Truyện ngắn

Những mùa dứa đi qua

Chiều cuối năm. Từng đợt gió mùa đông bắc ào ào đổ về. Bầu trời vùng biên ải bị trùm kín bởi những đám mây mầu chì xám xịt. Trên tuyến đường xuyên vào nội địa, dưới gốc cây si già, người ta thấy có một người đàn bà đã cao tuổi đứng bên những bao tải hàng chất chồng lên nhau. Mỗi khi có chiếc xe nào chạy qua, chị ta lại giơ tay vẫy vẫy, trông xa như thể cánh con cò bợ chới với trong buổi chiều sương rét mướt. Tưởng có người về quê ăn Tết xin đi nhờ, những chú lái xe liền đạp nhẹ phanh. Nhưng khi xe dừng lại, chị không đi nhờ mà chỉ xin «gửi tặng các chú lái xe bao quà về quê ăn Tết». Đó là những bao nhỏ đựng đầy quả dứa nhỏ chỉ bằng bụm tay, bên ngoài ghi dòng chữ: «dứa Xuân Giao». Năm nào cũng thế, cứ vào tháng áp Tết, chị chuẩn bị rất nhiều bao dứa, gửi theo những chiếc xe không hề quen biết qua đoạn đường này.

Khi bóng chiều sẫm dần, bao dứa cuối cùng đã được gửi đi, con đường bỗng trở nên xa hun hút. Gió càng thổi mạnh, hơi lạnh thấu đến tận xương. Người đàn bà so người lại, đôi vai nhỏ của chị run lên, vừa như rét mướt, vừa như cảm nhận được nỗi cô đơn trên cõi nhân gian này. Lầm lũi, chị lập cập đạp xe trở lại ngôi nhà nhỏ của mình phía xa xa nép dưới chân đồi vắng.

Người đàn bà ấy sống độc thân ở vùng đồi núi hoang vu này đã hơn 30 năm. Xung quanh nhà, chị chỉ trồng độc một loài dứa. Giống dứa quả chỉ bằng quả thị, nhưng vị ngọt dịu và đặc biệt rất thơm. Khi gọt vỏ ngoài, lớp thịt dứa mầu vàng nâu, óng ánh như mật ong rừng. Hơn 30 năm về trước, ở nơi đây từng tồn tại một nông trường có tên gọi «Nông trường quốc doanh Xuân Giao». Vì nông trường có giống dứa thơm ngon nổi tiếng, nên người ta đặt luôn tên cho nó là dứa Xuân Giao. Vào mùa thu hoạch, những chiếc xe tải chất đầy bao dứa, nối đuôi nhau vận chuyển lên «hữu nghị quan» để xuất khẩu. Sau cuộc chiến tranh biên giới tháng 2/1979, Nông trường Xuân Giao bị quân Trung Quốc đốt phá tan hoang. Mười mấy năm sau, thực hiện đường lối «giao đất giao rừng» cho hộ công nhân, chị được nhận mấy ha đất đồi. Mặc dù ở quanh vùng, người ta chuyển đổi sang giống cây trồng khác, hoặc có trồng dứa, nhưng là giống dứa lai của Trung Quốc, quả to và năng suất gấp mấy lần. Nhưng khu đồi của chị, giống dứa Xuân Giao vẫn chen nhau mọc, lớp nọ chồng lên lớp kia. Lớp này già, lớp khác lại mọc, quả nhỏ tẹo. Do thiên nhiên khắc nghiệt, loài dứa này dần bị thoái hóa, quả choắt lại, nhưng nó vẫn giữ được hương vị rất riêng. Chiều đông, những «mắt dứa» vàng hoe ngơ ngác giữa bốn bề hoang vu, như đang ngước nhìn bầu trời biên ải một mầu hoang vu, thảm đạm. Khu vườn của chị vô tình trở thành «bảo tàng thiên nhiên», bảo tồn giống dứa và tên gọi của một nông trường quốc doanh đã chết, giờ chỉ còn trong ký ức của một số con người đã từng làm công nhân của nông trường thời ấy.

Mot-ngay-moi---Tran-Khanh-Chuong
Trích tranh Một ngày mới – sơn mài – Trần Khánh Chương.

Khi đến làm công nhân đội trồng dứa của Nông trường Xuân Giao, chị mới tròn 18. Giờ thì chị đã ngoài 60. Gần 45 năm trôi qua, chị sống một mình trong ngôi nhà nhỏ với quyết tâm duy trì sự tồn tại của giống dứa Xuân Giao. Trước nhà trồng dứa, sau nhà cũng là dứa. Ngàn vạn đôi mắt dứa đăm đăm như quyết tâm cùng chị chờ đợi người xưa trở về. Năm nào cũng thế, cứ vào dịp cuối năm, chị lại bẻ những quả dứa cho vào bao tải, tự mình buộc lên xe, mang ra con đường chính, gửi theo những người lái xe qua đoạn đường như niềm tin nhắn gửi người tình năm xưa, gặp nhau một lần trong cái hang đá như thời tiền sử, vừa hạnh phúc, vừa đau đớn xót xa ngày ấy…

Gần 40 năm về trước, có một người con gái đất Hà Nam xuân sắc mặn mà nhận quyết định về làm công nhân trồng dứa tại Nông trường quốc doanh Xuân Giao. Thời ấy, đất nước vừa đi qua chiến tranh, kinh tế còn cực kỳ khó khăn. Cơm ăn chỉ có hạt mì, hạt mạch. Nhưng đổi lại, thừa thải là tiếng hát. Tuổi trẻ ngày ấy chỉ có trái tim cộng sản và ý chí biến vùng đồi hoang nơi vùng núi giáp biên giới thành thiên đường của chủ nghĩa xã hội. Các chị đều là đoàn viên Thanh niên, xung phong đi xây dựng vùng kinh tế mới. Đêm đêm những bài ca cách mạng vang động núi rừng. Các chị hát từ khi dứa mới trồng cho đến khi thu hoạch, vẫn những bài ca cách mạng rực lửa nhiệt tình. Đội công nhân trồng dứa của chị có hơn 200, là nữ Thanh niên xung phong vừa hoàn thành nhiệm vụ trong cuộc chiến tranh chống Mỹ, cứu nước. Còn lại, được tuyển từ vùng đồng trũng xa xôi, chiêm khê mùa thối. Cả nông trường có hơn 2.000 nữ công nhân, cùng nuôi ý chí mở mang vùng kinh tế mới. Cuối cùng, sức trẻ đã chiến thắng. Bốn năm sau, bằng sức lao động cần cù, bạt rừng, xẻ núi, một nông trường đã hình thành. Từng dãy nhà công nhân lợp lá cọ xinh xắn nép dưới chân đồi bạt ngàn dứa. Chiều chiều sau tiếng kẻng báo hết giờ làm việc, từng toán nữ công nhân tràn về khu tập thể, tiếng cười tiếng nói ríu rít như tiếng chim, lời hát vút cao, một vùng núi đồi hoang vu là thế, bỗng trở nên tưng bừng náo nhiệt âm thanh của hàng ngàn con người đang hăng say xây dựng cơ sở vật chất cho mô hình xã hội chủ nghĩa nơi miền đất hoang vu này.

Nhưng tất cả đã đổ sụp chỉ sau một đêm. Đó là một đêm khủng khiếp, đêm 17/2/1979. Tai họa bất ngờ giáng xuống những mái đầu xanh tuổi trẻ. Lũ quỷ đội lốt người từ phía bên kia biên giới tràn sang. Chúng lặng lẽ bao vây khu lán trại nữ công nhân trong tay không một tấc sắt. Các cô gái nông trường sau một ngày làm việc cật lực, ngủ say trên những chiếc giường tre đơn sơ. Những khuôn mặt thiếu nữ độ tuổi trăng tròn, ấp ủ bao giấc mơ, khát vọng về một tương lai tươi sáng nơi miền biên giới phía Bắc của Tổ quốc thì tất cả bật dậy bởi tiếng súng nổ chát chúa. Bốn phía lửa cháy rực trời. Các chị vừa tỉnh cơn mơ, dụi mắt chưa hiểu việc gì, đã thấy một lũ người ào ào xông tới. Tiếng cười man rợ, tiếng la hét âm thanh rất lạ. Bọn chúng kéo các chị khỏi giường, lôi đi lệt sệt. Trong hoảng loạn, chỉ thấy trước mắt những bộ mặt man rợ hiện lên trong ánh lửa. Tiếng súng nổ gần chát chúa vì nhiều chị em kháng cự, giằng co quyết liệt. Khắp nơi vang vọng tiếng kêu rú thất thanh. Cả dãy nhà xinh đẹp lợp lá cọ mà mấy tháng trời chị em leo đèo lội suối đẵn gỗ dựng lên, đã bị súng phun lửa đốt cháy, lửa bốc lên trời ngùn ngụt. Tiếng kêu cứu, tiếng thét đau đớn, tiếng tre luồng nổ lộp độp vang động cả một khu đồi. Chị bị hai thằng lính khác kéo lê đến bên một hõm đá. Chúng giật tung tất cả những gì còn lại trên thân thể chị rồi thay nhau hãm hiếp…

Khi tỉnh dậy, chị thấy mình đang nằm trong một hang đá có mái vòm như thời tiền sử. Toàn thân đau đớn, nhìn quanh, không một bóng người. Nhớ lại chuyện khủng khiếp trong đêm, chị thét lên rồi vùng chạy khỏi hang. Nhưng có một bàn tay mạnh mẽ giữ chị lại và giọng nói trầm ấm: – Cô đừng sợ! Tôi là lính quân báo của bộ đội chủ lực. Trong mấy trăm xác chết của các cô gái nông trường bị chúng hành hạ, người còn sống, duy nhất là cô đấy! Trời ơi! Đây là thật hay cơn ác mộng đây? Chị gục xuống mềm rũ như một cái xác.

Nửa ngày sau, chị tỉnh hẳn nhưng không dám ngước lên. Đêm qua, người lính quân báo này bế chị từ nơi những con thú đội lốt người đã cướp đi cuộc đời trinh nữ của chị về đây. Không biết bao nhiêu đứa đã để lại dấu vết thú vật trên cơ thể chị? Trời ơi! Sao không để cho chị chết đi, anh ta cứu chị cùng tấm thân ô nhục này để làm gì?

Người lính quân báo như hiểu tâm trạng của chị. Anh nhẹ nhàng: – Em đừng nghĩ ngợi nhiều, chúng nó chỉ là loài súc vật!

- Nhưng đau đớn lắm anh ơi! – Chị lại gục xuống, nấc lên trong tuyệt vọng.

Ngày dần trôi qua, khi bóng đêm đã đặc sệt trong hang đá, hai người vẫn ngồi bên nhau lặng lẽ. Trời càng về khuya càng lạnh. Biết chị lạnh, nhưng anh không dám đốt lửa. Ở bên ngoài, bọn giặc vẫn đang di chuyển vào sâu nội địa ta. Thỉnh thoảng lại có tiếng đạn pháo dội lên. Chắc là đạn pháo của quân ta bắn tới. Người chị run lên bần bật. Đêm đã khuya, từng đàn dơi đậu túm tụm lại với nhau, kêu chí chóe. Anh cởi áo rét của mình khoác lên người chị rồi đỡ chị nằm xuống đống lá khô anh đã chuẩn bị từ chiều. Anh cứ ngồi như thế đợi sáng. Nhờ có anh ngồi sát bên mình mà chị đỡ lạnh. Không lẽ cứ để anh ngồi mãi như thế, tự nhiên chị thấy anh gần gũi và thân thiết với cuộc đời mình. Quả là một người lính dũng cảm và trong sáng. Chỉ cần chứng kiến thái độ xử sự của anh, chị khẳng định, đây đúng là một con người chân chính. Khi những tia sáng đầu tiên le lói nơi cửa hang, không nén nổi, chị quàng tay kéo anh nằm xuống bên mình…

Sức khỏe chị dần hồi phục. Một ngày nữa lại trôi đi, ở bên ngoài, những dãy nhà công nhân vẫn âm ỉ cháy. Xa xa, tiếng súng của quân ta vẫn dội lên quyết liệt. Bước sang ngày thứ ba, anh đã định để chị ở lại hang, còn mình tiếp tục trinh sát tình hình địch. Nhưng chị vẫn còn yếu lắm và xung quanh hang bọn địch vẫn rập rình. Bánh lương khô cuối cùng và bình toong nước của anh mang theo đã hết. Thực ra thì đáng lẽ hết từ ngày đầu, nhưng anh đã nhịn đói, khát để dành cho chị. Buổi chiều hôm ấy, đáng lẽ phải chia tay chị tiếp tục nhiệm vụ thì bỗng nhiên anh lên cơn sốt. Có lẽ sau bao nhiêu ngày luồn rừng lội suối, thần kinh căng thẳng, chịu đói rét theo dõi hành tung quân địch, đến bây giờ cơ thể mới suy sụp. Suốt đếm hôm ấy người anh run lên, toàn thân nóng hầm hập. Trong mê sảng, anh chỉ thều thào: Nước… khát… Đến gần sáng thì anh lả đi. Đôi môi khô của anh nóng như lửa. Chắc anh khát lắm! Làm thế nào để cứu người trai trẻ dũng cảm đã cứu mình thoát chết ? Chị nghĩ đến những quả dứa Xuân Giao mọng nước. Nhưng bên ngoài cửa hang kia là sự hoang tàn, là xác người, là bọn giặc Tầu rình rập. Liệu chị có đủ sức vượt qua để tìm hái những quả dứa mọng nước mang về cứu anh hay không? Và, trong lúc nguy nan ấy, để cứu người mà mình đã mang nghĩa nặng ơn sâu, bản năng người vợ, người mẹ đã chiến thắng. Bất chấp nỗi sợ hãi còn ngự trị, chị băng ra cửa hang. Sau này, chị cũng không biết lúc ấy bằng cách nào mà vượt qua được bãi xác người ngổn ngang đã bốc mùi hôi thối trong cái đêm khủng khiếp như thế. Cả một đồi dứa bạt ngàn, bị chúng dùng súng phun lửa đốt cháy nham nhở. Trong bóng đêm đen đặc mùi tử khí, chị lần tìm mãi mới thấy vài khóm dứa mọc dưới một hõm đá sót lại. Chị lần bẻ vài quả dứa chín còn nguyên vẹn dắt quanh người, rồi lật đật mò mẫm trở về hang.

Chị đập vào vách hang cho quả dứa vỡ làm đôi rồi nhẹ nhàng vắt những giọt nước dứa ngọt lịm vào miệng anh. Đôi môi khô rộp của anh tươi dần sau mỗi lần như thế. Chị cũng không nhớ bao nhiêu lần chị đã băng ra ngoài, vượt qua bãi xác người để lần tìm những quả dứa Xuân Giao mang về để cứu anh. Khi đã tỉnh, nhìn đống bã quả dứa quanh mình, anh chợt hiểu. Thì ra người con gái xinh đẹp này đã bất chấp hiểm nguy, bao nhiêu lần một mình băng ra đồi tìm dứa để cứu mạng sống của mình. Anh lặng lẽ nắm chặt tay chị như tỏ lòng biết ơn và cũng như gửi đi một tín hiệu cho mối tình đầu chớm nở giữa những ngày đầy đau thương mất mát.

- Phải chia tay nhau thôi em!

Anh xa đơn vị đã mấy ngày rồi! Còn bao công việc đang chờ, cuộc chiến còn trước mắt. Anh và đồng đội sẽ trả thù cho em và những người bị chúng giết hại…

Chị gục vào ngực anh, nói trong nước mắt: – Sau này, em biết làm thế nào để tìm được anh đây? Ôi, anh ơi! Nếu đời em không có anh? Trong giây phút ngắn ngủi, thiêng liêng, họ cảm nhận như mỗi lời nói ra với nhau đều có thánh thần chứng giám. Anh cầm quả dứa nâng lên ngang mặt, đăm đăm nhìn từng con mắt dứa mở to, như muốn nhắn gửi cả người lẫn dứa một điều hệ trọng, rồi nhẹ nhàng đặt nụ hôn nồng nàn lên môi chị. Anh nói chậm từng tiếng như để khắc sâu vào tâm khảm của cả hai người: – Bao giờ giống dứa Xuân Giao còn tồn tại thì anh sẽ còn tìm gặp em! Nhất định là thế! Chúng mình sẽ mãi mãi bên nhau, em cứ tin anh!

Anh đi rồi, chị mới biết mình đã mang thai. Giọt máu trong người chị không biết là của anh hay của lũ giặc đây? Chị luôn sống trong nỗi sợ hãi, lo âu. Nhưng rồi đứa con chị sinh ra, trong hoàn cảnh khó khăn thiếu thốn thời ấy, nó cũng chỉ ở với mẹ vài tháng trời rồi ra đi mãi mãi. Người ta chôn cất nó ngay trên ngọn đồi cùng với mộ những nữ công nhân bị giặc sát hại vào đêm lịch sử ấy.

Đã gần 40 năm trôi qua, người lính quân báo ấy không một lần trở lại nông trường. Anh ở đâu? Còn sống hay đã chết? Không! Nhất định anh vẫn còn sống. Còn lời thề của anh trong cái đêm hạnh phúc chen lẫn sự đớn đau tủi hờn. Nhưng còn sống, sao bao nhiêu năm rồi anh không trở lại nơi đây tìm chị? Hay anh đã có người khác? Không! Không bao giờ! Con người ấy, nhất định không phải là kẻ bội bạc! Bao đêm dài, chị tự đặt câu hỏi rồi tự trả lời, nước mắt đầm đìa trên gối. Nhớ lời anh dặn trước lúc chia xa, mỗi năm đến mùa dứa chín, người đàn bà ấy lại đăm đăm ngóng ra con đường vắng. Và cứ thế, cứ mỗi độ xuân về, nỗi đau đớn xót xa trong cái đêm rùng rợn ấy cùng với niềm tin trong lòng chị lại bùng lên. Cho mãi đến bây giờ, mỗi năm Tết đến, người đàn bà đã một lần hẹn thề với chàng lính quân báo năm xưa vẫn lặng lẽ gửi những quả dứa Xuân Giao tới khắp miền quê, như gửi đi những tín hiệu cho anh, người mà chị đã trao gửi mối tình thủy chung, gặp nhau cái đêm trong hang đá, vừa hạnh phúc, vừa đau đớn xót xa ngày ấy…

Chị lầm lũi trở về ngôi nhà vắng lạnh. Gió từ những khe hở nơi dốc núi cao tuồn về ào ào như dòng ký ức lạnh buốt. Lạnh quá! Chị lật đật nhóm lửa. Ngoài kia, bóng đêm trùm xuống đen kịt, không còn mưa nhưng lạnh đến ghê người. Chị nhìn ra ngoài đường, đã thưa thớt bóng xe qua. Ánh đèn pha từ những chiếc xe sáng quắc soi vào khu đồi dứa của chị. Dưới ánh sáng của vệt đèn pha, cả đồi dứa nằm rạp xuống như sợ hãi. Chị thảng thốt nhìn những khóm dứa già, lá héo quắt, trơ trọi những thân dứa khẳng khiu, khi lá dứa rụng để lại trên thân cây từng vết tròn như thể cột xương sống người chết dưới huyệt mộ. Bất giác chị rú lên, lảo đảo gục xuống chiếc giường đơn độc. Chị nhìn thấy một biển người quần áo mầu cứt ngựa, tay lăm lăm những khẩu súng phun lửa, từng đợt từng đợt lao lên như đàn chó sói, tiến vào khu nhà ở của nữ công nhân, kéo lê từng người ra khỏi chỗ ở, thân thể họ lõa lồ, trắng lốp. Rồi trong chớp mắt, trong tiếng nổ đinh tai nhức óc, từng vòng lửa bùng lên. Những khóm dứa bị sức nóng từ những họng súng kia thiêu đốt, cả một đồi dứa gục xuống rũ rượi. Và khi lửa tắt, cả khu đồi dứa chỉ còn trơ lại những thân cây đen sì như cột xương sống người bị hỏa thiêu chưa cháy hết…

Trịnh Tuyên
(Hội VHNT Thanh Hóa)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 408

Ý Kiến bạn đọc