Truyện ngắn

Những người láng giềng của ông giáo Tài

Đây Là Đoạn Ngắn Trích Trong Truyện Dài Lối Xóm Mà Tôi Đã Viết Nhiều Tháng Trên Tờ Nhật Báo Tin Sáng, Vào Năm 1970 – Chưa In Thành Sách – Ghi Lại Một Số Biến Đổi Ở Trong Đời Sống Người Dân Đô Thị Miền Nam Dưới Thời Mỹ Diệm.

 

Trong chúng ta đây, có gia đình nào không có những chuyện buồn thảm hay chăng? Một gia đình thật êm đẹp, thật vui vẻ giữa xã hội này chắc khó tìm hơn sừng thỏ, lông rùa.

Gia đình vợ chồng bà Cẩm ở sát vách ông giáo Tài. Khi dời về ở xóm này ông giáo có dịp nhìn thấy thật rõ một cái gia đình vào loại đặc biệt. Bà Cẩm thuộc loại phụ nữ có nhiều nhan sắc hơn là giáo dục. Buổi sáng người chồng thức dậy rất sớm, rón rén dọn dẹp quét tước, không dám làm kinh động đến giấc ngủ người vợ. Anh ta cẩn thận múc một thau nước đặt trên chiếc ghế ngoài hiên nhà, treo chiếc khăn lông cạnh đấy, rồi lại bưng một ly nước, bàn chải, kem đánh răng đem đến để bên cạnh. Mọi thứ được lo chu đáo trước khi người vợ thức giấc.

Và khi người vợ rửa mặt xong, ngồi thừ ra trước chiếc gương gỡ tóc một cách mệt nhọc thì người chồng lại lom khom bưng cái thau nước còn lại ra tưới vào gốc mấy bụi ti-ngọ, mấy khóm râm bụt trước nhà.

Xong, gã bước vào nhà, hỏi giọng ôn tồn:

- Mình ăn gì đây?

Người vợ làm thinh ra bộ suy nghĩ. Người chồng yên lặng, đứng chờ. Bề trên chưa chịu phán bảo, thuộc cấp đâu dám bỏ đi nơi khác.

Một lát, người vợ mới nói:

- Ăn xôi vò đi.

- Mụ bán xôi vò qua rồi.

Người vợ quắc mắt:

- Sao không mua để dành hở?

- Chẳng là… không nghe mình dặn. Thôi được, để anh chạy ra đầu ngõ xem còn có đấy không.

Vừa nói dứt câu, anh chàng đã phóng đi liền. Nhưng anh đi được mười bước thì vợ anh gọi giật lại:

- Này, bảo đây.

Anh chồng quay lại, lo lắng.

- Thôi, chả ăn xôi vò. Mụ bán bánh canh đến chưa?

Anh chồng lại mất một hồi lâu tìm kiếm, sục sạo mà vẫn chưa mua được gì cho vợ ăn sáng. Lúc mua được rồi thì anh ta phải đi làm. Anh ta nhịn đói bữa mai, vì vợ chồng nhà này chỉ giàu kiểu cách mà lại rất nghèo tiền bạc.

Trong khi người chồng đi làm, thì vợ ăn xong, điểm phấn son, ra ngoài đường phố có cuộc hẹn hò với một người tình. Người tình của mụ quả là người tình có nhiều chân dung vì mụ đánh cặp được với nhiều người, thuộc nhiều nghề nghiệp. Bình luận về chuyện vợ chồng nhà này, những người trong xóm có những ý kiến khác nhau: ông Sáu Lừa bảo là trong kiếp trước thằng cha Cẩm này ăn ở đoản hậu, nên kiếp này phải trả nợ. Hai Dinh thì cho là thằng chả ngu, con vợ cỡi cổ là đáng đời lắm. Nhưng còn Tám Béo thì quả quyết rằng sợ vợ là một cái thú vô song, bởi vì được người đàn bà lấn áp, uy hiếp, chở che, là điều mà không phải đàn ông nào cũng thọ hưởng đặng. Riêng ông giáo Tài là một con người nhu nhược, thích chuyện cải cách hơn là cách mạng, nên khi giải thích mọi việc ông thường bám vào đủ loại nguyên nhân kỳ quặc để loại trừ nguyên nhân xã hội. Theo ông, thì cái cuộc đất Sài Gòn vốn trũng nên âm thịnh dương suy, do đó sợ vợ là chuyện rất dĩ nhiên vậy. Đừng tìm đâu xa, cứ nhìn nhiều ông lớn ở xứ này mà coi. Sợ vợ tuốt hết. Ra ngoài hò hét nghinh ngang, chớ trở về nhà thì co vòi cả. Chẳng phải do cái cuộc đất là gì?

Nói chung thì chồng mụ Cẩm là một kiểu người ngoan ngoãn hiếm có. Một lần gã bắt gặp vợ đi ở ngoài đường với một người đàn ông khác. Lập tức gã quay sang một ngã rẽ để khỏi đụng độ, hầu tránh cho vợ khỏi cơn bối rối. Mãi mấy hôm sau gã mới nói rõ sự việc cho vợ hắn biết. Người vợ chỉ cười, coi như đó là cái thú mà mụ ta có quyền hưởng. Có một người bạn cùng sở nghe ra chuyện đó, trách gã:

- Sao mà “toa” dại quá vậy?

Gã nói:

- Ơ hay, sao gọi là dại? “Moa” dại chỗ nào?

- Thì đó. Đáng lẽ mày túm lấy đầu vợ mày, rồi nện cho nó một trận là nó chừa ngay.

- Nhưng moa thương nó cơ mà. Khi người ta thương, đâu phải chỉ thương nết tốt, phải thương cả nết xấu nữa chớ. Nếu moa đánh nó thì còn gì là tình nghĩa? Đã không còn tình nghĩa nữa, thì đánh làm gì? Có thiếu gì cách xa nhau mà phải chọn kiểu vũ phu như thế? Toa nói, moa không sao hiểu.

- Phải rồi, làm sao mà toa hiểu moa cho đặng. Mà moa cũng không sao hiểu toa nổi.

- Moa nghe bên Tây có ông bá tước gì đó xử sự với vợ thật là đáng phục.

- Xử sự ra sao?

- Ông ta đi đâu xa nhà, lúc gần trở về ông gọi dây nói cho vợ hay trước. Ở gần, thì nói trước chừng vài giờ, ở xa gọi trước vài ngày. Chẳng có bao giờ đi về đột ngột. Toa biết tại sao làm vậy không? Vì ông ta sợ bắt gặp vợ đang tư tình với một kẻ khác. Như thế sẽ làm mụ ta lúng túng khó xử. Cái chuyện người ta đã muốn giấu mình mà mình còn phanh phui ra, coi như không lịch sự. Phải gọi dây nói cho biết rõ trước ngày về để mụ ta kịp thu xếp tử tế mọi việc. Lúc về, vợ đã chực sẵn ra đón, tươi cười như hoa. Vợ chồng âu yếm dắt tay từ ngõ vô nhà, chuyện trò ríu ra ríu rít. Chẳng có ai buồn ai cả. Việc gì mà làm cho buồn? Moa phục thằng cha bá tước đó quá xá.

- Ở đó mà phục! Chừng nào mày làm bá tước, hầu tước, ở không vẫn có lợi tức dồi dào để sống phây phây mà đi chơi bời thả cửa thì mày nên bắt chước lão. Bây giờ thì tao can mày.

Nhưng người tình lý tưởng của mụ Cẩm lại ở xóm dưới, y tên là Đình. Gã là một người không có nghề nghiệp nhất định, nhưng được cái mã bề ngoài sạch sẽ, dễ coi, nên bén khai thác chút ưu thế đó làm ăn. Ở Sài Gòn này có sở trường gì mà biết khai thác đúng mức thì vẫn khá được. Tên Lê Văn Đình vốn thuộc hạng người không có ý chí. Tất cả việc gì đòi hỏi cố gắng thường xuyên, nhất định gã không làm được. Gã có học khóa đánh máy, thời gian là một tháng rưỡi, nhưng mới học 30 ngày thì gã đã cho là quá lâu rồi, không thể tiếp tục. Rốt cuộc, thay vì 10 ngón, gã vẫn lách cách gõ bằng 2 ngón tay thôi. Chủ hãng không ưa cái lối gõ đó, cho gã nghỉ việc. Rồi gã học khóa kế toán, thời gian học tập phải là 6 tháng, nhưng mới 4 tháng, gã đã nghỉ rồi.

Gã nói:

- Kế toán thì thú vị gì, học chán thấy mồ.

Rồi lại nhảy sang năm ba nghề khác. Nhưng không nghề nào ra nghề nào cả. Thời cuộc đưa đẩy, gã nhận ra rằng gã có mẽ ngoài dễ coi, và nhiều cô gái, nhiều bà lớn tuổi ở đây vẫn thèm cái mẽ ngoài đó.

Gã bèn mua một cặp kiếng gọng vàng cho ra cái vẻ trí thức, thuê một gian nhà và xuống vỉa hè Lê Lợi mua một số sách thuộc loại y khoa bán xôn, đem để trên bàn, hai chồng hai bên, giấy bút ở giữa. Trên các tờ giấy trắng trẻo gã nắn nót viết, khi thì góp ý xây dựng đại học (chỉ mấy chữ đầu thôi), khi thì kê khai những sách ngoại quốc cần nghiên cứu thêm, chép lại một bản thư mục nào đó… Những cô gái đã làm quen, đến chơi thường bắt gặp gã trầm ngâm ngồi giữa hai chồng sách lớn, hoặc đang hí hoáy viết những bức thư có tầm xã hội lớn lao. Nói úp nói mở, gã cho biết rằng gã đang học thuốc và sắp ra trường, song gã cũng chẳng thiết gì vì xã hội này chán lắm và nghề thầy thuốc đang bị xuống dốc vị bọn lang y hiện nay chỉ lo giết người lấy tiền hơn là nuôi cái lý tưởng cứu nhân độ thế. Các cô con gái phục gã sát đất vì gã có cái hấp dẫn của một con người vừa có khả năng thực tế vừa có quyền uy lý tưởng. Ở xã hội này, tìm cho ra được một người đàn ông toàn vẹn như thế thật khó hơn cho tìm ra bộ phận sinh dục của con ruồi đực. Hầu hết đàn ông đều thực tế quá và sỗ sàng quá, nếu họ có chút lý tưởng thì họ tỏ ra mơ mộng quá nhiều, họ xa cách quá. Còn anh Đình này thì chắc chắn sẽ trở thành bác sĩ có tài, lại là một hạng cao siêu chớ không phải chỉ gõ ở trên da thịt để mà lấy tiền thân chủ thôi đâu.

Nhưng năm này đến năm khác, ông Lê Văn Đình vẫn chưa ra trường. Các cô nhân tình vẫn tiếp tục nuôi hy vọng một ngày nào đó ông mở phòng mạch, sẽ trả lại đủ cả vốn và 10 phần lời. Nhờ sống bằng cách khai thác hy vọng của người đàn bà, Lê Văn Đình vẫn có thể phây phây đi giữa Sài Gòn với vẻ phong nhã hào hoa đặc biệt. Đúng ra có một sức khỏe thật tốt và một bộ mặt thật dày, cái nghề đĩ đực không phải là ế khách giữa thủ đô này. Chiến tranh kéo dài càng làm cho nghề ngỗng đó có một lợi tức đáng kể nhưng lại làm cho những kẻ hành nghề sụm xuống rất mau.

Mụ Cẩm từ khi làm quen được Lê Văn Đình, lấy làm hân hoan hết sức. Bên cạnh Lê Văn Đình, chồng mụ rõ ràng là quá thô kệch, lại còn bần tiện không biết chừng nào! Với cái tương lai xán lạn chập chờn trước mặt mụ khinh miệt hết láng giềng, không thèm chơi với ai cả. Tất cả ở đây đều có vẻ hạ cấp không sao chịu nổi. Chỉ có những phút giây cận kề người tình lý tưởng mụ mới thấy đời có chút nghĩa lý mà thôi. Mỗi tối đi chơi về khuya, mụ Cẩm đi sát hông nhà ông giáo, kéo dép sàn sạt, cười nói oang oang như ngầm báo cho mọi người được biết là mụ đã về, mụ đã đi chơi, mụ sẽ nằm ngủ.

Một đêm, đang ngủ lơ mơ, bà giáo thức giấc, cằn nhằn vì tiếng cười nói và tiếng giày dép của người láng giềng về khuya.

- Cái mụ không biết xấu hổ!

Ông giáo bảo vợ:

- Mình nói nhỏ nhỏ một chút, lỡ chúng nghe ra, phiền lắm.

- Anh sợ mất lòng con mẻ lắm hả?

- Trời ơi, sao lại xuyên tạc như vậy? Đối với bà con lối xóm anh vẫn không muốn gây chuyện làm gì, trừ cái trường hợp không sao tránh khỏi.

- Nhưng cái mụ Cẩm này có nên tránh hay không? Đàn bà gì mà quá ngựa. Tối nào cũng đi coi hát, cũng đi ăn quà.

- Kệ họ. Có tiền họ xài, hơi đâu mà mình nói tới.

- Anh tưởng họ có tiền hả? Anh có biết chúng lấy tiền của ai không?

- Chắc là của “viện trợ” Mỹ.

- Thiệt không ai ngờ đó nghe. Nó dụ con Tám đến ở cho vợ chồng nó, rồi cất giấu cái căn cước của con người ta, không cho đi ở chỗ khác. Con này thật thà, bao nhiêu tiền dành dụm mấy năm đi ở đem mua được mấy lạng vàng gởi cho mụ cất, thế là mụ ta đem bán mà xài.

- Rồi cũng phải trả cho con Tám chớ. Bộ nó nuốt luôn được sao?

- Trả cái quỉ gì. Tiền đâu mà trả? Mỗi lần con này đòi lại, nó cứ khất hẹn, đã hơn một năm nay rồi. Nó cố ý không chịu trả để con kia phải ở cho nó, chẳng đi đâu được. Nhưng mà ăn tiêu kiểu đó làm gì có tiền? Vay nợ đùm đìa ra đó.

Nhưng không có sự tình gì mà không biến đổi trên cái cuộc đời đầy tang thương này. Một ngày đẹp trời, tên Lê Văn Đình biến mất. Chắc là y đã đi mở phòng mạch tại một xóm khác. Mụ Cẩm nhận được một bức thư ngắn chữ viết nắn nót, đại ý là người tình có chân dung của mụ bận việc phải đi xa một thời gian. Anh ta úp úp mở mở, không nói rõ đi nơi nào. Nhưng cái lối nói của y cũng giống như các câu xâm hay các câu quẻ của các ông bà thầy bói ngồi ở các đền, các điện, nghĩa là giải thích cách nào nghe cũng được cả. Cô nào thích chuyện học vấn, cấp bằng thì nghĩ Lê Văn Đình xuất dương du học, cô nào nặng chuyện tình cảm thì cho là anh ta đi về quê xin phép mẹ cha lo chuyện cưới xin, còn cô nào thích ngồi trên nhung lụa mà hát bài ca cách mạng lại tưởng đâu Lê Văn Đình xông pha mưa gió, ra đi quấy nước chọc trời, quyết tâm thay đổi thời cuộc.

Nhưng Lê Văn Đình thực sự chỉ đi xa cách mấy cô chừng một cây số, một cây số rưỡi là cùng.

Ở Sài Gòn này, sống xa bấy nhiêu có thể coi như ngăn cách ngàn vạn dặm rồi, nếu không có ý muốn gặp nhau nữa. Đường sá thì nhiều, xe cộ cũng lắm, song con người ta chỉ đi theo các lộ trình mà tình cảm họ và đồng lương họ chỉ định mà thôi. Họa hoằn có đi lạc vào một ngã lối khác thì cũng không biết đích xác là phương hướng nào.

Mụ Cẩm trong lúc chờ đợi người tình trở lại, đành phải tiêu sầu giải muộn với người tình khác. Và người tình được mụ kén chọn trong một cái giới hết sức lung linh huyền ảo là giới áp-phe. Ở thành phố này, con người áp-phe quả đúng là con quái vật thường nghe nói đến trong thời tiền sử. Nó có 3 đầu 6 tai, 12 con mắt, tay chân của nó dài thượt như các chân vòi của giống mực ma, vươn từ đầu này móc tới đầu kia mà không ai lường được sự biến hóa ra sao. Mụ Cẩm đã gặp gỡ Trần Văn Mường trong trường hợp nào, chẳng nghe ai nói. Nhưng trên phương diện đối nhân xử thế thì người áp-phe nhất định ăn đứt con người y khoa, nên chỉ một thời gian sau tên Mường đã xóa sạch trơn hình ảnh tên Đình trên cái bản đồ tình cảm của giai nhân Cẩm. Ở vào niên độ 40, Trần Văn Mường không đẹp trai như Lê Văn Đình, coi bộ xấu mã hơn chồng mụ Cẩm đến 3/4, nhưng tình yêu đâu căn cứ ở cái vỏ ngoài? Tình yêu chân chính phải đo lường ở cái nội lực tiềm tàng, và cái nội lực ấy nằm trong buồng phổi, trái tim hay là cặp thận, đâu có lộ liễu ra ngoài mà kẻ bàng quang thường vội đánh giá một cách sai lầm? Chỉ có hai kẻ yêu nhau mới thực sự biết mình đã yêu hoặc là không yêu vì lý do nào. Những kẻ ngoại cuộc hầu hết đều đoán trật lất.

Sự si mê của một người đàn bà 35 tuổi thật là nồng nhiệt đến độ có thể nung chảy được mấy thanh sắt đường ray. Do đó mụ Cẩm ngang nhiên bảo chồng cho Trần Văn Mường về ăn cơm tháng tại nhà, để mụ trực tiếp săn sóc miếng ăn miếng uống cho gã và những khi chồng đi làm thì mụ săn sóc giấc ngủ cho người khách trọ lý tưởng. Vì sống bằng nghề áp-phe nên Trần Văn Mường đi về không có giờ giấc nhất định. Thường thường, khi chồng mụ Cẩm ở nhà thì gã lại có áp-phe kêu gọi ra đi, và khi người chồng tới sở, thì gã lại nằm ở nhà. Trong cái tình trạng yêu đương say đắm, mụ Cẩm đành phải mở một bát hụi, và mụ lấy thảo để mà cung phụng cho cuộc tình này.

Hàng xóm không ai dám tin nơi người chủ hụi như mụ, do đó mụ phải sưu tầm bà con quyến thuộc và những bạn bè cùng một sở thích đàn ông để có đủ số hội viên. Phải nhìn chữ ký của mụ trên cái biên lai mới thấy mụ yêu đương nồng nàn ra sao. Tên mụ là Thắm, được ký với chữ M bình phương ngụ ý là Thắm với Mường. Cái con số hai nhỏ chút, nằm vắt vẻo trên chữ M chứng tỏ mụ Cẩm vẫn còn đủ sức để làm ái tình lãng mạn như ai.

Tội nghiệp cho người chồng ấy, gã ta không quan tâm nhiều đến chuyện lặt vặt làm cho rắc rối cuộc đời. Một chữ M hay hai chữ M nào có ý nghĩa gì? Nếu vợ gã có sức, ký năm bảy chữ cũng chả thiệt gì. Chỉ có những loại tâm hồn ti tiện mới thắc mắc chuyện ti tiện và chồng mụ Cẩm vượt cao lên mọi ý tình nhỏ nhen để làm một người chồng ngu, đúng theo truyền thống người chồng đã được nhắc đến trong các cổ tích Ba Tư.

Lần lần gã Trần Văn Mường lấn đất, coi như tên Lý Văn Cẩm không còn ký lô nào nữa. Cái kế hoạch tầm ăn dâu ở đây có một ưu thế về mặt tâm lý, bởi thói quen làm cho mọi góc cạnh bị giũa mòn đi, và những góc cạnh của một cái sừng vĩ đại cắm vào giữa đầu cũng nhờ thói quen giũa mòn cho thật trơn tru, bóng nhoáng, dễ nhìn.

Cái bộ ba ông Táo ấy vẫn sống hòa thuận ở giữa xóm này, mặc dầu nó là cái bia để cho tất cả mũi tên dư luận chung quanh bắn vào. Tất cả người vợ đều coi đó là một sự gai mắt và các người chồng lại càng khó chịu nhiều hơn bởi nó đánh vào tử huyệt của người đàn ông là lòng tự ái.

Dưới con mắt của bà giáo Tài, mụ Cẩm là một quái vật. Nhưng khi thấy mụ xuất hiện, hoặc ở gần nhà, hoặc ở ngoài đường, bà đều quay mặt nhìn đi nơi khác, không phải coi như mụ Cẩm chẳng hề có mặt trên đời, mà tệ hơn nữa coi đó là một thứ loại chẳng nên tồn tại giữa các sinh hoạt. Bà giáo sẵn sàng chấp nhận bà con lối xóm, kể luôn mụ Tư Cò là con điếm về già, mụ Bích là một me Tây hết thời, vợ của Hai Dinh là người đàn bà quá quắt thỉnh thoảng vẫn mở những cuộc nhảy dù đâu đó để có tiền nuôi thằng con du học, nhưng trừ mụ Cẩm. Bà giáo có thể vui vẻ nhượng bộ tất cả láng giềng, nhưng trừ mụ Cẩm. Mụ Cẩm đã làm tổn thương danh dự đàn bà, hay vì mụ đã làm được một cách ngon lành tất cả những gì mà phụ nữ khác không sao làm được?

Ông giáo biết ý vợ mình nên cũng tỏ ra lạnh nhạt với người láng giềng. Ông tránh gặp mặt để khỏi phải chào hay là không chào, vì đàng nào cũng khó khăn đối với ông cả. Những lúc bà giáo nói về cái xấu rậm rạp của mụ thì ông cố gắng không tỏ ra một khó chịu nào hết, cũng không lộ vẻ dửng dưng và cũng không thể hưởng ứng để a tòng sự dèm chê kẻ khác. Một thái độ như vậy rõ ràng là việc quá sức khó khăn, nằm trong nghệ thuật tinh vi của kẻ làm chồng muốn được yên thân. Và anh chồng nào lại chẳng tâm nguyện cầu xin hai chữ bình an, giữa cuộc đời này?

Nhưng kể từ sau cái ngày ông Diệm qua đời và quân đội Mỹ kéo sang mỗi lúc một đông, cái xóm của ông giáo Tài rậm rịch chuyển động mỗi lúc một mạnh. Mụ Cẩm không còn nằm nhà gọt tỉa, đánh bóng cái sừng, cắm trên đầu chồng theo lối người chơi đồ cổ như trước, nhưng mụ đã được thời cuộc tiếp sức để đánh một phóc từ nhà vào các tiệm nhảy, chính thức trở thành vũ nữ. Bây giờ thì người tình nhân lý tưởng của mụ, ông Trần Văn Mường, chuyên viên áp-phe, đã lao vào cuộc tìm vàng vĩ đại, bỏ lại sau lưng cái người đàn bà ngày nào hốt hụi nuôi ông và sau mỗi lần ký tên vào tấm biên lai hụi có ghép nồng nàn chữ đầu tên ông vào cái cẳng sau của mụ.

Người còn sót lại của bộ ba ấy, là chồng mụ Cẩm, lấy làm buồn rầu vô hạn. Ngày xưa nuôi Trần Văn Mường trong nhà tuy coi cũng xốn mắt thực nhưng mà ít nhất cũng chắc vợ mình còn đó, và dù ngoại tình chăng nữa thì cũng chỉ với một người mà thôi, một người mà mình nắm chắc lai lịch, biết rõ địa chỉ, có thể đâm chết lúc nào nếu muốn, nhưng cố nhiên là không muốn bao giờ.

Còn như bây giờ, mụ Cẩm ẩn ẩn hiện hiện chập chờn như bóng ma. Vào cái thời khoảng lão cần có vợ bên mình nhiều nhất, nghĩa là buổi tối, thì mụ Cẩm đã túc trực nơi các tiệm nhảy, phòng trà. Mụ đi với ai? Làm sao mà biết. Nhất định là mụ phải đi với nhiều con người, nhiều loại hạng người khác nhau, thuộc nhiều sắc tộc khác nhau của cái thế giới được gọi là tự do này. Đó quả là một xúc phạm nặng nề, một sự khiêu khích, một kiểu chà đạp. Người ta phải đau khổ nhiều khi chẳng biết được nguyên nhân gây khổ cho thật rõ ràng, và những kẻ thù ẩn hiện ở trong bóng tối làm cho chúng ta khiếp sợ nhiều hơn là hiện rõ rệt ở giữa thanh thiên bạch nhật.

Cuối cùng lão Cẩm có một quyết định táo bạo, là phải trả thù. Bằng cách nào đây? Thời cuộc đã tạo ra nhiều điều kiện thuận lợi cho một trả thù phong phú và lão chọn lấy kiểu cách hợp với mình nhất, đó là ngoại tình. Lão chẳng mất công phu gì để tìm cho ra một vũ nữ trẻ và hấp dẫn hơn mụ Cẩm. Thế là gia đình của lão từ lâu ấp ủ những mầm chia rẽ trầm trọng bây giờ đã có thời cơ để mà phân tán làm ba, theo thế chân vạc, nhưng là chân vạc xoạc rồi. Tất cả sự tình ấy đưa đến một kết quả là phải bán nhà. Một sáng, tấm bảng tôn ngoằn ngoèo mấy chữ bằng sơn đỏ được treo trên cây trụ ngõ và qua hôm sau đã có nhiều người lai vãng hỏi thăm. Bây giờ nhà có giá lắm và phải giành nhau chí chết mới có một chỗ chui ra chui vào.

Vốn không có phương cách nào để lành mạnh hóa xóm mình bằng các biện pháp hữu hiệu, nhà giáo ôn hòa chúng ta nghĩ đến chiến thuật thay thế, còn gọi là chiến thuật vá quàng. Ông ta nôn nả đi tìm một người quen thân đang cần chỗ ở để giới thiệu căn nhà ấy. Những kẻ lắm tiền không ai chịu vào cái xóm này cả, và những kẻ thèm muốn vào thì lại không tiền. Trên cái hành trình tìm người đồng chí của một chủ nghĩa ôn hòa, ông Tài bắt đầu ngậm ngùi về sự thất bại của mình thì bỗng gặp ký giả Hoài Vọng đang ngồi trong một tiệm nước bên đường. Hỏi ra thì hắn cũng đang tìm một căn nhà trong hẻm để mà chờ thời. Ông giáo có quen biết hắn mà cũng không ưa hắn lắm, vì hắn vào loại bồi bút có hạng, chuyên môn ca ngợi hay là chửi bới để có tiền xài, và thường viết bài theo lối đặt hàng nâng bi. Như thế, về mặt xã hội, tên ký giả này có thể nguy hiểm hơn một con điếm, nhưng ông giáo Tài lại không xét đến cái mặt xã hội khi có liên hệ đến quyền lợi mình. Dù sao một tên ký giả hèn hạ vẫn ít ồn ào hơn một con điếm. Nó ồn ào chăng là ở trên mặt báo, nhưng ông sẽ không thèm đọc những tờ nó viết là xong. Nghĩ ngợi như thế, ông Tài hăm hở giới thiệu ký giả Hoài Vọng đến mua căn nhà của Lý Văn Cẩm. Và một buổi sáng đẹp trời, ký giả Hoài Vọng thành người láng giềng của ông giáo Tài.

Vũ Hạnh
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 567

Ý Kiến bạn đọc