Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Những mệnh đề của thời đại

 

Sự bình luận của chúng tôi được gợi ý từ các luận điểm sau:

1/ Độc lập là cần nhưng có thể trước có thể sau. Vấn đề Dân sinh (Dân trí, Dân khí…) phải đi trước. Con đường của Phan Châu Trinh mới là đúng đắn. Đó là luận điểm cơ bản của nhà văn Nguyên Ngọc được nhắc đi nhắc lại rất nhiều lần.

2/ Con người bản thể: Marx mới nói đến con người xã hội – là tổng hòa các mối quan hệ xã hội – mà chưa nói đến con người bản nguyên, sinh học. Cần phải bổ sung cho Marx bằng con người bản thể. Đó là luận điểm của PGS. Phạm Quang Long. (Văn Nghệ, số 29, ngày 27-7-2019).

3/ Thời đại ngày nay là thời đại của con người cá nhân. Giáo dục phải hướng tới con người cá nhân. Đó là luận điểm của GS. Hồ Ngọc Đại.

4/ Lý luận văn nghệ Mác-xít đã trở nên bơ vơ không còn nơi nương tựa. Lý luận văn học Nhà nước (ở Việt Nam) đã trở nên mất thiêng. Văn hóa không có trung tâm mà chỉ có trên đường biên, ở ngoại biên. Lý luận văn học cũng vậy. Chức năng đối tượng của văn học bây giờ là khám phá cái khả năng, cái khả nhiên… Đó là luận điểm của GS. Trần Đình Sử.

5/ Cuối cùng đưa đến hậu quả: cái riêng của văn hóa dân tộc vẫn còn rất mù mờ. Đó là luận điểm của GS. Phong Lê, nguyên Viện trưởng Viện Văn học. Văn Nghệ số 16, ngày 20-4-2019.

Bởi tính thực tiễn rất quan trọng của các luận điểm trên, chúng tôi thấy cần thiết phải trao đổi với các tác giả và mong nhận được sự chỉ giáo của bạn đọc.

*
+ Luận điểm của nhà văn Nguyên Ngọc đưa đến hệ quả là độc lập dân tộc, quyền tự quyết của dân tộc, chủ quyền lãnh thổ của dân tộc… không quan trọng bằng vấn đề dân sinh, khai dân trí, chấn dân khí. Luận điểm này dẫn đến tư tưởng cho rằng công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc bằng bạo lực là sai lầm, hao xương tổn máu vô ích, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh là sai lầm, lạc hướng (từ 1920). Con đường của Phan Châu Trinh mới là đúng đắn. Tư tưởng này dẫn đến những hành động hiện thực trong văn hóa và văn học – nghệ thuật. Những nhân vật lịch sử chủ trương bất bạo động, hợp tác với thực dân xâm lược, kêu gọi Pháp – Việt đề huề… được tôn vinh là Danh nhân văn hóa Việt Nam thời hiện đại như Phạm Quỳnh hay Trương Vĩnh Ký… Về văn học – nghệ thuật, là chuyển giá trị sang hướng phản chiến một cách chung chung, như Nỗi buồn chiến tranh; thê thảm hóa cuộc chiến tranh bảo vệ nhân quyền, nhân đạo… như Miền hoang viết về cuộc chiến ở Campuchia. Quyển sách này được GS. Trần Đình Sử và PGS. Lã Nguyên ca ngợi là độc sáng. Và Nguyên Ngọc – chủ chốt trong Giải thưởng Văn hóa Phan Châu Trinh trao giải Sách hay (2016). Về giáo dục, chủ trương đào tạo con người phản tư (Đại học Phan Châu Trinh)…

So-588--Anh-minh-hoa---Nhung-menh-de-cua-thoi-dai---Anh-1

Luận điểm của nhà văn Nguyên Ngọc là phản khoa học từ trong bản chất. GS. Trần Đức Thảo khi nghiên cứu về ngôn ngữ tiền sử đã cho rằng đất đai là tài sản thiêng liêng của cộng đồng bộ tộc bộ lạc cho đến dân tộc. Đấu tranh giành lại đất đai bị cướp là quyền thiêng liêng, chính đáng (Triết gia Trần Đức Thảo. NXB Đại học Huế. 2016). Đó cũng chính là bản chất của lịch sử từ cổ đại đến nay. Các cuộc xâm lược từ xưa tới nay đều trước hết nhằm xâm chiếm lãnh thổ. Khi con người, từ cá nhân đến cộng đồng dân tộc mà không có chủ quyền đất đai, lãnh thổ thì không còn quyền sống trên mảnh đất đó. Con người không có mảnh đất cắm dùi (tục ngữ), thì chỉ có thể sống trong nô lệ. Mà sống trong nô lệ thì đi học, khai dân trí, chấn dân khí… như thế nào nhỉ. Ngay đã có dân trí rất cao mà mất độc lập dân tộc, mất chủ quyền quốc gia thì sẽ thế nào? Đại danh y Tuệ Tĩnh và đại kiến trúc sư Nguyễn An đã trả lời cho câu hỏi đó. Cũng như vậy, Hốt Tất Liệt trong nhiều chiếu chỉ đòi vua nhà Trần phải sang chầu, kèm theo những người tài mỗi thứ (mỗi lĩnh vực) là mấy người (Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên – Mông thế kỷ XVIII. Hà Văn Tấn… NXB Hồng Đức. 2019).

Thời Pháp thuộc, “dân trí” đến như GS. Tôn Thất Tùng mà bị khinh miệt như thế nào và ông đã đi theo Cụ Hồ kháng chiến để giành lại độc lập tự do như thế nào! (Đường vào khoa học của tôi. GS. Tôn Thất Tùng). Pháp – Nhật cướp thóc lúa. 2 triệu người Việt chết đói năm 1945. Vậy khai dân trí thế nào? Và lịch sử Việt Nam từ thời Bắc thuộc tới nay chủ yếu là lịch sử chống ngoại xâm.

Trong lĩnh vực sáng tạo văn học – nghệ thuật, các văn nghệ sĩ đều khẳng định tự do là điều kiện sống còn của sáng tạo. Một cá nhân còn như thế thì cả quốc gia, dân tộc sẽ như thế nào? Cả nền văn hóa, văn học – nghệ thuật sẽ như thế nào! Dân tộc bị nô lệ thì văn hóa cũng mất tự do (Hồ Chí Minh).

Nói tóm lại, luận điểm hay quan điểm về lịch sử – văn hóa của Nguyên Ngọc là phản khoa học từ trong bản chất, từ lí thuyết cho đến thực tiễn. Điều đó chúng tôi đã nói đến rất nhiều lần từ những năm 80 (thế kỷ trước) đến nay. Chúng tôi trân trọng tuổi tác và công lao của nhà văn Nguyên Ngọc suốt hai cuộc kháng chiến cứu nước, mà đỉnh cao là thiên tùy bút Đường chúng ta đi (1966). Trong thời kỳ mới, nếu tư tưởng của ông rẽ sang một hướng khác, là quyền tự do của ông. Ông là con người có tư duy độc lập, năng động và quyết đoán, là những phẩm chất rất quí của nhà trí thức. Song, sự năng động, quyết đoán dù mãnh liệt đến đâu cũng chỉ có giá trị khi nó phản ánh đúng qui luật của đời sống, đáp ứng được những đòi hỏi hợp qui luật của cuộc sống. Không có mảnh đất cắm dùi (độc lập tự do) thì cụ Phan và nhà văn Nguyên Ngọc định xây tòa lâu đài văn hóa như thế nào? Đây là tất cả vấn đề.

+ Luận điểm của GS. Hồ Ngọc Đại và PGS. Phạm Quang Long chỉ là sự vận dụng (trích dẫn) những tư tưởng của Marx một cách sơ lược, phiến diện. Các mệnh đề Con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội và Tôi là con người, không cái gì thuộc về con người là xa lạ đối với tôi có thể nói, là cơ sở, nền tảng cho khoa học xã hội và nhân văn của nhân loại. Từ sau Marx (1883), đến nay và lâu dài về sau. Dĩ nhiên là một nhân loại hướng tới con người toàn diện – hài hòa – tự do. Không phải nhân loại miệng nói dân chủ tay thủ siêu bom, siêu tên lửa, siêu hàng không mẫu hạm và siêu lợi nhuận.

Chúng tôi được củng cố thêm niềm tin khi biết rằng, trong quá trình giải “huyền thoại Bakhtin”, giới khoa học Nga và thế giới, trong khi tìm lại quyền tác giả chính đáng cho Voloshinov và Medvedev, đã nhận ra rằng các công trình Chủ nghĩa Freud… (1927) và Chủ nghĩa Marx và triết học ngôn ngữ (1929) của Voloshinov là sự phát triển sáng tạo tư tưởng của Marx về con người. Và chính Lucien Sève, nhà triết học đương đại Pháp, cho rằng Marx là nhà tư tưởng về cá tính con người (Xem Ngô Tự Lập: Triết học ngôn ngữ Voloshinov. Một số vấn đề học thuật hậu huyền thoại Bakhtin. NXB Thế giới. H.2020).

Mong rằng các giáo sư, nhất là PGS. Phạm Quang Long, hãy nghiên cứu đầy đủ hơn về Marx để tiếp thu đúng đắn di sản của Người.

+ Chúng tôi muốn lưu ý nhiều hơn đến các luận điểm của GS. Trần Đình Sử.

Trước hết, nếu ông có tinh thần khách quan, trung thực, nhất quán khoa học thì có lẽ không có những luận điểm trên.

Về sự tiếp thu Bakhtin. Có thể nói toàn bộ lí luận của GS. Trần Đình Sử là tiếp thu của Bakhtin, từ Thi pháp… đến lí thuyết ngoại biên. Sẽ là bình thường trong học thuật nếu không có Voloshinov và Medvedev là những người phát triển tư tưởng của Marx mà Bakhtin là người thừa hưởng lại hay đã đoạt lại của Voloshinov và Medvedev. Thế thì không có cơ sở để nói lí luận văn nghệ Mác-xít đã bơ vơ không còn nơi nương tựa. Và cũng không cần nói đến công trình của các tác giả trên. Chỉ cần suy ngẫm về hai mệnh đề của Marx về con người như đã nói trên, thì dù chống Marx hay theo Marx, người ta cũng không thể phủ nhận được giá trị lí luận của Marx.

Cũng như thế, hãy nhìn lại “lí luận Nhà nước”. Nếu tư tưởng dân tộc – khoa học – đại chúng (tính nhân dân); nếu chức năng phò chính trừ tà, khuyến thiện trừng ác, soi đường cho quốc dân đi (Hồ Chí Minh) đã mất thiêng, thì nền văn hóa Việt Nam hiện nay phải đi theo hướng nào. Giáo sư noi theo Bakhtin rằng văn hóa không có trung tâm, rằng lí luận văn học chỉ có trên đường biên, tồn tại trên đường biên. Sao người ta dễ dàng tin Bakhtin thế nhỉ. Trình độ của nhân loại đến nay là chưa đạt đến một nền văn hóa chung cho toàn nhân loại. Do chưa xây dựng được quan hệ xã hội chung cho toàn nhân loại. Vẫn còn có học sinh không có bữa ăn trưa hay phải nướng con chuột làm thức ăn như ở điểm trường Thanh (Hướng Hóa – Quảng Trị) bên cạnh những học sinh học trường quốc tế đặc biệt học phí mấy trăm triệu / năm. Vẫn đang tồn tại những nền văn hóa khác nhau, dù có lịch sử sớm muộn khác nhau. Đã là một nền riêng thì phải có trung tâm của nó. Đó là tư tưởng, quan niệm văn hóa riêng độc đáo, chi phối toàn bộ nền văn hóa đó trong không gian và thời gian. Văn hóa Trung Hoa có tư tưởng, trung tâm của nó. Văn hóa Ấn Độ có trung tâm của nó. Văn hóa Việt Nam ít ra là từ Chiếu dời đô (1010) đến nay có tư tưởng trung tâm của nó. Nếu không có trung tâm cố kết được đời sống văn hóa, truyền thống văn hóa thì người Việt, văn hóa Việt đã bị Hán hóa từ đầu Công nguyên, và sau này, sẽ Gôloa hóa (Pháp hóa) nhờ những thiên tài “chói sáng” như Trương Vĩnh Ký (đồng hóa văn hóa Việt Nam theo văn hóa Pháp) hay Phạm Quỳnh, đặt cả sự giáo dục cho nòi giống vào tay người Pháp (Một vấn đề giáo dục cho nòi giống chúng tôi. Bài nói ở Viện Hàn lâm Pháp năm 1922. Tiểu luận bằng tiếng Pháp… NXB Tri thức. H.2007).

Về chính trị, Bakhtin là người chống Marx cực đoan. Về học thuật, như dẫn trên, ông ta cố gắng lẩn tránh Marx, xuyên tạc Marx. Nhưng lẩn tránh sao được khi Bakhtin chính là kết quả, là được sinh ra từ sự tổng hòa các mối quan hệ xã hội mà trước đó, cha mẹ, ông bà, dòng tộc của Bakhtin đã thụ hưởng.

Chúng tôi rất khâm phục sức đọc của GS. Trần Đình Sử. Có thể nói toàn bộ lí luận của ông là trích dẫn các tác giả nước ngoài. Biết nhiều biết rộng là thao tác nền của nghiên cứu khoa học. Nhưng tiếp nhận, gieo trồng trên cái nền đó mới là cứu cánh. Gieo vừng ra ngô đã là bất cập. Gieo Ngô ra Ngón thì không chết người nhưng chết phần hồn của con người. Nếu không chết thì cũng la lết bệnh này tật kia. Đấy là điều chúng tôi lo lắng về văn hóa – văn học ngoại biên.

+ Luận điểm của GS. Phong Lê là hậu quả của sự chao đảo, rối loạn về những tư tưởng nền của văn hóa và văn học. Cũng như các GS. Hồ Ngọc Đại, PGS. Phạm Quang Long, bình tĩnh, định thần, nhìn kĩ lại thì sẽ sáng ra thôi. Nghệ thuật nếu là tình thì nên là Tình già (Phan Khôi). Không nên là tình non để phải nhanh chân, vội vàng (Xuân Diệu).

*
Chúng tôi muốn tóm lại là, các mệnh đề của Marx (Con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội. Là con người thì không xa lạ với những gì thuộc về con người); của Hồ Chí Minh (Không có gì quí hơn Độc lập – Tự do. Văn hóa phải phò chính trừ tà, khuyến thiện trừng ác, soi đường cho quốc dân…) là những mệnh đề mang tính thời đại, có tầm thời đại. Thời đại hôm nay cho đến ngày bước tới Vương quốc của Tự do (Ăngghen). Các mệnh đề này chính là trung tâm của văn hóa, của lí luận văn học theo tinh thần Nhân văn và Khoa học.

Hà Nội, tháng 3-2020

Hà Ngọc Quang
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 588

Ý Kiến bạn đọc