Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Những mới lạ “Giữa hai chiều săn đuổi”

 

Mồng 4 Tết Canh Tý (2020), tôi đọc xong cuốn tiểu thuyết mới của nhà văn Xuân Hồng, gồm 622 trang. Có cảm giác ngỡ ngàng, mến phục khi biết đây là công sức sáng tạo Văn chương suốt 5 năm trời của một ông già năm nay đã bước sang tuổi thọ thứ 83.

“Nói thực với ông, sau 3 năm cặm cụi tôi viết cả thảy 1.000 trang. Viết xong, buông bút, rời rã cánh tay, người rỗng roãng bải hoải, tôi gói ghém đống trang viết, cất đi. Nghỉ ngơi một năm, lại lại sức, mang ra đọc, thấy không ổn, thiếu ít, thừa nhiều, tôi quyết định viết lại. Mất đúng một năm, bản thảo mới còn từng ấy trang, tôi gửi ông và Nhà xuất bản đọc giúp cho…”. Từ thành phố Hồ Chí Minh, ông khàn khàn tâm tình với tôi qua điện thoại mấy lời này, khi nghe tôi báo tin đã nhận được bản thảo ông gửi. Công sức ông như thế đã níu kéo tôi vào những trang chữ ông viết, và mừng sao, công sức ấy được NXB Hồng Đức ghi nhận, ủng hộ, để giữa những ngày xuân Canh Tý tiểu thuyết của ông đến với bạn đọc.

Có thể nói, “Giữa hai chiều săn đuổi” là một Tiểu thuyết – Sử thi đúng nghĩa, phản ánh giai đoạn quan trọng bậc nhất của Cách mạng Việt Nam từ ngày phát xít Nhật đặt chân xâm lược lên đất nước ta với chiêu bài thuyết “Đại Đông Á”, nhưng thực chất là hất cẳng Pháp để độc chiếm Việt Nam và Đông Dương. Nhìn rõ nguy cơ ấy, Tổng Bí thư Trường Chinh ký ban hành Chỉ thị nổi tiếng: “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta!”. Đúng như dự liệu của Đảng, Nhật đã nổ súng gạt Pháp, thiết lập thêm ách đô hộ thứ hai, dân ta chịu ách một cổ hai tròng, với chính sách tàn bạo của phát xít Nhật bắt dân ta nhổ lúa trồng đay, dẫn tới nạn đói khủng khiếp tháng 3 năm Ất Dậu (1945), dân ta chết đói 2 triệu người. Rồi Cách mạng tháng Tám năm 1945 nổ ra trên toàn quốc thắng lợi, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, với “Tuyên ngôn Độc lập” nổi tiếng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tại Quảng trường Ba Đình. Nước Việt Nam mới của thời đại Hồ Chí Minh vừa thành lập đã vấp ngay thù trong giặc ngoài: 18 vạn quân Tàu Tưởng tràn vào phía Bắc, cùng với đó là quân Anh vào phía Nam, với nhiệm vụ vào tước khí giới quân Nhật thua trận, nhưng cả hai đoàn quân này đều vào nước ta với ý đồ xấu, nên chúng gây cho Chính phủ và nhân dân Việt Nam vô vàn khó khăn. Ở miền Bắc, quân Tưởng dẫn theo các đảng phái phản động như Việt quốc, Việt cách, Quốc dân Đảng. Trong Nam, quân Anh che chắn đưa quân Pháp trở lại. Tình thế đất nước như ngàn cân treo sợi tóc trước sự chống phá của các đảng phái phản động và dã tâm xâm lược của thực dân Pháp. Song, với sự chèo lái khôn khéo, tài tình của Đảng và Bác Hồ, ta đã tống tiễn được lũ Tàu Tưởng và các đảng phái phản động theo đóm ăn tàn, rảnh tay chống chọi với giặc Pháp. Và rồi, kháng chiến toàn quốc bùng nổ, cuộc kháng chiến chống Pháp diễn ra, theo chủ trương “Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi” (tên tác phẩm nổi tiếng của Tổng Bí thư Trường Chinh), trải qua 3 giai đoạn quyết chiến chiến lược: Phòng ngự – Cầm cự – Phản công, với sự chỉ đạo kháng chiến và các chiến dịch lớn ứng với từng giai đoạn, cuối cùng là chiến dịch Điện Biên Phủ chấn động địa cầu, đem lại hòa bình cho miền Bắc.

Tất cả diễn tiến lịch sử vừa kể trên đây đều hiện ra trên hơn 600 trang tiểu thuyết của nhà văn Xuân Hồng, với những tên tuổi lịch sử của cả hai phía: từ Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng Bí thư Trường Chinh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đến cựu Hoàng Bảo Đại, Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam; rồi các tướng Tiêu Văn, Hà Ứng Khâm, Trương Phát Khuê của Tàu Tưởng; Toàn quyền Đờ-cu, Toàn quyền Sanh-tơ-ni, các tướng Va-luy, Sa-lăng, Đờ-tát Xi-nhi, Na-va, Đờ-cát-tơ-ri của thực dân Pháp.

Có thể nói không ngoa rằng, “Giữa hai chiều săn đuổi” là một Sử thi sinh động, hấp dẫn về giai đoạn lịch sử từ trước cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền, lập nên nước Việt Nam mới – Nhà nước Công – Nông đầu tiên ở Đông Nam Á, và cuộc kháng chiến chống Pháp trường kỳ, gian khổ suốt 9 năm trường, kết thúc bằng chiến thắng Điện Biên Phủ nổi tiếng. Vì vậy, cuốn sách không chỉ có giá trị đối với bạn đọc lớn tuổi – những người cùng thời, chứng kiến giai đoạn lịch sử quan trọng này có dịp hồi tưởng lại những gì họ chứng kiến, họ trực tiếp tham gia, mà rất có ích với lớp lớp bạn đọc trẻ tuổi hôm nay, giúp họ biết được lịch sử oai hùng của dân tộc và những cống hiến to lớn của cha ông trong công cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp thắng lợi.

Câu chuyện bắt đầu bằng việc An đưa hai con trai lặn lội lên châu Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng để gặp chồng là đội Trúc, cho dù đang ngày đông tháng giá rét buốt và cậu con trai thứ hai còn đang ẵm ngửa. Lý do: vì An nghe phong thanh Trúc có vợ bé và đã có con với cô ta. Ngỡ đâu chuyện chỉ xoay quanh sự ghen tuông vợ cả, vợ lẽ, nhưng không, đội Trúc nhận lệnh phải rời đồn binh ở Nguyên Bình, cùng cai Thâu và mẹ con An về Yên Bái, và bắt đầu bị thời cuộc đẩy ngoặt đi. Trên chặng đường từ Nguyên Bình về thị xã Cao Bằng và đi tiếp từ Cao Bằng sang thị xã Lạng Sơn để đi tàu hỏa về Hà Nội, sau đó từ Hà Nội đáp tàu lên Yên Bái, đội Trúc tận mắt chứng kiến các đoàn bộ binh, kỵ binh Nhật ùn ùn kéo vào nước ta, và chứng kiến sự ươn hèn, bất lực, rồi nhượng bộ của nhà cầm quyền Pháp. Thực trạng ấy khiến Trúc lo lắng. Anh là một người vốn cả nghĩ, có lòng yêu nước thương nòi, đi lính khố xanh chỉ là do hoàn cảnh cần tiền để nuôi vợ con. Chính quyền bảo hộ Pháp trả lương cho binh lính khá cao, và khi họ được lên chức cai, đội thì vợ con họ được cấp lương. Nếu chẳng may họ bị chết trận thì người vợ góa được hưởng tiền tuất đến già, các con họ được hưởng tiền tuất đến năm 18 tuổi. Chế độ lương bổng hậu hĩ ấy đã lôi kéo Trúc và không ít trai tráng nông dân người Việt đăng lính cho Pháp. Sự chỉn chu, nghiêm túc của Trúc trong cuộc sống lính tráng đã được các sĩ quan chỉ huy người Pháp ghi nhận, nên sau vài năm làm lính, anh được cử đi theo học bổ túc ở trường võ bị Quảng Yên, rồi được lên lon cai, và trước khi rời Nguyên Bình về Yên Bái, Trúc được thăng chức đội. Tới Yên Bái, đội Trúc được giao huấn luyện lính mới, sau đó nhận lệnh dẫn gần 20 lính khố xanh lên tăng cường cho “căng” Nghĩa Lộ. Chân ướt chân ráo tới nơi, lên đến trại tù, thì bất ngờ Trúc chứng kiến tù nhân đã nổi dậy bắt sĩ quan Pháp, phá nhà tù. Lấy cớ bảo vệ viên sĩ quan Pháp đang nằm trong tay những người tù nổi dậy, Trúc lệnh cho binh lính không được bắn tù nhân, và ngầm ra hiệu cho họ rút đi. Hành động ấy của đội Trúc lọt vào quan sát của một tù nhân là cán bộ Việt Minh tên là Bùi Đình. Cũng hôm ấy, An lấy hộp sữa của con cứu sống một người sắp chết đói, tiếp đó, An nhờ thêm người cùng mình nấu cháo phát chẩn cho hàng trăm người vì nạn đói phải kéo nhau đến thị trấn ăn mày. Vậy là, chẳng hẹn mà nên, vợ chồng Trúc – An đều làm những việc tốt: cứu tù, cứu đói. Đó là những bước đầu tiên hai vợ chồng đội Trúc đi theo Cách mạng, dù buổi tối hôm ấy, khi cán bộ Việt Minh vừa ra tù là Bùi Đình tìm đến gặp Trúc để vận động Trúc tham gia Cách mạng, anh chưa nhận lời, kể cả khi Bùi Đình mời anh làm cố vấn quân sự để huấn luyện cho dân quân tự vệ Nghĩa Lộ. Nhưng rồi, khi trở lại Yên Bái, gặp lúc nhân dân theo Cách mạng nổi dậy chống Nhật, cướp chính quyền, đội Trúc đã tự nguyện chỉ huy quân sự chống Nhật, cứu mấy trăm người thoát chết ở nhà ga Yên Bái, tiếp đó chỉ huy lực lượng Cách mạng đánh chiếm các công sở của Nhật và Pháp ở thị xã. Cũng lúc đó, Trúc lại đưa được vợ con Phó Giám binh Bô-phe lánh nạn sang Côn Minh an toàn, được vợ chồng Bô-phe mang ơn. Những việc làm hữu ích cho cả hai phía, rồi do nhiệm vụ, Bùi Đình thành người chỉ huy lực lượng Công an vùng Nam Định, trong khi Bô-phe chỉ huy Phòng Nhì Pháp cùng địa bàn, và thế là đội Trúc thành người đứng giữa hai làn đạn, giữa sự săn đuổi của Cách mạng và Pháp, ngay cả khi anh đã được giao chức vụ Trưởng phòng chống buôn lậu của Công an Nam Định, rồi sau đó lại làm Phó Đổng lý phủ Thủ hiến của Ngụy quyền thân Pháp. Thân phận của vợ chồng Trúc – An kết thúc thế nào, xin quý bạn đọc tự tìm hiểu qua phần sau của tiểu thuyết sẽ rõ.

Điều thứ ba rất đáng chú ý của thiên tiểu thuyết “Giữa hai chiều săn đuổi” là việc xây dựng nhân vật. Chỉ riêng những nhân vật có tên tuổi, cấp chức thì đã có đến con số vài chục, xoay quanh 3 nhân vật trung tâm là đội Trúc, vợ anh và người bạn thân thiết nhất với anh, luôn có mặt bên anh từ đầu đến cuối truyện là cai Thâu. Vài chục nhân vật này, trong hơn 600 trang sách chưa phải là nhiều, nhưng đọc kỹ và ngẫm nghĩ, sẽ thấy nổi lên một đặc điểm, mà tôi đồ rằng nằm trong ý đồ sáng tạo tiểu thuyết mới của nhà văn Xuân Hồng. Trước tiên, trong số vài chục nhân vật vừa thống kê, những nhân vật còn lại đều là những hạ sĩ quan trong lực lượng lính khố xanh của Pháp… Có quan hệ với họ, tuy mức độ thân thiết khác nhau là An – vợ Trúc, và Bình – anh vợ Trúc, người từng làm lý trưởng, sau đó “dinh tê” vào Hà Nội làm quận trưởng cho Pháp. Nhìn vào thành phần xuất thân của những nhân vật đó, dưới con mắt của cán bộ Tổ chức Việt Minh thấm nhuần sâu sắc về một cuộc đấu tranh giai cấp không khoan nhượng, thì họ đều thuộc thành phần Cách mạng không tin tưởng, phải cảnh giác với họ. Đây là lần đầu tiên có một cuốn tiểu thuyết về tầng lớp người này, một tầng lớp trung lưu, có hiểu biết, dễ phân hóa.

Với cuốn tiểu thuyết này, nhà văn Xuân Hồng đã tạo ra được sự mới lạ, hấp dẫn trong bút pháp, mà nhất là, lần đầu tiên trong Văn học Việt Nam hiện đại, ông cho người đọc thấy được thân phận của cả một tầng lớp người xuất thân với vị thế éo le…

Phạm Ngọc Chiểu
(Phường Khương Đình – Hà Nội)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 588

Ý Kiến bạn đọc