước toàn thắng. Riêng ông Hồ Pức thì vẫn còn sống, nay đã rất cao tuổi. Các ông ấy đều là những người Vân Kiều thuộc thế hệ đầu tiên đi theo Đảng, theo cách mạng và đã tham gia chống Pháp, chống Mỹ suốt cả hai cuộc chiến tranh.

Qua anh Hiếu tôi được biết thêm, ông Tóc Bối sau này trở thành vị Chủ tịch Ủy ban kháng chiến đầu tiên của hai xã miền núi Vĩnh Khê, Vĩnh Hà và là cậu ruột ông Hồ Ray. Ông Hồ Ray theo cậu mình tham gia kháng chiến và hoạt động cách mạng ngay từ những ngày ấy. Rồi sau này trưởng thành, ông Hồ Ray trở thành Bí thư Huyện ủy huyện Hướng Hóa, Trưởng ban Dân tộc và Miền núi tỉnh Bình – Trị – Thiên trước đây và tỉnh Quảng Trị sau này. Ông Hồ Ray có người con gái là chị Hồ Thị Hồng từng là Chủ tịch Ủy ban Nhân dân huyện Đakrông và là đại biểu Quốc hội khóa X. Các ông Hồ Tá, Hồ Niệc, Hồ

ngắm kỹ hơn vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc, Người đã một đời vì nước vì dân. Người đã một đời tranh đấu, hy sinh cho dân tộc Việt Nam và vì hòa bình chung của thế giới. Trong tôi, những nốt nhạc của ông cụ thương binh nơi công viên 23-9 đang ngân nga. Và tôi bỗng thấy Sài Gòn – TP.HCM sáng nay hoa như rực rỡ, đường như rộng lớn, người như trầm lắng hơn để gẫm về quá khứ và hân hoan hơn vì cuộc sống mới của ngày nay đầy thay đổi, phát triển cùng thế giới… Rồi tôi nghe đâu đó có tốp thanh niên đang kết vòng tròn hát vang bài “Mùa xuân trên thành phố Hồ ChíMinh” thật hào hứng. Tuổi 20 của chúng tôi hôm nay được nghe, học và hành động những gì cha ông đã truyền lửa thật là tuổi 20 đầy ý nghĩa và tiếp bước truyền thống của cha ông. Tôi yêu quá Sài Gòn! Tôi yêu quá cả những giấc mơ đêm qua đầy màu cờ đỏ sao vàng reo vui trong tôi mùa thu chiến thắng!

 

Bút ký

NGUYỄN NGỌC CHIỂN

(Vĩnh Linh, Quảng Trị)

Ý Kiến bạn đọc