XEM BÁO GIẤY
Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Những mối chân tình của Cụ Thượng Chi

GS Nguyễn Đình Chú ca ngợi Cụ Thượng đã dõng dạc tuyên bố bằng tiếng Pháp cho người Pháp đọc vào năm 1931.

“Phạm Quỳnh là người mở đầu cho văn hóa Việt hiện đại. Ông có cả một lý thuyết hẳn hoi về độc lập và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa dân tộc (quốc gia) và nhân loại, thế giới. Đó chính là hạt nhân của lý thuyết hội nhập hiện đại. Nhờ lý thuyết đó, Phạm Quỳnh không bị văn hóa phương Tây áp đảo, ông dõng dạc tuyên bố bằng tiếng Pháp cho người Pháp đọc vào năm 1931: Người An Nam không thể coi nước Pháp là Tổ quốc được, vì chúng tôi đã có một Tổ quốc (Phát biểu tại buổi giao lưu nhân dịp xuất bản cuốn Tiểu luận viết bằng tiếng Pháp của Phạm Quỳnh trong thời gian 1922-1932 do NXB Tri Thức tổ chức. Sách do NXB này in, lưu chiểu quý IV/2007. Xem Phạm Quỳnh trong dòng chảy văn hóa dân tộc. Khúc Hà Linh biên soạn. NXB Thanh Niên quý I/2012, trang 112-113). Buổi ấy GS Chu Hảo, Giám đốc NXB Tri thức rất tự hào: Đây là cuốn sách gối đầu giường về văn hóa nước ta…

Pham-Duy-Ton---Pham-Quynh---Nguyen-van-Vinh
Từ trái: Phạm Duy Tốn – Phạm Quỳnh – Nguyễn Văn Vĩnh ở Paris năm 1922 – Ảnh tư liệu

Câu GS Chú nhấn mạnh đã bị tách khỏi ngữ cảnh dẫn đến suy luận không đúng. Thưa Giáo sư, cái Tổ quốc ấy bây giờ (1931) ở đâu? Trong bài Những trạng sư vụng về của Cụ Thượng Chi (Luận chiến văn chương Quyển Ba. NXB Văn học 2015), ông Chu Giang đã có biện luận tuy ngắn gọn nhưng xác đáng. Nay GS vẫn hết lòng biện bác cho cái sai của mình, làm cho Cụ Thượng cũng bị oan lây, nên Năm Châu Đốc lại phải thưa gửi lại. Nguyên câu đó trong Thư ngỏ gửi Ngài Bộ trưởng thuộc địa (Xem Tiểu luận viết bằng tiếng Pháp… trang 375-382). Đây là một văn bản rất quan trọng khi nghiên cứu về Phạm Quỳnh. Dẫu trích dẫn một câu một chữ cũng phải nắm được tư tưởng của Cụ Thượng, trên cơ sở tôn trọng tinh thần và lời văn của văn bản. Chúng tôi biết rằng, không có một sự tóm lược siêu việt nào thay thế cho việc tiếp cận toàn bộ văn bản. Vì vậy chỉ cố gắng tìm ra những điểm nhấn trong tư tưởng và văn bản của Cụ Thượng ngõ hầu giúp bạn đọc hình dung được vấn đề và tiếp tục xem xét trên cơ sở các văn bản mà chúng tôi đã chua xuất xứ.

Trong Thư ngỏ nói trên, Cụ Thượng điểm qua truyền thống lịch sử của người nước Nam, cũng từng là đế quốc, từng đi chinh phục và hiện tại thì bị nước Pháp chinh phục. “Số phận đã an bài. Nước Nam từ rày gắn bó không thể tách rời nước Pháp” (sđd., tr.377). Tuy gắn bó như vậy, nhưng vẫn là một dân tộc không có Tổ quốc: “… chúng tôi là một dân tộc đi tìm kiếm một Tổ quốc và chưa tìm thấy Tổ quốc đó” (sđd., tr.378). Cụ Thượng nhận đó là nỗi đau của cả dân tộc. Để giải thoát dân tộc khỏi nỗi đau mất Tổ quốc, Cụ Thượng đã tỏ ra một thiên tài hùng biện rất thống thiết:

“Tổ quốc này, thưa Ngài Bộ trưởng, đối với chúng tôi không thể là nước Pháp. Mong sao lời lẽ này không làm Ngài bực mình. Nói thế không hàm chứa bất kỳ chủ định xấu nào. Chỉ là nói lên một sự thật nghiêm nhặt: Người nước Nam không thể coi nước Pháp là Tổ quốc của mình, bởi vì người nước Nam đã từng có một Tổ quốc. Và Tổ quốc đó, nước Pháp chỉ có thể trao lại cho họ bằng cách cấp cho họ một quy chế chính trị có khả năng phát triển nhân cách của họ với tư cách là một quốc gia và bảo đảm cho họ một đời sống quốc gia xứng với cái tên này trong khuôn khổ đế chế Pháp.

Và như vậy nước Pháp sẽ còn hơn cả Tổ quốc của chúng tôi, nước Pháp đối với chúng tôi sẽ là ân nhân suốt đời, vị ân nhân dưới sự bảo hộ của Pháp đã giúp chúng tôi khôi phục một Tổ quốc đã mất (sđd., tr.382).

Cụ Thượng hy vọng Ngài Bộ trưởng thuộc địa sẽ đem lại cho người nước Nam cái Tổ quốc đã mất: “Nhưng Tổ quốc này, người nước Nam vẫn còn chưa có và họ đau khổ vì thế. Họ sẽ hạnh phúc khi có nó. Nước Pháp sẽ có thể trao Tổ quốc ấy cho người nước Nam thông qua trung gian là Ngài, thưa Ngài, bằng cách thực hiện một cải cách sâu rộng theo hướng mà chúng tôi đã nhắc những nét chính ở trên…

Tên của Ngài sẽ được tôn kính trong trí nhớ của dân tộc này như người phục hưng quốc gia nước Nam” (sđd., tr.379-382).

Được như thế thì Cụ Thượng cũng vẻ vang chẳng kém gì ngài Bộ trưởng thuộc địa:

“… Tổ quốc mà nước Pháp sẽ khôi phục cho chúng tôi, bằng cả hai tay chúng tôi sẽ dâng tặng lên nước Pháp, để mong nước Pháp sáp nhập nó vĩnh viễn vào trong khối Commonwelth (Khối thịnh vượng chung) của Pháp” (Tiểu luận… – sđd., tr.382).

Pham-Quynh---Pham-Duy-Ton
Phạm Quỳnh (ngồi) và Phạm DUY TỐn (Paris 1922)

Ông Chu Giang có lý khi nói nếu Cụ Thượng làm được vậy thì hẳn là Trương Nghi, Tô Tần đã tái sinh vào Cụ. Uốn ba tấc lưỡi xin lại được Tổ quốc thì cổ kim đông tây chỉ có Cụ Thượng. Mà ngài Bộ trưởng thuộc địa Paul Raynaud sẽ còn hơn cả Mặc Địch. Hào phóng quá. Cho cả một Tổ quốc. Nhưng mà cũng hay thời chiến quốc ấy lại vẫn có những người biết kiến lợi tư nghĩa như Hứa Do, Sào Phủ cho đến nửa thiên hạ vẫn không thèm nhận, còn đi rửa tai. Lịch sử đã không đi theo con đường của Cụ Thượng, ta nói sau. Đây chỉ thưa với GS Chú mấy luận điểm chính như GS đã treo cao ở đầu bài này:

1. Cụ Thượng mở đầu cho văn hóa Việt hiện đại bằng cả một lý thuyết hẳn hoi về độc lập và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa dân tộc (quốc gia) và nhân loại, thế giới.

Lý ra phải chờ đợi GS giải cho rõ. Nhưng Năm Châu Đốc không chờ được, vì đã mấy năm rồi chưa thấy GS giảng giải tiếp, mà chỉ thấy GS tôn Cụ Thượng lên bậc hoàn toàn chân lý (Xem bài kỳ trước, VN TP.HCM số 398).

Năm Châu Đốc đọc đi đọc lại hoài chỉ thấy Cụ Thượng xin người Pháp ban cho một cái Tổ quốc để thờ, rồi lại xin dâng cái Tổ quốc ấy cho người Pháp nhập vào khối Commonwelth. Không thấy nói gì đến quan hệ phụ thuộc lẫn nhau về chính trị, về kinh tế, về văn hóa… giữa nước Nam với nhân loại hoặc tối thiểu là nước Nam với nước Pháp. Thế thì hội nhập nỗi gì? Trước đó Cụ Thượng chấp nhận sự bảo hộ của Pháp. Nhưng Cụ diễn giải thiết tha lắm: Đó là một quốc gia bao gồm ít nhất 15 triệu người… khát khao được sống cuộc sống riêng của mình, dưới sự bảo hộ phóng khoáng của Pháp” (sđd., tr.384). Cụ Thượng rất mong có một Liên bang Đông Dương gồm 5 nước (???) là một… “ hình thức chánh trị phù hợp với tập hợp các phần tử tương đối khác nhau đại diện bởi xứ Đông Dương thuộc Pháp. Cụ Thượng lại ca ngợi thiên tài khai khẩn thuộc địa của một Lyautey đã tạo nên xứ Marốc như một kiệt tác (sđd., tr.385). Hồi Chín Năm, hay nghe từ maroccanh, mà chưa hiểu ý, mong GS giảng cho, nó có liên quan gì đến xứ Marốc kiệt tác của Lyautey? Nói ra sợ dài dòng Năm Châu Đốc nói ví dụ, ấy là phỏng đoán, Cụ Thượng xin người Pháp đừng trói chân trói tay người Nam bắt phải làm thế này làm thế kia. Mà hãy cho chúng tôi được lỏng tay chân, được tự do cho tí chút trong cái lồng Bảo hộ của Quý quốc. Thế cũng là hội nhập hiện đại chăng?

2. Phạm Quỳnh không bị văn hóa phương Tây áp đảo. Chí lý quá! Cụ Thượng chỉ bị áp đảo bởi văn hóa Pháp thôi. Xem bài Sứ mệnh của nước Pháp (sđd., tr.390) thì thấy Cụ Thượng thâm lắm. Người Pháp còn hơn là một dân tộc, còn hơn là một chủng tộc… Người Pháp thực ra là một trạng thái tinh thần và trạng thái này là tổng hợp của tất cả những gì tốt nhất mà văn minh phương Tây đã tạo ra trên phạm vi không còn là quốc gia nữa, mà trên phạm vi nhân loại (sđd., tr.394-396). Người Pháp là… cô giáo của toàn nhân loại. Và Cụ Thượng đã “dõng dạc tuyến bố” trước Viện Hàn lâm nước Pháp thế này: Và dưới tác động của vẻ duyên tinh thần Pháp, chúng tôi dần dần bị cuốn hút, bị chinh phục bởi nền văn hóa và nền văn minh của các Ngài… (sđd., tr.402), chắc là chữ quốc ngữ vào thời Cụ Thượng rất khác với thời của GS Chú ở ĐHSP Hà Nội nên áp đảo rất khác bị chinh phục!

Do không bị áp đảo nên Cụ Thượng lại rất dõng dạc: “Việc nước Pháp xâm chiếm đất nước này đã thành một điều định mệnh mang tính lịch sử, đối với chúng tôi, sự hiện diện của Pháp ở đây hiện nay đã trở thành một tất yếu chánh trị” (sđd., tr.391). Do đó mà “Người nước Nam không còn phải thể hiện ồn ào lòng trung thành của họ đối với nước Pháp. Chỉ cần họ chấp nhận sự đô hộ của Pháp. Yêu cầu họ phấn khởi chấp nhận điều đó, như một ân huệ của Chúa hay một ân huệ Thiên Hựu, tới mức khiến họ quên rằng họ đã từng có một Tổ quốc và không còn tiếc nuối Tổ quốc ấy nữa…” (sđd., tr.390).

Đến thế là cùng. Tầm cao ái quốc của Phạm Quỳnh là như thế đó! Dài dòng mà chi. Ông Chu Giang nói đúng. giáo sư quả là một trạng sư rất vụng về. Càng biện hộ cho thân chủ càng làm nặng thêm tội trạng của thân chủ. Thân chủ nói một đường. Trạng sư cãi một nẻo. Đã từng có một tổ quốc. Rồi lại xin cái Tổ quốc đã mất. Rồi lại dâng tặng Tổ quốc ấy đi. Rồi chấp nhận sự đô hộ của ngoại bang, coi như một ân huệ, đến mức quên đi cái Tổ quốc đã mất, đã đau khổ, đã phải xin lại… Thưa Giáo sư, Thầy cãi cũng nên như Thầy Thuốc. Vọng-văn-vấn-thiết cho thấu đáo rồi tùy chứng lập phương. Cứ như trên thì bộ mạch của Cụ Thượng đã vào ốc lậu rồi. Mà theo Thầy Khổng, là đạo bất nhất quán chi rồi không cứu được. Thì cũng nên nói cho rõ cái tình thế… Đằng này, Giáo sư lại “vạch áo cho lấm lưng” Cụ Thượng chứ không phải chiêu băng mộ tuyết gì đâu. Trạng sư giỏi đến đâu cũng phải chấp nhận án tại hồ sơ. Cái hồ sơ bệnh án của Cụ Thượng là do nhóm ông Phạm Toàn Cẩn tự cung cấp đấy. Chắc Giáo sư bận quá hoặc giả tuổi cao… Nên Năm Châu Đốc xin tạm dừng bút không dám quấy bận, để Giáo sư có thời giờ ngâm cứu.

Kính chúc Giáo sư mạnh khỏe.

Pleiku, Trước và sau
Ngày sách Việt Nam, 21-4-2016
Năm Châu Đốc kính!

Năm Châu Đốc
(Tiếp theo VN TP. HCM, số 398)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 401

Ý Kiến bạn đọc


Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Những mối chân tình của Cụ Thượng Chi

Gần đây một số người trích dẫn cụ Phạm Thượng Chi không nghiêm túc, vừa vi phạm tác quyền vừa hiểu sai ý cụ. Kỳ này luận một câu.

Trong Lời nhà xuất bản quyển Truyện Kiều do NXB Trẻ vừa in đầu năm nay, trong Lời nói đầu cũng của sách trên; trên tạp chí Thơ số tháng 11/2015 trang 53 đều không dẫn xuất xứ câu Truyện Kiều còn, tiếng ta còn. Tiếng ta còn, nước ta còn; lại gán cho các nhà học giả hồi đầu thế kỷ… Nói theo luật xuất bản và thông lệ nghiên cứu khoa học, như thế là đạo văn.

Tu-trai-sang---Ho-Dac-Khai-Pham-Quynh-Thai-Van-Toan-Ngo-Dinh-Nhiem-Bui-Bang-Doan
Từ trái sang: Hồ Đắc Khải, Phạm Quỳnh, Thái Văn Toản, Ngô Đình Diệm, Bùi Bằng Đoàn.

Chủ tịch Hội Kiều học, trên Nhân Dân cuối tháng số tháng 11/2015 nói đó là câu tổng kết, đánh giá hay nhất về Tiếng Việt từ trước tới nay. Giáo sư Nguyễn Đình Chú trên tạp chí Cõi người ta, tập I, tr.145 do Phong Lê chủ biên. Hội Kiều học và NXB Hồng Đức ấn hành quý I/2016 cho rằng câu nói đó là hoàn toàn chân lý (sic). Trong khi ý cụ Thượng chỉ muốn nói là nước ta còn. Nghiên cứu như vậy là không nghiêm túc. Chỉ suy luận chủ quan mà không dựa trên căn cứ khoa học, là các văn bản của Cụ Thượng về chủ đề Nước ta còn.

Các trường hợp đạo văn, dù biện luận hay ho đến đâu, cũng không đáng bàn. Nên chỉ trao đổi với các giáo sư Nguyễn Đình Chú và Phong Lê.

Hai vị Giáo sư nói trên và một số người khác khi nói đến Nguyễn Du, Truyện Kiều, tiếng Việt thường chỉ dẫn câu nói của Cụ Thượng ở buổi lễ kỷ niệm Nguyễn Du năm 1924 tại Hà Nội mà dẫn không đủ văn cảnh. Nghĩa là cắt xén lắm. Nguyên đoạn văn Cụ nói thế này: Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, Tiếng ta còn, nước ta còn, có gì mà lo, có gì mà sợ, có điều chi nữa mà ngờ. (Bài diễn thuyết bằng quốc âm. Nam Phong số 86 tháng 8/1924. Xem Tranh luận về Truyện Kiều. Nguyễn Ngọc Thiện – Cao Kim Lan biên soạn. NXB Văn học. H.2012, tr.12). Nhưng trước đó, năm 1919, Cụ có bài khảo cứu về Truyện Kiều, thâm lắm. Cụ chọn in vào Thượng Chi văn tập. Xin trích một đoạn:

“Bao giờ bán đảo Đông Dương này còn có người Việt Nam ở, người Việt Nam còn biết nói tiếng Việt, thì Truyện Kiều còn có người đọc, Truyện Kiều còn có người đọc thời cái hồn cụ Tiên Điền còn phảng phất mãi trong sông núi đất Việt Nam không bao giờ mất được”.

(Truyện Kiều. Thượng Chi văn tập, NXB Văn Học, H.2006, tr.573)

Thiết tưởng đó mới là câu nói hay nhất của cụ Thượng về Truyện Kiều và tiếng Việt, mà theo khoa logic biện chứng, là sâu sắc thâm thúy lắm. Còn đất nước còn con người Việt Nam, còn tiếng Việt thời mới còn sự đọc Kiều, thời hồn cụ Tiên Điền mới sống mãi với non sông đất nước. Các nhà khảo cứu chưa thâm về triết học và lịch sử không thấm được câu nói này của Cụ Thượng, nên thường không nhắc đến.

Tới năm 1924, Cụ Thượng lại đưa ra tư tưởng mới Truyện Kiều còn – Tiếng ta còn thì nước ta còn. Về logic hình thức chỉ là lật lại câu nói năm 1919, như ta thường nói, lật đi lật lại vấn đề. Nhưng vì câu nói khéo quá, hùng biện lắm, còn hơn rót mật vào tai, nên những đôi tai ưa ngọt tâm đắc lắm.

Nếu chỉ có thế, thì chả nên chuyện gì. Thì mắc cười cho các giáo sư Chú và Lê quá. Lại đi biện biệt những là mất gì cũng có thể giành lại được, chứ mất tiếng nói, mất ngôn ngữ là mất hết, vĩnh viễn… mất. Rồi là vào thời điểm đó (1924) không tránh khỏi tranh cãi gay gắt nhưng nhìn vào hành trình dài của lịch sử, nó cũng có một phần sự thật. Chỗ này, Năm Châu Đốc khó xử quá. Không nói ra là hiểm. Mà nói ra cái câu Không có mật làm sao vào được tai các Thầy (Trung ngôn nghịch nhĩ)… Nhưng nghĩ đến bạn đọc, không đành, phải nói.

Cái hoàn toàn chân lý của Thầy Chú nó thấm đượm chất AQ quá! Ta còn ngôn ngữ, ta còn tiếng nói, Ta còn… phập! Phập! Phập!… Á chà! Chúng nó không biết điều, lại dám đưa cụ Nguyễn Thái Học và các đồng chí của cụ lên tận Yên Bái. Này! Ta vẫn còn tiếng nói. Ta không còn nói được nữa (Phập!) thì đồng bào của ta sẽ nói: Nhắn cho đám Nghị Quế, Nghị Lại, Nghị Hách… biết điều nhá… Nhà ta vẫn còn bài vị. Nợ nần thì cháo húp quanh năm… Ta không quỵt của chúng mày đâu! Phập!

Chân lý của Thầy Chú, phương chi như thế. Nó lộn ngược với lịch sử dân tộc. Bởi từ khởi nguồn đến nay là cuộc trường kỳ đấu tranh giành chủ quyền chánh trị – độc lập dân tộc – chứ không phải ngôn ngữ chưa mất nên nước ta vẫn còn hoặc vẫn có cơ giành lại được. Chỉ vị hao xương tổn máu thôi! Nhưng sá gì. Tiếng nói, ngôn ngữ mới là… tất cả. Mấy xứ châu Phi thuộc Tây Ban Nha, thuộc Anh, thuộc Pháp… họ không hiểu được học thuyết của GS Chú. Họ bảo mất tiếng nói, mất ngôn ngữ còn có thể lấy lại được, như đi học ngoại ngữ ý mà. Nhưng đã mất chủ quyền quốc gia, mất nước, thành nô lệ, khổ lắm. Tổ tiên chúng tôi bị mua đi bán lại ngoài chợ nô lệ như con vật, có còn là con người nữa đâu (Xem Túp lều bác Tôm).

Còn cái thời điểm của Thầy Phong Lê? Hóa ra Cụ Thượng còn non kém lắm, chưa biết đường ăn nói, lại dám cầm đèn chạy trước phong ba. Để đến bây giờ hẵng nói có phải hơn không! Cụ thông kim bác cổ sao còn dại thế. Chẳng bù cho cái anh ký giả Lê Phong phóng viên đích tôn cụ Thứ Lễ, biết ăn biết nói đủ gói mang về… Giáo sư thỉnh giảng, Trưởng viện này, Chủ tịch hội kia… Có khi cụ chưa thâm về Kinh Dịch cũng nên. Khổng Tử dạy: Thời thế chưa thông mưu đồ vô ích! Nhưng kẻ sĩ mà chờ thời lại thành ra đám đầu cơ, chờ cho đục nước, chỉ biết xu cái thời, hoạt cái đầu… Thông với Chờ khác nhau lắm! Xưa nay người đời… Vậy phải hiểu lời Cụ Thượng như thế nào?

Năm 1919 cụ Khảo về Kiều như thế, năm 1924 cụ lại nói về Kiều như thế. Đọc qua thì như chuyện lộn đầu ông Hêghen. Nhưng quan hệ về nội dung không phải vậy.

Ta biết Cụ Thượng giỏi tiếng Pháp. Cụ lại là Chủ bút Nam Phong, được quan Toàn quyền, quan Chánh sở Cẩm tin cậy. Vậy thì có chuyện gì mà Cụ không biết. Như cái bản yêu sách của Cụ Nguyễn Ái Quốc gửi tới Hội nghị Versailles năm 1919. Đến năm 1922 cụ Phạm sang Pháp dự Đấu xảo thuộc địa, vừa nghiên cứu, thăm thú, trước sau cả 4 tháng trời. Trong thời gian ở Paris, có gặp gỡ với các cụ Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn Ái Quốc, Lê Thanh Cảnh… bàn chuyện quốc sự. Về cuộc gặp gỡ này, Cụ Lê Thanh Cảnh có thuật lại. Tài liệu lưu ở Trường Quốc học Huế (Xem Ngọn cỏ gió vờn, Xuân Ba. NXB Hội Nhà văn, 2014). Hai năm sau, năm 1924, Cụ Nguyễn Ái Quốc đưa ra Bản án chế độ thực dân Pháp in bằng tiếng Pháp, xuất bản ở Paris. Làm sao chủ bút Nam Phong không biết. Cụ biết cả đấy. Ngày ở Paris, Cụ đến thăm bạn là Bộ trưởng Thuộc địa Saraut. Đi xem Nghị viện Pháp nhóm họp. Đến Viện Hàn lâm (Ban luận lý – chánh trị) nói chuyện đến 15 phút… thì cái bản sách Bản án… bằng tiếng Pháp làm sao lại qua mắt Cụ được. Cụ trước sau là nhà chánh trị thâm thúy. Cụ xem làm nhà báo là làm chánh trị:

“Nhà báo không những là có thể giúp cho chính trị hiện thời, mà lại còn có thể mở đường cho chánh trị tương lai nữa” (Nghĩa vụ nhà làm báo. Thượng Chi văn tập…, tr.70).

“Nhà báo phải định một chương trình phân minh, lập một chủ nghĩa nhất định, rồi cứ thi hành cái công “giáo dục” theo một chương trình, chủ nghĩa ấy” (Thượng Chi…, tr.68).

“Nhờ công khai hóa của Bảo hộ, có một số người ở các nơi thành thị, học tập các trường Tây, giao tiếp với người Tây, cũng đã tạm có chút ít trí thức tân thời. Nhưng chẳng qua là một thiểu số mà thôi. Còn phần nhiều người trong quốc dân, trình độ cũng còn kém lắm, chưa hiểu được chính sách mới, chưa rõ sự lợi hại của mình, chưa lý hội được những sự mưu toan của chính phủ thế nào. Vậy thì cái nhiệm vụ tối thiết của các nhà báo hiện nay là phải làm người đứng giữa mà giải bài ban bố những công việc của chính phủ cho cái phần đông người đó được biết, cùng thay mặt quốc dân mà trình bày cho chính phủ rõ chân tình trong nước và những điều sở nguyện của dân” (Thượng Chi văn tập, sđd., tr.69).

Câu “Truyện Kiều còn… nước ta còn” chính là cái “chân tình” trong nước Cụ muốn diễn ra cho mọi người cùng thấu, theo cái chương trình, chủ nghĩa của Cụ.

Những “chân tình” mà Cụ thấy được, cảm được từ khi ra làm Chủ bút Nam Phong, đến khi sang Paris, đến khi trở về đến tiếng bom Sa Điện của Phạm Hồng Thái (1923), đến năm 1924, cho đến năm 1929 nó như thế nào, Cụ đã trình bày cho chính phủ rõ, rất rõ, trong một bài báo, một thiên tiểu luận viết bằng tiếng Pháp, Cụ nhận thấy phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc đang lớn mạnh, đang thành một cuộc cách mạng, cụ đã cảnh báo và nêu ra phương thức đối phó cho chính phủ. Như thế này:

“Thực tế là giới trí thức nước Nam cho tới tận gần đây vẫn luôn thù địch với trật tự mới. Ban đầu họ đứng ngoài các cuộc nổi dậy do các thủ lĩnh băng đảng xuất thân bình dân phát động, nhưng rồi họ cũng tham gia vào con đường cải cách đáng kể từ sau khi Trung Quốc bị Nhật Bản đánh bại năm 1894. Những cuốn sách của các nhà cải cách Trung Quốc như Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu… đã ảnh hưởng sâu sắc đến giới trí thức cũ chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa trong suốt 20 năm, từ 1895 đến 1914. Lúc đó nhiều trí thức đã chạy sang Trung Quốc và Nhật Bản và tất cả các sự kiện xảy ra trong thời kỳ này, đặc biệt là các sự kiện năm 1897, 1908, 1913, đều có sự kích động ít nhiều trực tiếp của các trí thức lưu vong ở nước ngoài.

Chủ nghĩa dân tộc của người nước Nam có những gốc rễ sâu xa từ ngay trong lòng đất nước này, và hoàn cảnh mới đã tạo cho nó một sức mạnh mới. Nó đang trải qua một cuộc cách mạng có thể dẫn nó đi vào hai con đường khác hẳn nhau: một con đường thứ nhất – nếu có thể nói như vậy – là một sự kết tinh của chủ nghĩa ái quốc nước Nam nhằm thực hiện một lý tưởng tiến bộ, thịnh vượng và độc lập qua các giai đoạn được sắp xếp khôn khéo và thận trọng, và một con đường thứ hai là chủ nghĩa dân tộc ấy sẽ liên minh với các luận thuyết cực đoan, mà các dấu hiệu tiên báo đã được bộc lộ rõ ràng và chúng có thể cho ta đoán biết trước những hậu quả không thể lường cho hết được.

Lái cho cuộc cách mạng này theo hướng phù hợp nhất với lợi ích của chúng ta, không để nó chệch sang các hướng ngược lại, là việc hoàn toàn do các nhà cầm quyền của chúng ta quyết định. Định hướng chủ nghĩa dân tộc nước Nam, để bắt nó phục vụ sự nghiệp tiến bộ, cũng là việc hoàn toàn do họ quyết định. Cần phải làm gì để đạt được điều này?

Cần phải làm sao cho người nước Nam không còn có cảm giác họ là những người xa lạ trong Tổ quốc của chính họ, họ phải có cảm giác rằng họ đã không mất Tổ quốc này, và bằng cách ra sức củng cố trật tự hiện nay, họ phấn đấu cho sự thịnh vượng hôm nay và cho sự lớn mạnh của Tổ quốc trong tương lai.

Đây là thời điểm quyết định. Một quyết định khó khăn cần phải được đưa ra. Không biết các nhà lãnh đạo của chúng ta có khả năng đưa ra quyết định này không? (1929)

(Chủ nghĩa dân tộc. Tiểu luận viết bằng tiếng Pháp trong thời gian 1922-1932. NXB Tri thức, H.2007, tr.334-338).

Cụ Thượng là nhà chánh trị có tầm nhìn xa trông rộng. Vì chỉ một năm sau, năm 1930, những sự kiện ở Thái Bình (Bắc kỳ), Phú Riềng (Nam kỳ), Nghệ Tĩnh (Trung kỳ), Yên Bái (Thượng du Bắc kỳ)… đã chứng tỏ Cụ Thượng là một nhà chính trị tầm mức như thế nào!

Vì vậy, lập luận của các ông Phạm Thế Ngũ chỉ nên nghiên cứu Phạm Quỳnh nhà văn – nhà báo trước 1932 (Việt Nam văn học sử yếu giản ước tân biên) và Trần Văn Chánh cho rằng Phạm Quỳnh là nhà chánh trị đầy mộng tưởng, Ông chỉ là nhà học giả giỏi chứ không có năng khiếu sở trường sở thích của một nhà chánh trị (Lời giới thiệu Phạm Quỳnh và Thượng Chi văn tập. Thượng Chi văn tập, sđd, tr.12-13) là không đúng đắn, không nghiêm túc khoa học. Vì con người học giả – con người văn hóa và con người chánh trị Phạm Quỳnh là rất thống nhất. Không thể hiểu được nhà văn hóa – học giả Phạm Quỳnh nếu không hiểu được nhà chánh trị Phạm Quỳnh và ngược lại. Mặt này là thể hiện của mặt kia. Trong đó, như cách nói của Phật giáo, mục đích chính trị mới là cứu cánh của cụ Phạm, còn văn hóa chỉ là phương tiện. Lại cũng phải thấy công phu “trăm rèn nghìn đúc” về văn hóa đã ảnh hưởng đến sự hình thành con đường chánh trị của Phạm Quỳnh. Cụ Phạm tiếp thu kinh Coran của đạo Hồi như thế này:

“Trong kinh Coran của đạo Hồi có một lời tuyệt ngôn thật là hợp với lẽ thực thiên cổ. Lời rằng: “Trong bọn tôi tớ nhà ngươi, có kẻ nào biết làm đơn xin ngươi giải phóng, thì ngươi xét có xứng đáng nên giải phóng cho nó. Thượng đế đã cho ngươi những của báu ở đời, ngươi cũng nên để lại cho kẻ khác được hưởng đôi chút.

Tưởng không có lời nào thấu triệt được tâm lý người ta, cảm giác được tính cách cao thượng của loài người bằng đó. Ừ, thật thế, không những quyền tự do của những kẻ làm tôi tớ, mà hết thẩy quyền tự do ở đời, không phải ở kẻ làm thầy làm chủ muốn cho hay không cho mà được, không phải ở luật pháp rộng rãi khéo khoan dung cho người ta, thực là ở cái chí của kẻ bị kiềm chế vậy. Nói rằng hễ biết làm đơn xin thì sẽ xét cho, nghĩa là trước hết phải học cho biết viết đã, phải cố gắng cho tới cái địa vị làm người tự do, biết trách nhiệm nặng nề của sự tự do, biết bổn phận của mình, bấy giờ chí mình đã quyết, thì quyền tự do của mình có còn ai lấy được” (Lời văn đẹp, tư tưởng hay. Thượng Chi văn tập, sđd., tr.271).

Tư tưởng học thuật đó đã chuyển hóa thành đường lối, hành động của cụ Phạm.

“Vấn đề quan trọng nhất trong nước ta hiện nay là vấn đề Văn quốc ngữ. Vấn đề ấy có giải quyết được thì sự học mới có thể tấn tới, dân trí mới có thể mở mang, cuộc tiến hóa sau này mới có thể mong mỏi được.

(Văn quốc ngữ. Thượng Chi…, sđd., tr.58)

Cụ viết bài này năm 1917. Người Pháp không theo đạo Hồi. Dù Cụ Phạm đã đưa đơn nhiều lần, tiêu biểu là Thư gửi Ngài Tổng trưởng Thuộc địa (1931). Nhưng quyền tự do của cụ và đồng bào Cụ vẫn bị người Pháp lấy mất. Đây là bi kịch của Cụ Phạm, nhưng phải nói trong một bài khác. Bài này chỉ cốt giúp bạn đọc thấy rõ, có sở cứ chắc chắn, Cụ Phạm là nhà chánh trị – học giả. Không thể tách hoạt động văn hóa ra khỏi tư tưởng chánh trị của Cụ. Câu nói năm 1924, Truyện Kiều còn, tiếng ta còn. Tiếng ta còn, nước ta còn… phải xét trong mối quan hệ với các trước tác của cụ từ 1917 đến 1929, đặc biệt là thiên tiểu luận “Chủ nghĩa dân tộc” như trích dẫn trên. Câu nói đó nhằm mục đích làm cho quốc dân có cảm giác họ đã không mất Tổ quốc này. Nước ta vẫn còn, có điều gì mà lo, có điều gì mà sợ, còn điều chi nữa mà ngờ. Thế thì cần gì phải đấu tranh, phải cách mạng, phải bạo động nên cần tránh xa các luận thuyết cực đoan… Vào năm 1924 mà nói như thế chẳng là siêu ngụy biện hay sao!

Định hướng chủ nghĩa dân tộc nước Nam… Đó là một phần trong mục đích của cụ Phạm. Tài bồi cho quốc văn hay tôn vinh Nguyễn Du và Truyện Kiều và Tiếng ta và Nước ta… là nằm trong định hướng đó. Vì vậy cần khẳng định lại một lần nữa: câu Truyện Kiều còn tiếng ta còn, Tiếng ta còn nước ta còn… là một tuyên ngôn văn hóa theo định hướng chánh trị. Cần nói rõ ra như thế để không bị lầm dù vô tình hay cố ý!

Núi Sam
tháng trọng, Xuân Bính Thân

Năm Châu Đốc
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 398

Ý Kiến bạn đọc