Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Những nét tương đồng giữa người Kinh Tây Nam bộ và người Êđê Tây Nguyên

 

Về tâm hồn, tính cách, tâm tư… cũng như trong sinh hoạt, văn hóa và đời sống tâm linh giữa người Kinh Tây Nam bộ (TNB) và người Êđê Tây Nguyên đặc biệt rất tương đồng về nhiều điểm. Như sự đơn giản trong cuộc sống, tính tình phóng khoáng, hào hiệp, vị tha, đùm bọc cộng đồng, đạo nghĩa, trọng tình… và luôn biết ơn. Biết ơn người cưu mang mình, biết ơn thần linh và biết ơn cả vạn vật đã giúp mình có cuộc sống tốt đẹp.

Hai tộc người này có nét tương đồng bởi khởi thủy từ môi trường sống và sinh hoạt tập quán nông nghiệp. Người Kinh TNB quanh năm sinh sống với ruộng đồng, sông nước, bên bờ biển khơi bát ngát nên họ sống phóng khoáng, trải lòng. Từ mấy trăm trước, họ xuôi về phương Nam, khai khẩn chốn hoang sơ nê địa, cùng nghèo khó nên cần sự tương thân tương ái, để qua đó cùng nhau có cuộc sống ấm no. Đồng thời, vì nhiều lý do nên họ thường di dời chỗ ở, nhà tranh, vách lá, do đó họ luôn “hợp quần nên sức mạnh” để chống lại thú dữ, đối phó với thiên nhiên khắc nghiệt để tồn tại và phát triển cho đến ngày nay… Người Êđê trước kia có đời sống du canh, du cư, sương lam chướng khí, thú dữ hung tàn, nên sự đoàn kết giúp nhau trong mọi việc là điều tối cần thiết. Tựu trung những điểm ấy khiến cho họ có lòng bao dung, thương yêu, gắn bó để tồn tại. Truyền thống tốt đẹp, nhân văn ấy cơ bản hãy còn lưu chảy trong đời sống, trong sinh hoạt văn hóa, văn hóa tâm linh của hai tộc người cho dù mỗi ngày tình trạng đô thị hóa có ít nhiều ảnh hưởng, tác động.

tapchi35--Nhung-net-tuong-dong-giau-nguoi-Kinh-Tay-Nam-Bo-va-nguoi-Ede-Tay-Nguyen---Anh-3
Gói bánh tét ngày xuân.

Người Kinh TNB giúp nhau trong tình bạn, thông qua câu chuyện Lưu Bình – Dương Lễ rất điển hình. Họ chơi với nhau rất thật lòng, chơi hết lòng, chẳng suy tính thiệt hơn trong tình bạn, tình nghĩa xóm làng… Vắt lòng mà chơi, chơi đến cạn lòng. Đi đến cắt máu ăn thề. Người Kinh TNB hễ giúp người khi gặp nạn thì không câu nệ, xét nét họ là người tốt hay xấu. Chúa Nguyễn Ánh xưa kia trốn chạy bởi sự truy bức của quân Tây Sơn – Nguyễn Huệ về Bến Tre, thì người người đều giúp. Ngoài gia đình ông Trương Tấn Khương (thân phụ của danh tướng Trương Tấn Bửu) đùm bọc ông cùng với đoàn tỳ tùng hàng mấy tháng trời, họ còn đưa ông xuống xứ biển Ba Tri bằng đường sông hàng mấy chục cây số để lánh nạn. Và ở đây gia đình ông Thái Hữu Kiểm (tức “Ông già Ba Tri”) cùng với chi tộc họ Lưu đã cưu mang ông trong lúc lâm nạn. Cũng từ cảm kích, ân tình sâu đậm đó, sau khi khôi phục được ngôi vị chúa Nguyễn Ánh (lên ngôi lấy hiệu Gia Long) từng cấp cho gia đình ông Trương Tấn Khương 60 mẫu ruộng ở cánh đồng Bao Ngạn bên bờ Hàm Luông. Đồng thời cấp cho chi tộc họ Lưu 100 mẫu đất ở làng An Thủy, huyện Ba Tri. Thăng chức cho ông Thái Hữu Kiểm từ Trùm trưởng lên Trùm cả, thuyết phục chàng nông dân giỏi võ, khí phách ngang tàng Trương Tấn Bửu theo phò mình, sau trở thành danh tướng. Ngoài ra người Kinh vùng TNB hễ “Kiến nghĩa (là) bất vi vô dõng giả”. “Giữa đường gặp chuyện bất bình chẳng tha”. Hay trong tình yêu họ luôn chung thủy, thầm lặng hy sinh như đó là đức tính đôn hậu, quyết sống chết vì người mình yêu. Truyện thơ Nôm Lục Vân Tiên của Nhà thơ mù Nguyễn Đình Chiểu khái quát điều đó rất xác đáng, chân thực.

Người Êđê khi nhà có nghi lễ, lễ hội hay có khách đến chơi thì cũng “say trọn, buồn sâu” như người Kinh vùng TNB. Bày lòng ra mà chơi với khách nơi gian nhà Gah (gian tiếp khách) hết ché rượu cần này đến ché rượu cần khác. Heo, gà làm thịt đãi khách không hề tiếc. Không câu nệ, xét nét việc say hay tỉnh. Họ không xem việc say rượu là hành vi xấu. Mà qua đó để trân quí tình bạn cao quí, chơi thật lòng, “chơi hết mình”. Từ đó mới có tục “Lễ kết bạn” như lời thề sắt đá. Trong tình yêu thì không biết bao nhiêu trường ca tôn vinh tình bạn, tình yêu. Nào trường ca Đam San, Sinh Nhã, Đam Kteeh Mlan… Đến những dịp nghi lễ – lễ hội thì nhất nhất người người khắp buôn làng đều đến dự. Vào dịp lễ cúng mừng cơm mới thì dân buôn làng mang lễ vật rượu cần, heo, gà… đến nhà chủ buôn để dâng cúng thần linh như người Kinh TNB trong lễ hội đình làng.

Đối với vạn vật mang đến sự ấm no thì người Kinh TNB hằng năm cúng hạ điền, thượng điền để tỏ lòng tri ân. Đến cây ngoài vườn khi xuân về Tết đến họ cũng cho cây “ăn Tết”. Bằng việc dán giấy vàng bạc (vàng mã) lên thân cây. Về tín ngưỡng thần linh thì đình làng nào cũng có bàn thờ thần nông. Ngoài vườn thì có miếu thổ thần (thổ công). Mỗi chiều họ ra thắp hương cầu nguyện. Đến ngày cúng giỗ trong nhà, ngoài miếu thổ thần cũng có mâm. Sau khi gia súc xuất chuồng, thu hoạch xong thì nông dân nào cũng có nghĩa cử cúng “ông chuồng, bà chuồng” để tạ ơn. Xưa kia nhà có trẻ bệnh tật thì làm mâm cơm bưng ra ngã ba đường cúng vái. Rước thầy pháp tới cúng. Mong mỏi người “khuất mặt, khuất mày” hay ma quỷ buông tha…

tapchi35--Nhung-net-tuong-dong-giau-nguoi-Kinh-Tay-Nam-Bo-va-nguoi-Ede-Tay-Nguyen---Anh-4
Lễ hội bến nước của người Êđê.

Người Êđê thờ thần linh, cúng kiếng lễ nghi chỉn chu. Vừa trỉa hạt ngô hạt lúa xuống thì dâng lễ cúng. Đến khi lúa về bồ, ngô về kho thì tiếp tục cúng. Rồi cúng thần lúa, cúng mừng cơm mới v.v… Người Êđê biết ơn và quí trọng loài gia súc như người Kinh TNB. Riêng lễ khóc trâu vì giết nó để được theo “phò” chủ khi qua đời đã có bài khóc dài như trường ca đến những trên 400 câu rất thống thiết, chân thành và cảm động. Hay như lời khấn thần trong Lễ cầu mưa cũng dài không dưới 400 câu và cũng có quan niệm như người Kinh ở TNB cầu cho “Quốc thái, dân an”, “Mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi” trong lễ nghi cúng thần Nông ở đình làng. Ngoài ra, khi trong gia đình nào có người bệnh thì dân buôn làng quan tâm, chia sẻ, chạy rước thầy mo đến cúng bái đầy nghi thức.

Người Êđê làm nông nghiệp theo chế độ luân khoảnh. Canh tác nương rẫy qua một mùa rồi để đó, vài năm sau mới quay trở lại khi đất ải, tơi xốp mới gieo trồng trở lại. Người Kinh TNB xưa kia trồng lúa một vụ trong năm cũng cuốc vồng khoai, cho đất phơi nắng, phơi mưa chờ nhiều tháng đất hoai mới dùng cuốc san bằng rồi gieo cấy.

Bên cạnh, thời gian lễ cưới và các lễ hội của hai tộc người cũng giống nhau vào thời điểm mùa màng thu hoạch xong vào tháng Chạp hoặc tháng Giêng, tháng Hai âm lịch. Việc tổ chức này nó thuận lợi cho cả đàng trai, đàng gái mà còn thuận lợi nhiều mặt cho dân buôn làng và bà con hàng xóm đến dự. Ngoài ra, do cuộc sống quanh năm của một tộc người nơi ruộng đồng, vườn tược, một tộc người nơi nương rẫy, đại ngàn nên về văn hóa ẩm thực cũng đơn giản, không cầu kỳ. Người Kinh TNB có món gà, vịt nướng đất sét, cá lóc nướng trui bằng rơm giữa đồng, hay trước sân nhà. Món này chấm với muối ớt, rắn luộc sả cũng chấm muối ớt… Người Êđê thì thịt lợn nướng mẹt, cơm lam chấm muối mè, cà đắng, rau djam tang, gà sa lửa. gỏi lá v.v…

Lễ hội của người Kinh TNB với nghi lễ – lễ hội của người Êđê không mang tính tôn giáo mà mang tính tâm linh, đa thần. Người Êđê có thần (Yang) sông, thần Núi… Nếu trên trời có thần Ghăn, dưới đất có thần Ghi, thì người Kinh TNB trước những ngôi đình làng có bàn thờ Xã Tắc. Dân gian có tín ngưỡng thờ Trời, Đất. Mỗi nhà đều có lập bàn
Thiên trước sân. Có thờ ông Địa. Người Êđê tín ngưỡng nhiều loài vật, xem rồng như điều mơ ước, may mắn, linh thiêng. Nên trên nóc nhà Gươl luôn có hình ảnh con rồng. Người Kinh cũng có chung quan niệm đó. Nóc đình làng nào cũng có những ba “ông rồng” uốn lượn mềm mại bằng sành. Bên cạnh còn thầm kín ước mong thông qua đặt tên con là Hoàng Long (rồng vàng), Thanh Long (rồng xanh)… Người Êđê xem trọng phần lễ, còn hội thì rất mờ nhạt. Còn người Kinh TNB thì xem trọng cả hai. Sau này các tộc người khác đến dự mỗi ngày một nhiều nên các Lễ hội của người Êđê mới có phần hội góp phần vào sinh hoạt văn hóa có không khí náo nhiệt, phong phú. Dù vậy, bây giờ nghi lễ – lễ hội của người Êđê ở Tây Nguyên đã mất dần, tiếng cồng chiêng – linh hồn buôn làng của họ cũng bị mai một trong niềm luyến tiếc, thổn thức của các già làng. Ngược lại, lễ hội cúng Thành hoàng bổn cảnh ở đình làng của người Kinh TNB thì mỗi lúc một phát triển. Hằng năm đều tổ chức qui mô hơn, có sinh khí hơn. Đình làng cũng được trùng tu. Trong năm có đến 3 lần diễn ra lễ cúng ở đình làng do Chính quyền địa phương và Ban Khánh tiết của đình đứng ra tổ chức. Cúng Thành hoàng bổn cảnh, lễ thượng điền, cúng thần Nông ở đình làng vào tháng Chạp là lớn nhất. Có cả lễ vật: Giết heo dâng cúng sống cho thần trong tiếng chiêng trống vang rền. Rồi nào heo quay, nhiều mâm xôi, cơm, cá… nghi lễ rất bài bản, trang nghiêm. Dân làng đến mỗi năm thêm đông đúc, nhộn nhịp. Kẻ góp của, người góp công cho ngày lễ hội một cách tự nguyện, trong đời sống văn hóa tâm linh rất thành tâm. Lễ hội đình làng diễn ra hai ngày hai đêm với nhiều tuồng hát bội, thu hút dân làng đi trẫy hội văn hóa hàng mấy ngàn người.

Khi người qua đời, đến hai năm thì người Kinh TNB làm lễ cúng mãn tang. Mỗi năm đến giáp Tết thì họ đi tảo mộ. Cũng tương tự như Lễ bỏ mả của người Êđê. Tuy nhiên, người Êđê chọn thời gian thích hợp nhất chứ không theo thời gian nhất định nào. Khi người thân vơi đi thương nhớ về người đã khuất là làm Lễ bỏ mả rất long trọng đến hai, ba ngày đêm (Xưa thì đến những 7 ngày đêm) rất tốn kém. Bởi mỗi ngày họ “vật” hai, ba con heo; ba, bốn con bò, con trâu. Rượu cần thì năm bảy chục ché… Dân làng đến đông đủ. Người Kinh TNB thì không rình rang như thế. Đồng thời người Êđê không có tục tảo mộ và cúng giỗ. Vì họ muốn người thân thanh thản đi đầu thai kiếp khác. Qua đó người còn sống cũng nhẹ lòng. Tuy hai tộc người khác quan niệm nhưng chung một ý tưởng nhân văn.

Còn nhiều nét tương đồng của hai tộc người như sự tương đồng về lễ cúng vòng đời người, lễ cúng vòng cây lúa v.v… Xin bàn vào dịp khác. Mọi người nếu tìm hiểu sẽ lấy làm nuối tiếc như nhà nghiên cứu Văn hóa dân gian Trương Bi từng báo động qua công trình nghiên cứu về văn hóa của người Êđê trong tập sách “Lễ hội truyền thống dân tộc Êđê”, NXB Thanh niên – 2011, có đoạn ở trang 108, tác giả viết: “Trong bối cảnh hiện nay nghi lễ – lễ hội Êđê đang đứng trước nguy cơ mai một. Đó là tiếng chuông cảnh tỉnh chúng ta có biện pháp bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa của đồng bào Êđê (trong đó có nghi lễ – lễ hội) trong bối cảnh ảnh hưởng mặt trái của nền kinh tế thị trường cũng như trong công cuộc thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của chúng ta…”. Cũng trong quyển sách này, nhà nghiên cứu Trương Bi từng khẳng định: “… Nghi lễ và lễ hội của dân tộc Êđê là rào chắn tốt nhất để bảo vệ bản sắc văn hóa, giữ gìn phong tục tập quán và nếp sống tốt đẹp của cộng đồng…”.

Đó là những bức xúc, những câu hỏi lớn đặt ra cho những nhà hoạt động, nghiên cứu văn hóa dân gian và cho các cơ quan liên đới cần phải suy tư, tìm ra giải pháp khả thi nhằm ngăn chận sự “xâm lăng hóa” từ bên ngoài vào văn hóa bản địa giàu bản sắc của dân tộc Êđê rất đáng trân quí.

Phạm Bội Anh Thuyên
Tạp Chí Văn Nghệ TP.HCM số 35

Ý Kiến bạn đọc