Tản văn

Những người giữ rừng phòng hộ Dầu Tiếng

 

1.
Thời đánh Mỹ từ biên giới Campuchia tôi từng vượt thượng nguồn sông Sài Gòn, băng qua những khu rừng nguyên sinh nhắm hướng núi Cậu hành quân về căn cứ ở Làng 18, huyện Dầu Tiếng (Bình Dương). Cuối mùa mưa năm Kỷ Hợi (2019), Ban quản lý khu rừng phòng hộ Dầu Tiếng phân công kỹ sư lâm nghiệp Vũ Anh Đức – Phó Ban quản lý khu rừng phòng hộ Dầu Tiếng cùng kỹ sư Đặng Quang Thắng đưa tôi trở lại khu rừng gần nửa thế kỷ trước mình đặt chân. Năm 2009, từ Ban quản lý Dự án trồng rừng ở quê nhà Nghệ An, Vũ Anh Đức được điều chuyển vào Tây Ninh. Chục năm gắn bó khu rừng lịch sử Chàng Riệc – Căn cứ TW Cục, kỹ sư Vũ Anh Đức tích lũy được nhiều kinh nghiệm về công tác quản lý rừng phòng hộ ở Tây Ninh. Đức nói ngọt lịm:

- Hôm nay sẽ đưa anh lên thượng nguồn sông Sài Gòn cùng trải nghiệm vất vả với những người giữ khu rừng phòng hộ Dầu Tiếng chúng em!

Chiếc xe bán tải chuyên dụng của ngành quản lý rừng lăn bánh bon bon băng qua những dải rừng ngút ngát màu xanh vùng giáp biên. Đến khu Nhà máy xi măng Fico gần đồn Tống Lê Chân, kỹ sư Đức thông tin, ở phía dưới khu rừng phòng hộ Dầu Tiếng có mỏ đá trữ lượng lớn nên mới xây nhà máy xi măng. Từ khi có nhà máy, rừng phòng hộ chộn rộn hẳn lên. Xe dừng ở đội quản lý rừng Suối Ngô bên hông Nhà máy xi măng Fico, chúng tôi tranh thủ ghé thăm Đội quản lý rừng Suối Ngô do Dương Hải Duy phụ trách. Đội Suối Ngô có 20 nhân sự, đa phần quê Tây Ninh. Lê Văn Trừ thuộc đàn anh của 19 người. Trừ quê xã Tân Hòa, huyện Tân Châu (TN) trước đây từng công tác ở Ban quản lý khu rừng phòng hộ Dầu Tiếng, do hoàn cảnh gia đình khó khăn nên xin nghỉ. Năm 2015, kinh tế ổn định, Trừ viết đơn xin tiếp tục công việc quản lý rừng. Trừ thổ lộ: “Từ nhỏ sống với rừng, lớn lên cùng với rừng, xa rừng buồn lắm. Vì thế em mới làm đơn xin được bảo vệ rừng”. Vợ anh cũng là công nhân ở một xí nghiệp dưới Chà Là, huyện Dương Minh Châu, cách nhà gần 70 km hàng ngày có xe đưa – đón. Bản thân Trừ mỗi tháng được lĩnh từ 8 – 8.5 triệu đồng thu nhập từ công việc quản lý, bảo vệ rừng. “Nhờ thu nhập ổn định của cả hai vợ chồng, chúng em có điều kiện cho con gái học ngành sư phạm tiếng Nhật. Ra trường, cháu trở thành cô giáo dạy tiếng Nhật, lương cũng kha khá!” – Trừ tiết lộ. Tìm hiểu thời gian biểu ở đội quản lý rừng thuộc tiểu khu mình phụ trách, đội trưởng Dương Hải Duy kể: Cung đường quản lý rừng tít biên giới, xa hơn 10 cột số. Sáng chưa thấy mặt trời mọc, mọi người thức dậy nổi lửa nấu cơm, cơm xong chia từng tổ vào sâu trong rừng kiểm tra thực địa cây rừng. Khi phát hiện cây rừng có biểu hiện không bình thường phải báo nhanh bằng điện thoại về Ban quản lý để kịp xử lý. Mùa khô, đội chia thành từng nhóm đến những khu rừng trọng điểm dễ phát sinh cháy để làm nhiệm vụ phòng chống cháy. Khi đi đều vận chuyển xe bồn chuyên dụng chứa từ 2.000 – 5.000 lít nước để chủ động ứng phó. Minh chứng lời mình nói, đội trưởng Dương Hải Duy cùng đội viên Lê Văn Trừ đưa chúng tôi vô tiểu khu 35 áp sát biên giới. Chiếc bán tải phải đậu ngoài đường nhánh tỉnh lộ 792 cách Đồn biên phòng Tống Lê Chân chừng 1,5 km, mọi người di chuyển bằng honda do các đội viên trong đội quản lý rừng tiểu khu 35 cầm tay lái, men theo lối mòn lầy bùn sau cơn mưa hồi đêm chưa kịp ráo nước để vào chốt bàu Le Le tít trong rừng sâu. Chốt bàu Le Le có 3 nhân viên: Lưu Hải Thọ, Nguyễn Văn Thảnh, Đoàn Văn Vũ, bám trụ hơn tháng ròng giữa cao điểm mùa mưa. Các anh dùng vải bạt căng làm nhà trú mưa trú nắng. Đoàn Văn Vũ kể: “Ba đứa chúng em quản lý 1.000 ha rừng. Hàng ngày tự lo chuyện ăn uống. Một tuần ra chợ một lần chỉ mua gạo, cá khô, nước mắm, muối, bột ngọt… dự trữ”. Hỏi nguồn thực phẩm rau xanh, Lưu Hải Thọ nói vanh vách: “Rau thì có móng bò, săng de (ngành ngạnh), lá cóc, kim cang, lá bứa, lá búng… sẵn trong rừng vừa tươi lại không bị nhiễm thuốc bảo vệ thực vật”. Nhờ sống “lưu động” nhiều ngày, nhiều nơi trong khu rừng phòng hộ Dầu Tiếng thượng nguồn sông Sài Gòn nên các anh thuộc nằm lòng những địa danh gắn với lịch sử của từng vùng đất: Trảng Móc Cốt (chuyên khai quật hài cốt liệt sỹ), Trảng Phá Huỷ (nhiều bom đạn rải trong chiến tranh), Trảng Bàu Trâm, Trảng Trợt (đất trơn trượt lúc trời mưa), Trảng Dầu Trà Ben (có nhiều cây dầu)… Hèn chi, khi chở tôi từ đường nhánh tỉnh lộ 792 vô chốt bàu Le Le, Lê Văn Trừ dừng xe chỉ cho tôi một dãy hố bom B52 máy bay Mỹ ném từ thời chiến tranh và cả những tàng cây bị lính Pôn Pốt hủy diệt trong cuộc chiến biên giới khi chúng đánh vào Đồn Tống Lê Chân vẫn còn dấu tích.

Xuan2020--Anh-minh-hoa---Nhung-nguoi-giu-rung-phong-ho-Dau-Tieng---Anh-1
Một góc núi Cậu Hồ – Dầu Tiếng.

Tạm biệt Thọ, Thành, Vũ, chúng tôi lên chốt Điểm cảnh giới cầu Cần Lê thuộc địa bàn ấp Con Trăn, xã Tân Hòa, huyện Tân Châu. Điểm cảnh giới có 12 nhân sự gồm 7 dân quân xã Tân Hòa và 5 chiến sỹ biên phòng Đồn Tống Lê Chân. Các anh vừa làm nhiệm vụ bảo vệ biên giới kết hợp bảo vệ khu rừng phòng hộ Dầu Tiếng. Rót ly nước nấu từ cây xạ đen hái trong rừng mời khách, Đặng Quốc Ngược quê xã biên giới huyện Châu Thành (TN) – chiến sỹ Đồn Tống Lê Chân nhỏ nhẹ: “Chúng em cùng với dân quân địa phương túc trực ngày đêm, sẵn sàng ứng phó với mọi tình huống để giữ bình yên cho biên giới và cho khu rừng phòng hộ Dầu Tiếng”. Ngồi trước Điểm cảnh giới cầu Cần Lê, tôi đánh mắt ngó ra sông Sài Gòn. Cuối mùa mưa, dòng nước màu hồng nhạt chở phù sa bazan như cũng hối hả đổ dưới chân cầu để mau xuôi về lòng hồ Dầu Tiếng. Trưa ấy, đại úy Nguyễn Thành Vĩnh – Phó đồn biên phòng Tống Lê Chân mời chúng tôi ăn bữa cơm với lính, thưởng thức món ếch rừng xáo lá giang ngon hơn thịt gà thả vườn. Trong lúc nhâm nhi ly rượu đế thơm mùi gạo nếp, đại úy Nguyễn Thành Vĩnh quả quyết: “Được Bộ chỉ huy Biên phòng tỉnh giao nhiệm vụ phối hợp với Ban quản lý khu rừng phòng hộ Dầu Tiếng trong công tác bảo vệ rừng. Ngay từ đầu năm, đồn đã xây dựng phương án tuần tra tuyến biên giới dài 9 km có rừng do đồn quản lý, góp sức cùng Ban quản lý khu rừng phòng hộ Dầu Tiếng bảo vệ rừng an toàn”. Không những thế, Đồn Tống Lê Chân còn phối hợp tổ chức nhiều cuộc tuyên truyền cho nhân dân trên địa bàn về công tác bảo vệ rừng phòng hộ đầu nguồn Dầu Tiếng.

2.
Đứng trên đỉnh bờ đập cao vọi bao lòng hồ Dầu Tiếng đối diện Khu di tích lịch sử Dương Minh Châu ở xã Phước Ninh, huyện Dương Minh Châu (TN), tôi nghĩ vụng: Nhỡ ngày nào đó 30.174 ha rừng tự nhiên phòng hộ đầu nguồn Dầu Tiếng bị xóa sổ sẽ hệ lụy tới 1,58 tỷ m3 nước chứa trên diện tích mặt hồ rộng 27.000 ha có nguy cơ trở thành trận hồng thủy đe dọa hàng chục triệu sinh mạng và mấy vạn mẫu đất nông nghiệp phía hạ nguồn, trong đó có thành phố Hồ Chí Minh thì hậu quả thật khôn lường. Tôi cầu mong chuyện đó không bao giờ xảy ra.

Trở lại Phước Ninh tôi như bị thôi miên trong thảm rừng tiểu khu 65, diện tích 218 ha nằm cặp phía tây bờ hồ Dầu Tiếng. Thời chống Pháp, nơi đây là căn cứ của Tỉnh ủy Tây Ninh, Xứ ủy Nam bộ và Bộ chỉ huy quân sự Miền (1951 – 1952). Sau Cách mạng tháng 8-1945, nhà Cách mạng Dương Minh Châu đang học trường Luật Hà Nội trở về Nam tham gia kháng chiến, giữ cương vị Ủy viên Ủy ban Hành chính kháng chiến Tây Ninh. Ông còn là đại biểu Quốc hội khóa đầu tiên (1946). Dương Minh Châu hy sinh ngày 7-2-1947 trong một trận phục kích của Pháp. Sau khi ông qua đời, Tỉnh ủy Tây Ninh lấy tên ông đặt tên căn cứ Cách mạng và tên huyện Dương Minh Châu như ngày nay.

Tiểu khu 65 ở xã Phước Ninh và tiểu khu 64 trên đảo Nhím xã Suối Đá nằm ngoài lòng hồ Dầu Tiếng tuy không thuộc quản lý của Ban quản lý khu rừng phòng hộ Dầu Tiếng mà giao cho huyện Dương Minh Châu phụ trách nhưng cùng chung mục tiêu phòng hộ hồ Dầu Tiếng. Đứng bên cây sao đường kính gần 1 m, kỹ sư lâm nghiệp Nguyễn Quốc Phong công tác tại Phòng Kinh tế nông nghiệp Dương Minh Châu giới thiệu: “Toàn bộ cây rừng ở tiểu khu 65 được trồng năm 1980 theo mô hình thuần sao và dầu, có chế độ chăm sóc và bảo vệ nghiêm ngặt”. Theo kỹ sư Phong, tuổi của rừng gắn với tuổi công trình hồ Dầu Tiếng. 40 năm, rừng chưa hề bị hỏa hoạn, chưa hề bị chặt phá nhờ ý thức bảo vệ của nhân dân xã Phước Ninh. Nguyễn Văn Khương nhân viên bảo vệ tiểu khu 65 rừng phòng hộ trải qua hai con giáp sống với rừng lịch sử Dương Minh Châu nên thấu hiểu tính nết từng cây sao, cây dầu. “Đêm nằm, em tưởng tượng nghe được tiếng thở của cây. Sáng thức dậy, ngắm chồi non cây rừng hé nụ đón ông mặt trời nhô bên núi Cậu. Mê lắm!”. Khương còn cho biết, rừng ở tiểu khu 65 có nhiều chim, thú trú ngụ. Chim có chào mào lửa, chích chòe, cu rừng, gà rừng. Thú có khỉ, rắn hổ. Thảo dược có nấm linh chi, nấm mối, hà thủ ô… Phía ngoài bìa rừng tiểu khu 65 có một khu dân cư thuộc ấp Phước An, xã Phước Ninh. Hơn chục năm trước, góc rừng tiểu khu 65 còn là khoảng đất hoang, cỏ tranh, cỏ Mỹ ken dày. Mấy chục hộ nghèo từ bờ sông Mê Kông, Biển Hồ bên Campuchia hồi hương đã tự động dựng chòi sát tiểu khu 65 rừng phòng hộ. Nhà nào cũng sắm lưới, mua ghe kéo ra hồ kiếm cá mưu sinh. Tối đến khu dân cư ở chen với rừng thường xảy ra ẩu đả vì men rượu, cờ bạc, nợ nần… gây mất an ninh trật tự. Trẻ em thì thất học. Để tách số hộ này ra khỏi rừng, được chính quyền tỉnh Tây Ninh đồng ý, Hội Nông dân xã Phước Ninh lập Dự án xây “Nhà mái ấm Nông dân”, giúp bà con sớm an cư. Bà Lâm Thị Có – Phó Chủ tịch Hội Nông dân xã Phước Ninh kể: “Chúng tôi lên TP. Hồ Chí Minh, Tây Ninh… vận động các Mạnh Thường Quân ủng hộ được 400 triệu đồng, xây 14 căn “Nhà mái ấm” tặng 14 hộ từ Campuchia về”. Ở tuổi 83, ông Lê Tấn Trường quê Giồng Trôm (Bến Tre) không có cục đất cắm dùi, 15 tuổi lang bạt lên Tây Ninh làm mướn. “Chỉ vì quá nghèo nên qua (tao) không kiếm được vợ, ở giá đến giờ!” – Ông Trường tâm sự. Sau ngày giải phóng, Tây Ninh xây dựng Khu di tích Cách mạng Dương Minh Châu, ông Trường được vào làm bảo vệ khu di tích. Mấy năm sau sức ông yếu dần. Ông Trường xin nghỉ việc nhưng ngặt một nỗi không có nơi tá túc. Nay ông được Hội Nông dân Phước Ninh tặng căn “Nhà mái ấm”, hàng tháng Hội hỗ trợ tiền, gạo để ông đắp đổi hàng ngày. Nắm tay tôi, khóe mắt ông Trường rơm rớm nước: “Không có nhà mái ấm, chắc qua tiếp tục ngủ rồi chết bên bìa rừng phòng hộ”. Là người ham đàn ca tài tử từ nhỏ, ông Trường tích cóp sắm nhị, đàn cò, bộ gõ. Chiều chiều ông ra trước hiên nhà vừa ca vừa đàn cho khu dân cư “Nhà mái ấm” nghe chơi. Ông Trường thổ lộ: “Đời cho mình thế là đủ, còn chút sức tàn ráng cùng cô bác xóm “Nhà mái ấm” trông coi rừng, để rừng che chở cho bể nước ngoài hồ Dầu Tiếng được bình yên”.

Khuynh Diệp
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM Xuân 2020

Ý Kiến bạn đọc