Tản văn

Những năm tháng giúp Bạn Campuchia không thể phai mờ

Cuối năm 1978, tôi ra trường và nhận công tác tại Sở Thủy sản Thành phố Hồ Chí Minh, làm cán bộ Phòng Kỹ thuật. Sau đó, được phân công phụ trách trại cá Bình Hòa (Bình Thạnh bây giờ).

Một ngày đầu tháng 3-1979, tôi và Thành – bạn cùng lớp cùng trường Nông nghiệp 4 về cùng đơn vị – được điều động đi K (Campuchia). Tôi hăng hái nhận nhiệm vụ vì mình là đoàn viên TNCS Hồ Chí Minh vừa là sinh viên mới ra trường lòng còn tràn đầy nhiệt huyết. Theo lời dặn của chú Tư, đây chỉ là một chuyến công tác bình thường, nhưng đối với tôi là lần đầu tiên ra nước ngoài. Cũng có chút lo lắng nhưng không quá bận tâm vì cùng đi trong đoàn với một số người khác của Sở Thủy sản.

Đoàn chúng tôi có 5 người do chú Tư Sơn – Quyền Giám đốc Sở làm Trưởng đoàn. Sáng sớm, xe khởi hành từ quận 1 (số 3 Phan Văn Đạt) đi qua Hóc Môn, Củ Chi và tiến theo quốc lộ 22, đến huyện Bến Cầu rồi vượt biên giới Việt Nam – Campuchia.

Tôi rất lạ lẫm và bắt đầu thấy không khí chiến tranh dù đã giải phóng Campuchia từ hơn hai tháng trước. Một vài căn nhà bị cháy còn trơ hàng cột đen nhẻm làm cho không gian như đặc quánh lại. Xe qua cửa khẩu Mộc Bài – Ba Vét khá nhanh. Ai nấy đều bắt đầu thấm mệt và có vẻ căng thẳng khi xe đi vào đất Campuchia. Quốc lộ 1 huyết mạch bị băm nát do lính Pôn Pốt đào hố chữ chi đối xứng hai bên đường cách khoảng 10-15m xen kẽ nhau, mục đích là ngăn không cho xe tăng ta xung trận. Do vừa giải phóng nên bộ đội và Thanh niên xung phong lấp vội bằng đất ruộng ven đường làm cho con đường trở nên gập ghềnh khúc khuỷu. Xe chạy phải lái qua trái rồi qua phải để tránh nhưng vẫn sụp hố, ổ gà, ổ voi liên tục gây ra tiếng ồn đinh tai nhức óc, rã rời cả xương cốt người ngồi trên xe mà chỉ chạy khoảng 20-30 km/giờ. Thỉnh thoảng thấy có vài nhóm người đi bộ trên quốc lộ hướng về phía Tây, có lẽ họ muốn về Phnôm Pênh.

11 giờ, chúng tôi đến Soài Riêng, một tỉnh lỵ sát biên giới Việt Nam, ghé lại gần chợ trung tâm nhưng chợ khá nhỏ, chỉ có một quán cơm lèo tèo vài món ăn bình dân Khmer. Trưởng đoàn cùng phiên dịch cũng là lái xe tiếp xúc với người chủ quán đưa ra thỏa thuận đổi gạo và vài món đồ dùng lấy một bữa ăn cho 5 người. Vì thời điểm đó Campuchia sau giải phóng chưa phát hành tiền. Chắc chú Tư Sơn và anh Hải (tài xế) đã được dặn trước nên đoàn mang theo một bao gạo, ít cá khô, khoảng hơn 20 lon đồ hộp, xà bông tắm… Chúng tôi ăn vội cơm trắng đựng trong lá sen và cá lóc nướng chấm muối ớt với canh cải nước lỏng bỏng, rồi đi ngay vì đường còn xa lắm. Đây là lần đầu tiên tôi ăn món này ở đất nước không phải Việt Nam. Có gì đó rất khác thường xen lẫn thích thú cùng với cảm giác rờn rợn.

So-531--Gap-go-truoc-hoang-cung-ngay-giai-phong-Phnom-Penh-1979-Tran-Hong
Gặp gỡ trước hoàng cung ngày giải phóng Phnom Penh 1979 – Trần Hồng.

Xe tiếp tục lăn bánh dưới trời trưa nắng nóng khá oi bức, lại dằn xóc ghê gớm khi vượt qua nhiều rãnh đào theo hình chữ chi cắt ngang đường đi. Qua khỏi Soài Riêng một đoạn chừng 20 km, đường ít bị phá hơn nhưng vẫn còn xấu do lâu ngày không tu bổ. Hai bên đường đồng khô cỏ cháy, ao đầm cạn ráo bày ra mặt đất nứt nẻ, xa xa hàng thốt nốt như chịu đựng đứng ngạo nghễ với thời gian, thỉnh thoảng mới thấy vài con bò vàng gầy gò đang gặm vạt cỏ cằn cỗi ven đường còn sót lại từ mùa xuân qua, khung cảnh rất khác nông thôn Việt Nam. Giữa đường, gặp một đám người ồn ào, có kèn và nhạc cụ dân tộc, chặn xe xin vật phẩm với một hình nhân làm bằng giấy to cao có người bên trong đi cà kheo, nhưng xe chúng tôi đi luôn vì không có gì để cho và vì cũng có người cảnh giác sợ bọn Pôn Pốt trá hình. Sau này mới biết đó là lễ cúng xin đồ đạc, vật liệu (hoặc tiền) để xây chùa (mà cũng là trường học) cho con em trong làng. Cảnh vật đối với tôi là rất lạ lùng đến nỗi trong giấc ngủ, thỉnh thoảng tôi vẫn nằm mơ thấy người hình nộm to cao đi cà kheo nhảy múa giữa đường…

Xế chiều thì xe đến phà Nek Lương thuộc địa phận tỉnh Prey Veng. Không khí ở đây náo nhiệt hơn vì có nhiều xe phải chờ qua phà. Tiếng động cơ gầm rú inh ỏi, xe quân sự Việt Nam, Campuchia, xe dân sự cũ mèm lượm ở đâu đó, có cả xe thô sơ, xe đẩy tay… xếp hàng. Những nhóm người dân Campuchia đen nhẻm nắng gió, đàn ông, đàn bà, trẻ thơ dắt díu nhau chờ qua sông. Họ từ những “nông trường” của bọn Pôn Pốt sau giải phóng trở về quê, tìm lại người thân sau 3 năm 8 tháng 20 ngày lao động khổ sai do “Ăngca” tổ chức. Mất cả tiếng đồng hồ xe mới qua được phà. Đó là một chiếc phà còn khá tốt do Việt Nam giúp vừa điều từ Hậu Giang sang chừng hơn tháng nay còn ghi tên phà bằng tiếng Việt Nam.

Qua phà, xe chạy bon bon vì khu vực thuộc tỉnh Kầnđal đường ít bị phá. Hai bên đường đã thấy màu xanh của các bụi cây, thấp thoáng có vài nhà dân dựng tạm. Trên đường, hàng đoàn người lũ lượt kéo đi ngày một nhiều hướng về Phnôm Pênh. Sức sống bắt đầu hồi sinh.

Vậy mà phải mất hơn 2 giờ mới tới cầu Sài Gòn, chợ Chpa Ămpâu. Đây là khu vực cửa ngõ vào Phnôm Pênh về phía Đông, có đông người Việt sinh sống, làm ăn, buôn bán, phía dưới là bến ghe của người từ Việt Nam lên nên đồng bào gọi là cầu Sài Gòn (thật ra đó là cầu Mônivông).

Khoảng 7 giờ mà trời đã tối mịt. Xe đi qua cầu vào nội đô Phnôm Pênh theo đường Mônivông. Ánh điện chập chờn từ một nhà máy nhiệt điện nhỏ. Lác đác có vài nhà dân trở về sớm hoặc cơ quan, đơn vị đồn trú phải thắp đèn dầu, bình ắcqui để sinh hoạt. Thủ đô lúc bấy giờ giống như một thành phố chết không có người ở. Một lát sau, chúng tôi đến khu vực Đoàn chuyên gia A50 đóng quân và nhận căn nhà khá rộng giống như biệt thự. Mọi người xuống xe uể oải sau ngày dài “chiến đấu” với hơn 240 km đường. Việc trước tiên là tự thu xếp chỗ ở, phân công người nấu cơm ăn và chia phiên gác cho đêm đầu tiên trên đất Campuchia. Đối với tôi đây là đêm đầu tiên ở nước ngoài.

Hôm sau, Đoàn cán bộ Sở Thủy sản làm việc với lãnh đạo Đoàn Chuyên gia A50, là đơn vị do Thành ủy – Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thành lập để giúp Bạn Phnôm Pênh trong tất cả các lãnh vực: chính trị, quân sự, công an, văn hóa, thông tin, xã hội, y tế, giáo dục, kinh tế, công tác xây dựng Đảng (lúc đó là Đảng Nhân dân Cách mạng Campuchia), xây dựng chính quyền cơ sở và quận huyện… nhóm tôi được phân công giúp Bạn xây dựng Phòng Thủy sản mới thành lập thuộc Sở Nông nghiệp Phnôm Pênh.

Sau một tuần đi khảo sát và đánh giá tình hình hoạt động thủy sản tại Thủ đô, Đoàn báo cáo với lãnh đạo Đoàn A50 và thống nhất cử một kỹ sư Thủy sản trong biên chế Tổ chuyên gia nông nghiệp gồm nhiều ngành giúp Sở Nông nghiệp Phnôm Pênh.

Tôi được Sở Thủy sản điều động ở lại giúp Bạn. Vậy là từ chuyến công tác ngắn ngày, được Ban Tổ chức Thành ủy quyết định (theo đề nghị của Sở Thủy sản và yêu cầu của Đoàn A50) cử làm chuyên gia Thủy sản dài hạn đến gần 9 năm (3/1979 – 11/987) – một chặng đường dài với nhiều dấu ấn lớn trong cuộc đời làm việc của tôi sau này.

Từ một đất nước bị hủy hoại tàn phá toàn diện dưới chế độ Pôn Pốt tàn độc trong 3 năm 8 tháng 20 ngày, từ một xã hội không có chợ búa, không trường học, không dùng tiền, không có rạp hát, không có chùa chiền. Sư sãi, thầy cô giáo, bác sĩ, kỹ sư, trí thức bị giết hại dã man, nhân dân bị bắt đi lao động khổ sai ở nông thôn với nhiều đại công trường, nay bắt đầu hồi sinh.

Thủ đô Phnôm Pênh, một thành phố chết, không người dân ở, hệ thống điện nước vừa khôi phục rất yếu và chập chờn. Những ngày đầu giải phóng, Nhà nước Campuchia chưa kịp phát hành tiền (cho đến giữa năm 1980), chúng tôi phải đổi gạo khi ra sinh hoạt bên ngoài, hớt tóc: 3 lon, mua một mớ cá: 1-2 lon…

Tôi được bố trí ở chung với Tổ chuyên gia Nông nghiệp do chú Ba Hải làm Tổ trưởng gồm 5 người, lúc đông nhất lên tới 10 người đủ các ngành: trồng trọt, chăn nuôi, thú y, thủy sản… giúp Sở Nông nghiệp Phnôm Pênh. Ngoài giờ làm việc, chuyên gia phải tự lo thêm về trang bị cuộc sống. Chúng tôi tìm thấy kho giày do bọn Pôn Pốt gom lại ở hai nơi, một kho chứa toàn giày chân phải, một kho cách xa 2 km để toàn giày chân trái (chắc là tránh bị ăn cắp), kho toàn tủ lạnh, kho nồi cơm điện, hoặc kho đồng hồ treo tường… Thật nực cười kiểu công xã!

Tôi được giao phụ trách giúp Phòng Thủy sản mới thành lập. Trưởng phòng là một Tiến sĩ học ở Pháp về Campuchia tháng 4/1975, vừa thoát khỏi lao động khổ sai ở Soài Riêng, về tới Phnôm Pênh tuần trước (sau này, anh được điều động lên làm Phó Chủ tịch UBND Cách mạng Thủ đô rồi lên lãnh đạo cấp Trung ương). Lúc đầu, tôi giao tiếp bằng tiếng Pháp (học từ hồi trung học) với anh Trưởng phòng. Thời gian sau, do phải xuống xây dựng Tổ Đoàn kết sản xuất nghề cá ở Chrăng Chòmres, tôi phải tự học tiếng bản địa, dần dần tôi nói được tiếng Khmer để làm việc.

Công việc khá vất vả, phải khảo sát, hướng dẫn xây dựng kế hoạch khôi phục sản xuất ở Phnôm Pênh (có 3 xưởng nước mắm, một xưởng đóng tàu gỗ, ao nuôi cá ở Chắc Angrès…), rồi phải đi Biển Hồ, đến Kôngpông Chnăng theo dõi đánh bắt cá ở lô đáy số 10 (B’kon Via) và số 19 (Chrui Probốs). Cuối năm 1979, tôi tham gia điều hành đợt nhận cá chượp trên 1.000 tấn cá linh (cá trộn muối làm nguyên liệu chế biến nước mắm) đưa về Việt Nam.

Đầu năm 1980, chú Bảy Dự (đồng chí Nguyễn Võ Danh sau là Phó Bí thư Thường trực Thành ủy) – lúc đó làm Giám đốc Sở Thủy sản, sang công tác, chuẩn bị thành lập Đội tàu hợp tác với Bạn đánh bắt cá ở sông Tôn Lêsáp, đã gặp và động viên tôi tiếp tục công tác chuyên gia.

Cuối năm đó, chú Bảy Thạch – Phó Giám đốc Sở dẫn đoàn cán bộ lên khảo sát tình hình đánh bắt ở Biển Hồ và cử tôi tham gia trên một con tàu sắt có 6 người bảo vệ vũ trang cùng đi. Đoạn qua tỉnh Pursat, sông hẹp giữa rừng, tàu chúng tôi bị bọn Pôn Pốt bắn vài tràng AK từ trên bờ xuống. Các anh em bảo vệ bắn trả liên hồi vừa hô tài công mở hết tốc lực chạy ra giữa sông và thoát đi. Tôi cũng được trang bị súng cạc-bin nhưng chưa bắn được viên nào. Thật hú vía!

Gần đến cửa sông vào Hồ lớn, tôi nhận ra trên các đọt tre cao vút ven bờ có vảy, xương cá bị mắc lại. Thì ra là do mực nước mùa nước lên có biên độ rất lớn, khoảng trên 10 m, nên cá đẻ, cá chết đều để lại xương, vảy cá ở trên những cành tre đó so với lúc nước cạn như hôm chúng tôi đến. Đây được coi là một bãi cá đẻ mà thiên nhiên ban tặng với hàng trăm loài. Một vựa cá tự nhiên dành cho nhân dân Campuchia và cả nhân dân Việt Nam được hưởng. Lúc nước lên cao, Biển Hồ có chiều dài khoảng 50-60 km, ngang khoảng 20-30 km, đứng trên bờ bên này không thể thấy bờ bên kia.

Đến nơi, chúng tôi thấy một tàu sắt Hải quân Việt Nam đậu cheo leo ở giữa, hỏi ra mới biết bị mắc cạn từ mấy tháng rồi, đang chờ nước lên để quay ra.

Cán bộ, chiến sĩ vừa phải bảo vệ tàu, vừa phải vô bờ kiếm cái ăn hàng ngày. Lòng hồ mùa này cạn đến nỗi có thể đi bộ ra hàng trăm mét mà nước mới ở trên thắt lưng một chút; mọi người bơi ra vô bằng những chiếc ghe nhỏ đáy trẹt (đáy bằng). Cộng đồng người Việt ở đây rất nghèo khổ, đa phần không có giấy tờ tùy thân, sống chủ yếu bằng nghề đánh bắt cá trên Biển Hồ. Con cái họ không biết đọc biết viết nhất là chữ Việt.

Đến năm 1984, khi chú Chín Lê (đồng chí Lê Đình Nhơn – Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, Phó Chủ tịch Thường trực UBND Thành phố) lên làm trưởng Đoàn Chuyên gia A50 thì tôi được rút qua làm cán bộ tổng hợp Văn phòng Đoàn, Thư ký cho chú Chín nhưng vẫn kiêm chuyên gia Thủy sản. Đầu năm 1985, tôi có phụ anh Tư Dũng (Lê Tâm Dũng, lúc đó là Phó Văn phòng Thành ủy) lên giúp Bạn chuẩn bị Đại hội Đảng Nhân dân Cách mạng Campuchia Thủ đô Phnôm Pênh. Có lần chúng tôi tiếp anh Tư Sang (đồng chí Trương Tấn Sang, Giám đốc Sở Lâm nghiệp Thành phố, sau này là Chủ tịch nước) sang làm việc và đi khảo sát rừng ở Kôngpông Spư.

Tôi tiếp tục làm thư ký riêng cho chú Tám Dân (đồng chí Nguyễn Văn Hanh – Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy) lên làm Trưởng đoàn A50 thay chú Chín Lê hoàn thành nhiệm vụ về nước.

Đến cuối năm 1987, tôi được điều động về lại Thành phố sau khi hoàn thành nghĩa vụ Quốc tế và tiếp tục công tác tại Sở Thủy sản.

Lúc này tình hình Campuchia đã dần ổn định và bắt đầu phát triển trên nhiều lãnh vực. Bọn tàn quân Pôn Pốt ở khu vực rừng núi giáp biên giới với Thái Lan bị đánh tan rã hoàn toàn, cuộc sống của nhân dân Campuchia đang hồi sinh. Chính quyền các cấp được hình thành và củng cố vững chắc từ phum xã đến tỉnh, thành, Trung ương. Các bộ ngành được thành lập hoạt động ngày càng hiệu quả. Nơi nơi, nhân dân đã trở về quê làm ăn sinh sống, cả đất nước hồi sinh vươn lên mạnh mẽ. Thủ đô Phnôm Pênh là một trong những địa phương phát triển nhanh. Từ một thành phố chết, nay đã trở nên nhộn nhịp, sinh động. Cuộc sống ở đây ngày càng tươi đẹp, các ngành nghề mở ra, rất nhiều cửa hàng, quán ăn mọc lên nhan nhãn, xe cộ tấp nập trên đường phố đông đúc với gần một triệu người dân sinh sống. Các cơ quan đầu não của Chính phủ Campuchia Cách mạng, các tổ chức quốc tế, người nước ngoài ngày một nhiều. Thật là một sự hồi sinh kỳ diệu trên đất Angkor xinh đẹp sau những năm tháng đen tối dưới chế độ diệt chủng tàn bạo của bọn Pôn Pốt.

Trải qua gần 9 năm làm chuyên gia giúp Bạn, cả tuổi thanh xuân của tôi hầu như đều gắn bó với đất nước Chùa Tháp. Công tác xa nhà, xa quê hương, lúc đầu hết sức mới mẻ, bỡ ngỡ, tôi dần trưởng thành với một số kinh nghiệm căn bản làm hành trang trong suốt cuộc đời làm việc Nhà nước đến khi nghỉ hưu sau này.

Vậy mà sắp tròn 40 năm. Chúng tôi, những thanh niên ngày ấy đầu xanh, giờ đã nghỉ hưu. Nhiều cô, chú, anh chị tham gia Đoàn A50 năm đó đã vĩnh viễn rời xa chúng ta như: chú Chín Lê – Trưởng đoàn; chú Hai Thống – Phó đoàn; chú Ba Hoán – Phó đoàn; chú Tư Tài – Phó đoàn Tổ chức; chú Ba Hải – Phó đoàn Kinh tế; đại tá Đinh Như Ninh – Phó đoàn, Chỉ huy trưởng Đoàn 7708; chú Tư Phương – Phó đoàn, Bí thư Đảng ủy; chú Chín Bá – chuyên gia Mặt trận; chú Phạm Hoàn – chuyên gia Quân sự; cô Mỹ, chị Út Nhựt – chuyên gia Phụ nữ; anh Khuê – chuyên gia Thanh niên…

Tôi luôn nhớ về quãng thời gian giúp Bạn với những ấn tượng sâu sắc khó phai mờ và rất đỗi tự hào đã góp một phần công sức nhỏ nhoi của mình vào sự nghiệp xây dựng mối quan hệ hữu nghị đoàn kết gắn bó truyền thống giữa hai nước, hai dân tộc Việt Nam – Campuchia, đặc biệt là trong giai đoạn đầu hồi sinh đất nước Chùa Tháp từ đống tro tàn đổ nát do bọn Pôn Pốt gây ra cho nhân dân Campuchia.

Mối quan hệ đoàn kết truyền thống tốt đẹp đã được thử thách là tài sản vô giá của nhân dân Việt Nam và nhân dân Campuchia mà các thế hệ hai nước chúng ta phải trân trọng giữ gìn, vun đắp và làm cho mối quan hệ này ngày càng bền vững, sâu sắc thêm.

Tháng 11/2018

Nguyễn Văn Triệu
(Phó Chủ tịch TT/TTK – Hội Hữu nghị Việt Nam – Campuchia TP.HCM)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 531

Ý Kiến bạn đọc